Chủ Nhật, 17 Tháng Sáu, 2012

Nho Học giản dị

     Số1: Thái cực

     Theo Nho giáo, trời đất con người và vạn vật đồng một bản thể vì cũng được hấp thụ một phần thiên lý. Ban đầu vũ trụ là một khối hỗn mang trong đó có cái lý vô hình, độc nhất, tuyệt đối và linh diệu gọi là Thái cực. “Thiên hạ lo gì, nghĩ gì? Thiên hạ cũng đi vào một lối dẫu theo những con đường khác nhau. Trăm lo cũng quy về một mối”'(2). Trong bầu trời chỉ có một mặt trăng, nhưng dưới sông hồ chỗ nào cũng thấy có hình mặt trăng. Hiểu được lẽ giản dị ấy là hiểu được lý Thái Cực (Chu Tử). Vũ trụ điều hành do thiên lý. Từ triệu triệu năm, trái đất mặt trăng đều quay chung quanh mặt trời, mà không đụng phải mặt trời. Bốn mùa chuyển vận, vạn vật hóa sinh theo trật tự thiên nhiên. Bông lúa không nảy ra hạt đậu. Cây lê không nở ra hoa cúc cũng vì lẽ ấy. Con người đứng chênh vênh trên mặt địa cầu mà không rớt vào cõi hư không cũng vì lý ấy.

     Số 2: âm dương

     ''Một âm một dương gọi là Đạo''(3). Thái cực phát hiện do hai thực thể khác biệt (lưỡng nghi), tương sinh tương khắc gọi là âm và dương. Dương là động, âm là tĩnh. Dương lên đến cực độ biến thành âm. Âm lên đến cực độ biến thành dương. Trong dương có một phần âm và trong âm có một phần dương, âm dương tương đối và điều hòa với nhau mà biến hóa thành vạn vật. Âm dương là đạo sinh thành và đạo quân bình của trời đất.

     Âm dương lập thành thiên đạo

     Cương nhu lập thành địa đạo

     Nhân nghĩa lập thành nhân đạo

     Số 3: Tam tài thiên-địa-nhân (ba ngôi trời, đất, người)

     ''Người là cái đức của trời, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của thần linh, là cái khí tinh túy của ngũ hành'' (4). Nhờ có tinh thần linh diệu và khí chất tinh túy, con người linh hơn vạn vật nên sáng suốt hiểu rõ vạn vật. Cùng với trời đất, người được giữ địa vị tôn quý trong vũ trụ trong ba ngôi tam tài thiên-địa- nhân.

     Số 4: Tứ tượng (bốn hình tượng)

     Hai thực thể âm dương (lưỡng nghi) sinh ra tứ tượng là thiếu âm, thái âm, thiếu dương, thái dương. Thái âm lên đến cực thịnh sinh ra thiếu dương. Thái dương lên đến cực thịnh sinh ra thiếu âm. Số 4 còn thông dụng trong nho giáo với Tứ thư (Đại học, Luận Ngữ, Trung Dung, Mạnh Tử), Tứ đức (hiếu, để, trung, kính; cần, kiệm, liêm, chính; công, dung, ngôn, hạnh) hay Tứ dân (sĩ, nông, công, thương).

     Số 5: ngũ hành: kim mộc thủy hỏa thổ

     Ngũ hành là năm chất : sắt, cây, nước, lửa, đất. Năm chất này tương sinh tương khắc với nhau theo luật âm dương mà biến hóa thành vạn vật.

     Tương sinh : đất che sắt; đất nuôi cây; nước tưới cây

     Tương khắc : nước tắt lửa; sắt đẽo cây; lửa đốt cây. Số 5 còn thông dụng trong Nho giáo với ngũ kinh : Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu; ngũ thường (5 đức : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín); hay ngũ luân (5 tương quan) cha con, vợ chồng, anh em, bạn hữu và vua tôi (ngày nay là công nhân và nhà nước).

     ''Khổng tử thuật đạo Nghiêu Thuấn, theo phép Văn Vũ, trên thuận thiên trời, dưới hợp thủy thổ'', Khổng tử theo lẽ điều hòa của trời đất, lấy hành vi và tư tưởng của cổ nhân để lập nên đạo nhân sinh triết học nhằm giáo hóa con người và cải tạo xã hội. Chủ trương của Nho giáo là theo thiên lý mà hành động, giữ tình cảm cho hậu, trọng điều nhân nghĩa, giữ tính chất phác, làm việc giản dị. Về mặt kiến thức, Nho giáo đề cao cách vật (hiểu đến chỗ uyên thâm của sự vật) và lý trí (biết đến chỗ cùng cực của vạn vật). Về mặt tinh thần, Nho giáo khuyên con người phải có thành-ý và chính-tâm để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

     Nho học được giảng dạy trong bốn cuốn sách giáo khoa và triết học là Đại Học, Luận Ngữ, Trung Dung và Mạnh Tử. Đọc Đại Học để biết quy mô của đạo Nho, Luận Ngữ để hiểu biết căn bản, Trung Dung để tìm hiểu quân bình và Mạnh Tử để mở mang đạo học. Khi đã hiểu được bốn cuốn sách đó thì mới cần học ngũ kinh để biết đạo thánh hiền.

     Sách đại học

     ''Đạo của bậc đại học là ở sự làm sáng cái đức sáng, ở sự thân dân, ở sự chí thiện''(6). Có biết đến cùng mới định, định mới tĩnh, tĩnh mới yên, yên mới tự lự, tự lự mới đạt. Vật có gốc ngọn, việc có đầu cuối, biết rõ trước sau là gần đạo vậy.

     Người xưa muốn làm sáng cái đức sáng trong thiên hạ, trước phải trị nước mình. Muốn trị nước mình, trước phải tề nhà mình. Muốn tề nhà mình, trước phải tu tâm mình. Muốn tu thân mình, trước phải chỉnh tâm mình. Muốn chỉnh tâm mình, trước phải thành ý mình. Muốn thành ý mình, trước phải biết đến chỗ cùng cực của vạn vật. Biết đến chỗ cùng cực của vạn vật là hiểu đến chỗ uyên thâm của sự vật.

     Hiểu đến chỗ uyên thâm của sự vật là biết đến chỗ cùng cực của vạn vật. Biết đến chỗ cùng cực của vạn vật thì ý mới thành. Ý có thành thì tâm mới chính. Tâm có chính thì thân mới tu. Thân có tu thì nhà mới tề. Nhà có tề thì nước mới trị.  nước có trị thì thiên hạ mới bình (thái bình).

     Từ vua tới dân ai cũng phải lấy đạo tu thân làm gốc (7). Nho giáo chủ trương theo thiên lý mà hành động, mà thiên lý thì lưu hành không nghỉ, như dòng nước chảy mãi không thôi. Âm dương đun đẩy nhau để tiến đến chỗ tương đối và điều hòa. Vì có tiến hóa nên phải đổi mới. Ngày đổi mới, mỗi ngày một thêm mới. (nhật nhật tân, hựu nhật tân). Mặc dầu vậy, gốc lớn của đạo vẫn không thay đổi. Do đó phải ôn lại cái cũ để biết cái mới (ôn cố tri ân).

     Sách luận ngữ

     Tăng tử và một số đồng môn thâu thập những lời giảng dạy của Khổng tử và soạn ra luận sách. Các môn sinh phải học thuộc lòng sách này từ thơ ấu. Đây là một kho giáo lý, kiến thức và kinh nghiệm được chứng nghiệm trong đời sống thực tế của từng người, giúp họ hiểu nghĩa rõ hơn với thời gian. Đây cũng là tấm gương xử thế để họ noi theo suốt đời.

     Luận ngữ có lẽ là cuốn sách giáo khoa phổ biến nhất trong lịch sử loài người. Nho giáo dạy ta trước phải học lễ rồi sau mới học văn : ''Người đi học, vào thì hiếu thảo với cha mẹ, ra thì kính bậc huynh trưởng, làm việc thì cẩn thận để gây niềm tin, thương mọi người và thân với người có lòng nhân. Được như vậy, nếu còn dư sức thì mới học văn''. Văn tức lục nghệ : lễ, nhạc, xạ (bắn), ngự (đánh xe), thư (biên chép), và số (kế toán) ( 8). ''Ngọc không rũa không thành đồ, người không học không biết đạo''(9). 'Ta thường ngày quên ăn, đêm quên ngủ để suy nghĩ, vô ích không cần học''(Khổng tử) (10).

     ''muốn nhân mà không muốn học thì ngu đần.

     muốn trí mà không muốn học thì phóng đãng.

     muốn tính mà không muốn học thì hại nghĩa.

     muốn trực mà không muốn học thì ương gàn.

     muốn dũng mà không muốn học thì loạn.

     muốn cương mà không muốn học thì cuồng. (11)

     Bể học thì mênh mông, ta có thể học bất cứ lúc nào, bất cứ người nào, người hay cũng như người dở. ''Hai người cùng đi với ta, tất có người làm thầy ta. Chọn người hay mà bắt chước. Gặp người dở thì coi đó mà sửa mình''. Đây là một trong những câu thâm thúy nhất trong tư tưởng loài người. (12)

     Về mặt nhận định và nghị luận, Phu Tử có bốn điều muốn tránh (tử tuyệt tứ ) : vô ý, vô tất vô cố, vô ngã.

     1) Vô ý là không đem ý riêng, định kiến vào việc gì, chỉ theo lẽ phải và tùy theo hoàn cảnh mà xét đoán hay hành động.

     2) Vô tất là không khẳng định rằng điều đó tất phải đúng hay việc đó tất phải làm được.

     3) Vô cố là không chấp cố, câu nệ hay thành kiến.

     4) Vô ngã là không để cái ta chủ quan trở thành độc tôn duy ngã. (Ý kiến của ta, chủ thuyết của ta, quyền lợi của ta, của phe ta).

     Vô tứ là tinh thần khách quan, khoa học để đạt tới cách vật và trí tri. Đó cũng là tinh thần cởi mở, bao dung, dân chủ cần thiết cho mọi cuộc thảo luận và mọi hành động theo lẽ phải và sự thực. Với tinh thần khiêm tốn và cầu tiến, người đi học phải thành thực với chính mình. Biết thì bảo là biết, không biết thì nhận là không biết, đó cũng là biết vậy'' (13). Học mà mỗi ngày mỗi thực tập, chẳng thích làm sao? Có bạn từ phương xa lại (để bàn bạc và thực tập) chẳng vui lắm sao? (14). Lấy văn họp bạn, rồi nhờ bạn giúp làm điều nhân (15). Học cho rộng, hỏi cho rõ, nghĩ cho kỹ, luận cho sáng, làm cho nên (16). Có điều không học, nhưng đã học điều gì không hiểu, không thôi. Có điều không hỏi (nghiên cứu), nhưng đã hỏi (nghiên cứu) điều gì mà không biết, không thôi. Có điều không nghĩ nhưng đã nghĩ điều gì không ra, không thôi. Có điều không luận, nhưng đã luận điều gì mà không sáng, không thôi. Có việc không làm, nhưng đã làm điều gì mà không nên, không thôi. Người dụng công một, ta dụng công một mà không được thì dụng công trăm. Người dụng công mười, ta dụng công mười mà không được, thì dụng công ngàn, cho đến kỳ được mới thôi. Như vậy thì ngu cũng thành sáng, yếu cũng thành mạnh''. Cái chí của người tu thân học đạo kiên cường như vậy, cho nên ''Có thể bắt được tướng trong ba quân, mà không đoạt được chí của kẻ thất phu''. (17)

     Chín mối ưu tư của người học đạo là :

     1) nhìn cho sáng

     2) nghe cho rõ

     3) sắc diện cho ôn hòa

     4) dung mạo cho khiêm cung

     5) nói điều trung thực

     6) làm phải kính cẩn

     7) nghi ngờ phải hỏi

     8) nổi giận phải nghĩ hậu quả

     9) thấy lợi phải nghĩ đến nghĩa (18).

     Về mặt xã hội thì : ''Vụ về làm việc nghĩa cho dân, còn quỷ thần thì kính mà đứng ra xa'' (19). ''Đem lại an vui cho người già, gây lòng tín với bạn, lấy lòng thương trẻ thơ'' (20). ''Không lo ít người mà lo không đều. Không lo nghèo mà lo không yên'' (21). Có một lời có thể áp dụng cho cả đời. Đó là chữ thứ (khoan thứ). ''Điều gì mình không muốn, thì đừng làm cho người'' (22). ''Đạo quân tử có ba điều mà ta làm không được một : có nhân mà không lo, có trí mà không lầm, có dũng mà không sợ''(Khổng Tử ). (23)

     Sách trung dung

     Trung hòa là đạo của trời, trung dung là đức của người. Trung là giữa, dung là thường, trung dung là đạo thường, không thái quá, không bất cập. Muốn theo trung dung thì hành vi tư tưởng phải hợp thời trung, việc làm phải hợp thiên lý. Do đó phải tìm biết ra cái trung chính, cái điều hòa, tùy thời thế, địa vị và hoàn cảnh mà hành động. Theo thiên lý chí công là trung dung, theo tư dục trái đạo lý là phản trung dung. Khổng Tử thường than rằng : Đạo trung dung khó lắm thay, đã lâu nay ít người theo được, vì người trí giả thì thái quá, kẻ ngu giả thì bất cập''. Chỉ có bậc thánh nhân là người có trí, nhân, dũng mới theo được đạo ấy. Trí để biết rõ sự lý, nhân để biết điều lành mà theo, dũng để có đủ nghị lực mà theo cho đến cùng. Thích học là gần trí, cố gắng làm việc thiện là gần nhân, biết liêm sỉ là gần dũng. Có ba đức ấy mới sửa được mình, trị được người và trị được quốc gia thiên hạ (24).

     Đạo trung hòa của trời che chở và thành tựu muôn loài. Đạo đó trường cửu, vô biên, chính đại và quang minh, ''không hiện mà rõ, không động mà biến, không làm mà thành'' (25).  Đạo của người là phải cố gắng học cho đến bậc chí thành. Thành là đạo trời, học cho đến bậc chí thành là đạo người. Phải học cho rộng, hỏi cho rõ, nghĩ cho kỹ, luận cho sáng và dốc lòng làm điều thiện. Như vậy ngu cũng thành sáng, yếu cũng thành mạnh, dần dần tiến đến chỗ chí thành. Bậc chí thành là bậc thánh, biết rõ tính của trời, tính của người và tính của vạn vật và có thể giúp vào sự hóa dục của trời đất.

     Người quân tử học đạo trung dung, xét từ cái nhỏ đến cái lớn, từ cái mờ đến cái rõ. Nước trị thì ''lời nói có thể hưng khởi được điều hay. Động có thể đời đời cho làm đạo cho thiên hạ. Hành vi có thể đời đời làm khuôn phép cho thiên hạ. Người ở xa thì trông mong, người ở gần thì không chán'' (26). Theo đạo này ''muôn vật cùng hóa dục mà không hại nhau, các đạo cùng thi hành mà không trái nhau'' (27). Khổng Tử có quan niệm bao dung về tín ngưỡng, không bài xích các đạo khác. ''Công kích các tôn giáo khác chỉ có hại cho đạo mà thôi'' (28). Vì thiên lý lưu hành không nghỉ, con người phải tùy thời mà hành động, không cố chấp, không vị ngã. Khi bàn đến các hiền nhân đời trước, người thì cương quá, người thì nhu quá, Khổng Tử nói : »Ta thì không thế, không có gì nhất định là nên, mà cũng không có gì nhất định là không nên » (vô khả, vô bất khả ). « Tùy thời thế, địa vị hoàn cảnh mà hành động. Phú quý thì hành động theo cảnh phú quý; bần tiện thì hành động theo cảnh bần tiện; ở nơi mọi rợ thì hành động theo cảnh mọi rợ; lâm hoạn nạn thì hành động theo cảnh hoạn nạn. Người quân tử không ở vào hoàn cảnh nào mà không thấy niềm vui » (29).

     Theo lời Mạnh Tử : Khổng Tử thấy nên làm quan thì làm quan, nên thôi thì thôi, nên lâu thì lâu, nên mau thì mau (30).

     Ông lại nói : Có khi nên lấy có khi không nên lấy, khi không nên lấy mà lấy là hại đến liêm khiết. Có khi nên cho, có khi không nên cho, khi không nên cho, mà cho là hại đến ơn huệ. Có khi nên chết, có khi không nên chết, khi không nên chết mà chết là hại đến cái dũng (31). Trong tác phong và cư xử, Khổng Tử khuyên ta nên giữ cả phần thành thực chất phác lẫn phần văn vẻ hoa mỹ : Chất thắng văn thì quê, văn chất thắng thì xảo, văn chất ngang nhau mới là quân tử (32).

     Bàn về tài năng và đức độ của các bạn đồng môn, Tử Hạ hỏi Khổng Tử : Nhan Hồi là người thế nào? Khổng Tử nói : Cái tin của Nhan Hồi hơn ta. Tử Cống là người thế nào? Cái nhanh của Tử Cống hơn ta. Tử Lộ là người thế nào? Cái dũng của Tử Lộ hơn ta. Tử Trương là người thế nào? Cái nghiêm của Tử Trương hơn ta. Tử Hạ ngạc nhiên hỏi : Thế sao bốn anh ấy lại phải đến học thầy? Khổng Tử nói : ở đây ta bảo : Ôi! Nhan Hồi biết tin mà không biết có khi phải xét lại, Tử Cống biết nhanh mà không biết có lúc phải chậm. Tử Lộ có dũng mà không biết có khi nên dè dặt (thận trọng). Tử Trương có nghiêm mà không biết khoan nhu để hòa đồng với mọi người. Gom tất cả những nết hay của bốn anh ấy mà đổi cái của ta, ta không thuận. vì thế bốn anh ấy phải thờ ta làm thầy. (Khổng Tử gia ngữ).

     Tử Lộ hiếu dũng đến hỏi thầy về sức mạnh, Khổng Tử nói : « Lấy khoan nhu mà giáo hóa, đối với kẻ vô đạo cũng không chủ trương báo thù, đó là sức mạnh của phương Nam » (33).

     Mạnh Tử và chính sách dân vi quý

    Sách Mạnh Tử nói về tâm tính con người và chính trị triết lý của Nho giáo. Dầu tôn trọng quân quyền, các Nho gia vẫn chủ trương lấy dân làm trọng. Vì con người được hấp thụ một phần thiên lý nên có tinh thần linh diệu và khí chất tinh túy để hiểu rõ đạo trời, đạo người và chân lý của vạn vật. « Lửa và nước có khí mà không có sinh. Cây cỏ có sinh mà không có biết. Muông chim có biết mà không có nghĩa. Con người có khí, có sinh, có biết, lại có nghĩa (nghĩa lý), nên coi là quý nhất trong thiên hạ » (Tuân Tử).

     Trong hàng ngàn năm chung sống trong xã hội, con người đã ý thức sự cần thiết của đạo hợp quần. « Người ta sức không bằng con trâu, chạy không bằng con ngựa, thế mà con trâu con ngựa phải phục vụ con người, là vì sao? Là vì con người biết hợp quần. Lấy định phận để hợp quần. Lấy nghĩa để giữ nhân thì trên hòa dưới hợp. Hòa hợp thì tăng sức mạnh, tăng sức mạnh thì thắng muôn vật » (Tuân Tử).

     Vì con người biết hợp quần thì xã hội cũng phải công nhận một thứ quyền tối cao để giữ kỷ cương và trật tự cho đoàn thể. Quyền tối cao này theo Nho giáo là quân quyền do một người giữ để trị nước, lo việc sinh hoạt, giáo dục và mở mang cho dân. Người giữ quân quyền gọi là vua, nắm giữ vận mạng của dân tộc. Việc chính trị hay dở đều do ở vua. « Quân gia là cái nguồn của dân. Nguồn trong thì dòng nước trong, nguồn đục thì dòng nước đục » (Tuân Tử). « Dân lấy vua làm tâm, vua lấy dân làm thể. Tâm nhờ thân thể mà toàn, và cũng vì thân thể mà nguy. Vua nhờ dân mà còn, cũng vì dân mà mất » (34). Chế độ quân chủ thích hợp với hoàn cảnh đời xưa. Một Minh Trị Thiên Hoàng bên Nhật cũng có công ngang với một Franklin Roosevelt bên Hoa Kỳ.

     Để có chính danh, Nho giáo chủ trương quân quyền là do mệnh trời mà ra. Tuy nhiên « Mệnh trời không nhất định cho ai, thiện thì được, bất thiện thì mất. Trời không thân riêng với ai, chỉ giúp người có đức » (35). « Thiên hạ trọng bậc nhân quân, thì bậc nhân quân cũng phải coi thiên hạ là của chung. Nếu họ chỉ biết thủ lợi riêng và làm điều bạo ngược, thì trái với thiên đạo. Trời sinh ra dân, không phải vì vua. Trời lập ra vua là bởi vì dân. Khi vua tàn bạo, người dân có quyền phế bỏ. Giết vua tàn bạo cũng như giết đứa độc phu. Lấy nhân nghĩa mà trị thiên hạ thì yên, lấy tàn bạo mà trị thiên hạ thì nguy. Quân là thuyền, dân là nước. Nước chở thuyền, nhưng nước lại đánh đắm thuyền » ( Tuân Tử).

     « Vua coi tôi như tay chân thì tôi coi vua như lòng dạ. Vua coi tôi như chó ngựa, thì tôi coi vua như người dưng. Vua coi tôi như cỏ đất, thì tôi coi vua như giặc thù. Người làm hại dân là tặc, người làm hại nghĩa là tàn. Tàn tặc là kẻ không ra gì. Ta chỉ nghe nói giết tên Trụ, chứ không nghe nói giết vua vậy » (Mạnh Tử).

     Từ quân quyền đến dân quyền

     Thời Chiến Quốc, vua chúa các nước chỉ lo tranh quyền cướp nước, gây nên chiến tranh xâm lược, bắt dân đi lính và nô dịch để chiếm đất và thủ lợi. Mạnh Tử chứng kiến nhiều cảnh vô đạo của vua và cảnh đau khổ của dân. Ông đề ra chủ trương "Dân Vi Quý", lấy dân làm quý, vua làm khinh. Học thuyết Dân Quyền thay thế cho học thuyết Quân Quyền.

     Mạnh Tử thường nói : « Bá Di, Y Doãn, Khổng Tử là những bậc thánh nhân đời xưa Ta chưa làm được như các ngài. Nhưng sở nguyện của ta vẫn là thực thi đạo của Khổng Tử ». Tuy nhiên ông còn nói : « Đọc sánh thánh hiền mà tin cả vào sách thì thà không đọc sách còn hơn » (36). Do dó dầu theo đạo của Khổng Tử, ông cũng không hoàn toàn tin theo kinh sách. Vì theo ông, con người sinh hoạt trong xã hội phải theo đạo biến hóa của trời đất và phải biết thích ứng bằng cách canh tân và tự lực tự cường không nghỉ.

     Châm ngôn xử thế của Mạnh Tử là : « Giàu sang không làm mê hoặc mình. Nghèo khó không làm thay đổi chí mình. Uy lực không làm khuất phục mình. Ở chỗ khoảng khoát trong thiên hạ, đứng tại ngôi chính vị trong thiên hạ, đi con đường lớn trong thiên hạ » (37).

     Sở dĩ Mạnh Tử có tư tưởng khoáng đạt và hùng tâm đại chí của một đại trượng phu, một phần cũng vì được giáo dục kỹ lưỡng. Ông sinh tại nước Lỗ (cùng quê với Khổng Tử) vào trước thế kỷ thứ IV trước công nguyên. Mồ côi cha từ khi còn thơ ấu, ông chịu sự giáo huấn nghiêm cẩn của mẹ hiền. Muốn cho Mạnh Kha nên người, Mạnh mẫu phải ba lần dọn nhà. Ban đầu ở cùng xóm với nhà đồ tể. Suốt ngày Mạnh Kha trông thấy cảnh sát sinh và nghe thấy tiếng kêu thất thanh của súc vật bị chọc tiết. Sợ di hại đến tính tình và cảm xúc của con. Mạnh mẫu phải dời nhà qua xóm làm đồ mã. Ở đây Mạnh Kha thường bắt chước cắt dán giấy làm đồ vàng giả và rắc vàng như trong các đám tang. Sau cùng hai mẹ con lại dời qua một xóm khác gần nhà thầy đồ. Khi đó Mạnh Kha đã 6, 7 tuổi, thấy học trò đi học, cũng xin mẹ cho đi đến trường. Mạnh mẫu mừng thầm tự nhủ : « Đây là chỗ con ta ở được ». Một hôm vì nhớ mẹ. Mạnh Kha bỏ lớp về nhà. Mạnh mẫu đang ngồi dệt cửi, thấy con trốn học, liền cầm kéo cắt đứt khung cửi. Bà nói : « Người đi học cũng giống như người dệt vải, phải quyết chí chuyên cần cho đến thành công. Người đi học nửa đường bỏ học cũng như người dệt vải tự tay cắt khung vải đang dệt vậy ». Mạnh Kha cúi đầu tạ tội. Từ đó cố gắng học tập, kết quả thành một vị thánh nhân.

Đối chiếu các học thuyết, chúng ta thấy hồi cuối thế kỷ thứ VI trước công nguyên, hai triết gia Khổng Tử và Socrate cùng khởi xướng đạo nhân sinh triết học, lấy sự tu thân làm trọng, coi việc ngoài nhân sự và việc của trời (Kính nhi viễn chi; connais -toi toi-même).

     Qua thế kỷ thứ IV trước công nguyên, cũng tại Trung Hoa và Hy Lạp, Mạnh Tử và Platon cùng khởi xướng học thuyết dân chủ, lấy tín nghĩa và pháp luật để xây dựng xã hội quân bình. Platon với thuyết « Cộng Hòa » và Mạnh Tử với thuyết « Dân Vi Quý ». Trong khi Khổng Tử và Tuân Tử chú trọng đến quân vương, thì Mạnh Tử đề xướng dân quyền. Câu ôDân vi quý, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinhọ có thể được nhật tân hóa thành : « Lấy dân làm trọng, Nhà Nước là thứ yếu và coi nhẹ Chính Quyền ». Ông còn chỉ rõ : « Nếu ai được dân tín nhiệm, sẽ được suy tôn làm vua » (38).

     Theo học giả Trần Trọng Kim : « Chính thể của các tôn giáo khác cho vua (thiên tử) được thay Trời trị dân, vua muốn điều gì là Trời muốn điều đó, không ai được cưỡng lại. Trái lại, chính thể của Nho giáo có quan niệm đặc biệt là Trời với người đồng một thể. Dân muốn thế nào là Trời muốn thế ấy (39). Vậy muốn biết ý Trời (Thiên Ý), cứ xem ở lòng dân (Dân tâm). Trời trông thấy cũng vì dân trông thấy. Trời nghe thấy cũng vì dân nghe thấy. Sự làm điều lành tránh điều ác của Trời là do sự làm điều lành tránh điều ác của dân. Trên Trời dưới dân thông đạt với nhau. Nếu trái lòng dân là trái mệnh Trời (Thiên Mệnh). Vua Thang đánh vua Kiệt, vua Vũ diệt vua Trụ là để cứu dân phạt kẻ có tội (điếu dân phạt tội ). Do đó chính thể của Nho giáo tuy là quân chủ, nhưng vua không được chuyên chế. Người dân không cứ sang hèn, hễ có tài có trí phải được cất nhắc lên giúp vua trị nước. Vua phải lấy quyền lợi của dân làm chủ đích. Thành thử trong nước có vua quan, nhưng vẫn lấy dân làm trọng hơn cả ».

Phiên âm.

(1) Thiên mệnh chi vị Tính, suất tính chi vị Đạo, tu đạo chi vị Giáo (Trung Dung).

(2) Thiên địa vạn vật nhất thể. Thiên Hạ hà tư hà lự?

Thiên Hạ đồng quy nhi thù đồ, nhất trí như bách lự (Dịch).

(3) Nhất âm nhất dương chi vị đạo (Dịch).

(4) Nhân giả kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí dã (Kinh Lễ).

(5) Trọng Ni tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn Vũ, thượng luật thiên thời, hạ tập thủy thổ (Trung Dung).

(6) Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện (Đại Học).

(7) Vật cách nhi hậu tri trí, tri trí nhi hậu ý thành, ý thành nhi hậu tâm chính, tâm chính nhi hậu thân tu, thân tu nhi hậu gia tề, gia tề nhi hậu quốc trị, quốc trị nhi hậu thiên hạ bình (Đại Học).

(8) Đệ tử nhập tắc hiếu, suất tắc dễ, cẩn như tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn (Luận Ngữ).

(9) Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo (Luận Ngữ).

(10) Ngô thường chung nhật bất thực, chung dạ bất tẩm dĩ tư, vô ích, bất như học dã (Luận Ngữ).

(11) Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế dã ngu;

Hiếu trí bất hiếu học, kỳ tế dã đãng;

Hiếu tín bất hiếu học, kỳ tế dã tặc;

Hiếu trực bất hiếu học, kỳ tế dã giảo;

Hiếu dũng bất hiếu học, kỳ tế dã loạn;

Hiếu cương bất hiếu học, kỳ tế dã cuồng (Luận Ngữ).

(12) Tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên. Trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi (Luận Ngữ).

(13) Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã (Luận Ngữ).

(14) Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ (Luận Ngữ).

(15) Hữu văn hội hữu, dĩ hữu phụ nhân (Luận Ngữ).

(16) Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, dốc hành chi (Trung Dung).

(17) Tam quân khả đoạt súy, thất phu bất khả đoạt chí (Luận Ngữ).

(18) Quân tử hữu cửu tư : Thị tư minh, thính tư thông, sắc tư ôn, mạo tư cung, ngôn tư trung, sự tư kính, nghi tư vấn, phẫn tư nạn, kiến đắc tư nghĩa (Luận Ngữ).

(19) Vụ dân chi nghĩa, kính qủy thần nhi viễn chi (Luận Ngữ).

(20) Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi (Luận Ngữ).

(21) Bất hoạn qủa nhi hoạn bất quân. Bất hoạn bần nhi hoạn bất an (Luận Ngữ).

(22) Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân (Luận Ngữ).

(23) Quân tử đạo giả tam, ngã vô năng yên : nhân giả bất ưu, trí giả bất hoặc, dũng giả bất cụ (Luận Ngũ).

(24) Hiếu học cận hồ trí, lực hành cận hồ nhân, tri sỉ cận hồ dũng (Trung Dung).

(25) Bất hiện nhi chương, bất động nhi biến, vô vi nhi thành (Trung Dung).

(26) Động nhi thế vi thiên hạ đạo, hành nhi thế vi thiên hạ pháp, ngôn nhi thế vi thiên hạ tắc (Trung Dung).

(27) Vạn vật tịnh dục nhi bất tương hại. Đạo tịnh hành nhi bất tương bội (Trung Dung).

(28) Công hồ dị đoan, tư hại dã dĩ (Luận Ngữ). Khổng Tử đến hỏi Lão Tử về lễ, khi về nói với các môn đệ rằng : “Chim thì ta biết nó bay được, cá thì ta biết nó lội được, thú thì ta biết nó chạy được. Bay, lội, chạy ta còn có thể chăng lưới mà bắt được. Đến như rồng thì ta không biết nó cưỡi mây cưỡi gió lên trời lúc nào. Hôm nay ta thấy Lão Tử như rồng vậy” (Ngô kim nhật kiến Lão Tử, kỳ do long gia) (Tư Mã Thiên).

(29) Quân tử vô nhập nhi bất tự đắc yên (Trung Dung).

(30) Khổng Tử khả dĩ sĩ, tắc sĩ; khả dĩ chỉ, tắc chỉ; khả dĩ cửu, tắc cửu; khả dĩ tốc, tắc tốc (Mạnh Tử).

(31) Khả dĩ thủ, khả dĩ vô thủ, thủ thương liêm. Khả dĩ dữ, khả dĩ vô dữ, dữ thương huệ. Khả dĩ tử, khả dĩ vô tử, tử thương dũng (Mạnh Tử).

(32) Chất thắng văn tắc dã, văn thắng chất tắc sử; văn chất bân bân, nhiên hậu quân tử (Luận Ngữ).

(33) Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, Nam Phương chi cường (Trung Dung).

(34) Dân dĩ quân vi tâm, quân dĩ dân vi thể, Tâm dĩ thể toàn, diệc dĩ thể thương. Quân dĩ dân tồn, diệt dĩ dân vong (Kinh Thư).

(35) Duy mệnh bất vu thường. Đạo thiện tắc đắc chi, bất thiện tắc thất chi. Hoàng Thiên vô thân, duy đức thị phụ (Kinh Thư).

(36) Tận tín thư bất như vô thư (Mạnh Tử).

(37) Cư thiên hạ chi quảng cư, lập thiên hạ chi chính vị, hành thiên hạ chi đại đạo. Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (Mạnh Tử).

(38) Đắc hồ kỳ dân, nhi vi thiên tử (Mạnh Tử).

(39) Dân chi sở dục, thiên tất tòng chi (Kinh Thư).

 

Sự tích Nghiêu nhường Thuấn (Suy cử Nguyên Thủ Quốc Gia)

     Vạn Chương, môn đệ của Mạnh Tử hỏi : Vua Nghiêu lấy thiên hạ cho vua Thuấn, có chuyện ấy không?

     Mạnh Tử đáp : Không! Vua (Nghiêu) không có quyền đem thiên hạ cho người khác (Thuấn).

     - Vậy vua có quyền gì?

     - Vua chỉ có quyền giới thiệu người với Trời mà thôi.

     - Vậy vua Thuấn được thiên hạ là vì ai?

     - Vì được Trời cho.

     - Trời làm thế nào mà báo cho biết?

     - Trời không nói gì, chỉ lấy hành vi, sự việc mà báo cho biết rằng Trời thuận cho.

     - Làm sao biết được ý Trời?

     - Xem lòng dân mà biết ý Trời. Tuyên bố ra trước quốc dân để coi dân có chấp thuận không? Nếu dân chấp thuận thì Trời cũng nghe theo.

     Ông Thuấn giúp vua Nghiêu trị nước trong 28 năm. Trước khi mất, vua Nghiêu di ngôn cho ông Thuấn thay mình làm vua. Ông Thuấn không chịu nhận ngôi Vua, lánh qua miền nam sông Nam Hà để nhường quyền cho con trai vua Nghiêu.

     Tuy nhiên nhân dân không tuân phục con vua Nghiêu. Có việc, yết kiến cũng đến trình ông Thuấn. Có việc tố tụng cũng đến thưa ông Thuấn. Có dịp đàn hát ca tụng thái bình thịnh trị cũng đến trước ông Thuấn. Ba loại người trên : quan chức, các tụng nhân bị cáo và các nghệ sĩ đờn hát ca ngợi thái bình thịnh trị có thể coi là đại diện của dân. Khi đó ông Thuấn mới chiều ý dân trở về kinh đô và lên ngôi Vua.

     Kinh sách chỉ nói vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn. Riêng Mạnh Tử đã không quá tin sách mà giải thích rằng chính Trời đã chọn ông Thuấn làm vua khi thấy dân đã chọn ông Thuấn.

     Đọc đến chỗ này Phan Sào Nam có lời cảm khái : « Xem như ý tứ đoạn này, thời Mạnh Tử coi chủ quyền ở trong nước thuộc về nhân dân. Tinh ý cũng không khác gì Lư Thoa trong Dân Ước Luận (Jean Jacques Rousseau : Du Contrat Social ). Học giả đời nay chỉ biết quý trọng Lư Thoa mà bỏ quên Mạnh Tử. »

     Công thức « Nghiêu nhường Thuấn » có thể nhật tân hóa và áp dụng cho việc suy cử vị nguyên thủ quốc gia hiện đại (tổng thống, thủ tướng). Công thức đó là :

     1. Các chính đảng giới thiệu ứng cử viên : ứng cử viên được lòng người.

     2. Được lòng người : sẽ được dân tín nhiệm.

     3. Được dân tín nhiệm : sẽ được bầu làm nguyên thủ quốc gia.

     Bầu trực tiếp tổng thống, hay gián tiếp - qua các dân biểu Quốc Hội - bầu thủ tướng. Dầu sao nguyên thủ quốc gia không được giữ chức vụ trọn đời. Sự tín nhiệm của quốc dân phải giới hạn trong một nhiệm kỳ và có thể được tái tục. Mục đích là dành cho quốc dân quyền được tuyển chọn một ứng cử viên khác xứng đáng hơn. Rất có thể trong thời gian tại chức người đắc cử đã tỏ ra bất lực, (vì hữu danh vô thực, có tri mà kém hành), tham nhũng hủ hóa (thấy lợi quên nghĩa), hay chuyên chế (do cố chấp, tự cao tự đại hay say mê quyền lực). Tại Hoa Kỳ nhiệm kỳ của tổng thống là 4 năm và chỉ có thể được tái tục một lần.

     Sự bổ nhiệm cộng tác viên của nguyên thủ quốc gia

     Theo Mạnh Tử : « Vua tuyển người hiền như bất đắc dĩ ». Làm vua một nước mà muốn dùng người hiền tất phải thận trọng. Ta có cảm tưởng vua như bị quốc dân bắt buộc, nên bất đắc dĩ mới mời người hiền cộng tác. Như vậy tuyển dụng người hiền là do dân chứ không phải tự ý vua. Trên thực tế vua ít có cơ hội tiếp xúc với dân nên không phát hiện được nhân tài. Tả hữu quanh vua (anh em bà con trong hoàng tộc), cũng như các đại phu (quan chức trong triều), thường có khuynh hướng tiến cử những người thân thích. Sinh hoạt chính trị trong nước chỉ thu hẹp trong phạm vi triều đình. Tự do ngôn luận còn quá sơ khai. Trong điều kiện đó chỉ có dân chúng mới biết rõ kẻ hiền tài. Xuất thân từ giới bình dân, Mạnh Tử đề xướng công thức tuyển hiền như sau :

     1. Anh em bà con trong hoàng tộc nói là hiền : chưa được!

     2. Các quan chức trong triều nói là hiền : chưa được!

     3. Quốc dân nói là hiền : khảo sát, chứng kiến rồi mới tuyển dụng.

     Về công thức này, Phan Sào Nam nhận định : « Xem ý nghĩa đoạn này thời muốn dùng người hiền, vua phải thuận theo ý chí của quốc dân. Quyền khảo sát, chứng kiến và tuyển dụng tuy thuộc về vua, nhưng vua chỉ thừa hành ý chí của dân. Trước kia vua không có dịp thấy người hiền, chỉ nghe theo lời quốc dân. Nay phải đích thân khảo sát, chứng kiến rồi mới tuyển dụng. Như thế chẳng khác nào quyền của quốc dân ủy nhiệm cho tổng thống các nước dân chủ đời nay vậy ».

     Tập tục sinh hoạt các nước dân chủ như Hoa Kỳ, các bộ trưởng, đại sứ, công chức cao cấp và thẩm phán tối cao Pháp Viện do Tổng Thống đề nghị bổ nhiệm, phải được Quốc Hội chấp thuận trước. Sự chấp thuận (hay phê chuẩn) này được tổ chức dưới hình thức điều trần, khảo sát công khai. Trong trường hợp Quốc Hội công nhận đương sự đủ khả năng, uy tín và đức độ, khi đó Tổng Thống mới tuyển dụng.

     Đọc đoạn này chúng ta trí tuệ của Mạnh Tử thông thái là chừng nào, bao quát là chừng nào! Về mặt kỹ thuật xây dựng lãnh đạo, có thể nói Mạnh Tử hơn hẳn Socrate, Platon và Aristote bên Hy Lạp.

Trường hợp giải nhiệm

     Công thức tuyển hiền còn được áp dụng cho trường hợp giải nhiệm các cộng tác viên của vua :

     1. Anh em bà con trong hoàng tộc đều nói giải nhiệm : Không nghe!

     2. Các quan chức trong triều đều nói giải nhiệm : Không nghe!

     3. Quốc dân nói giải nhiệm : Khảo sát, chứng kiến rồi mới giải nhiệm.

     Trong kỹ luật pháp lý hiện đại, thủ tục giải nhiệm còn được áp dụng cho vị nguyên thủ quốc gia, đó là thủ tục truất quyền tổng thống và phó tổng thống. Quốc Hội đại diện quốc dân, quyết định truy tố và có quyền truất phế tổng thống hay phó tổng thống, nếu có đủ bằng chứng người này phạm tội phản quốc, tham nhũng hay các trọng tội khác. Hạ nghị viện có quyền quyết định truy tố, Thượng Nghị Viện phán xử với sự chủ tọa của chủ tịch Tối Cao Pháp Viện. Phán quyết xác nhận tội trạng phải hội đủ đa số 2/3. Sự chế tài duy nhất là truất quyền. Sau đó đương sự có thể bị tòa án thường tụng truy tố về mặt hình sự.  Cổ tẩu giết người

     Đào Ứng, một môn đệ của Mạnh Tử, đưa ra giả thuyết rằng cha vua Thuấn là Cổ Tẩu, giết người trái phép, rồi hỏi Mạnh Tử rằng :

     - Cao Dao phụ trách ngành tư pháp (Chưởng Lý) phải làm gì trong trường hợp này?á

Mạnh Tử đáp :

     - Cao Dao cứ việc bắt giam Cổ Tẩu.

     - Vậy vua Thuấn không ngăn cản Cao Dao được ư?

     - Vua Thuấn lấy quyền gì mà ngăn cản Cao Dao. Vì Cao Dao được dân ủy nhiệm để bắt kẻ sát nhân.

     - Thế vua Thuấn phải tính làm sao?

     - Vua Thuấn phải từ bỏ ngôi vua (coi ngôi thiên tử như chiếc dép rách), rồi lén vào ngục cõng Cổ Tẩu đi trốn. Hai cha con phải chạy về phía bờ biển, mai danh ẩn tích tại một miền hẻo lánh, trọn đời chung vui với nhau mà quên địa vị của thiên tử và thái thượng hoàng.  Sở dĩ Đào Ứng đặt ra giả thuyết « Cổ Tẩu sát nhân » vì vua Thuấn xuất thân từ một gia đình ti tiện. Cha (Cổ Tẩu) vừa mù vừa ác, mẹ thuộc loài yêu nghịch, em là Tượng chỉ rình cơ hội giết anh. Thuấn một mình lo cho gia đình, quá nửa đời người cơ cực, thường nhật chỉ ăn « Ba hột cơm khô với ba ngọn rau đồng », đi cày thuê, đổ đất mướn, khi chài lưới, khi chăn trâu. Nhờ quyết tâm tu dưỡng, trau dồi đức hạnh mà trở thành thánh nhân. Sau một thời gian phục vụ vua Nghiêu, Thuấn được vua truyền ngôi.

     Giả thuyết của Đào Ứng nêu lên hai vấn đề lưỡng nan :

     Cao Dao làm quan tư pháp phải giữ phép công cho thiên hạ, coi mọi người bình đẳng trước pháp luật, nên không thể vì bị cáo là thái thượng hoàng mà cho hưởng đặc miễn. Trong chế độ pháp trị, luật pháp không phân biệt thân sơ (pháp bất vị thân).

     Vua Thuấn là thiên tử được dân ủy nhiệm lãnh đạo quốc gia, phải thượng tôn luật pháp, không thể vì tình riêng tư mà xin cho cha miễn tội. (Pháp công là trọng niềm tây xá nào).

     Tam quyền phân lập

     Về điểm này Phan Sào Nam bình giải như sau : « Trong học thuyết chính trị, Mạnh Tử chủ trương tam quyền phân lập. Thuấn không dám ỷ quyền thiên tử mà xâm phạm đến quyền tòa án. Cha mình bị tội thì mình phải vào ngục cõng trộm mà trốn đi, hy sinh ngôi thiên tử để tôn trọng quyền tư pháp. Trong lòng Thuấn xem cha thiên tử cũng như cha người bình dân. Luật pháp đặt ra cho tất cả mọi người. Cha thiên tử giết người cũng phải bị bắt giam. Thuấn là người đứng đầu hành pháp, Cao Dao là người đứng đầu tư pháp. Vì quyền tư pháp được độc lập, Cao Dao không dám tha tội cho cha thiên tử. Đó chẳng phải là tam quyền phân lập đó ru? Còn quyền lập pháp thuộc về quyền quốc dân lại cao hơn quyền hành pháp và tư pháp, thời trong sách Mạnh Tử đã chép rất nhiều ».

     Thiên tử dầu sao cũng chỉ là người, khi cha lâm nạn phải tìm cách cứu, dầu phải từ bỏ địa vị. Như vậy mới trọn đạo làm con. Về nghĩa, vua Thuấn không được ngăn cản Cao Dao bắt giam cha mình. Về hiếu, ông phải quyền biến, tìm cách vào ngục giải cứu cho cha. Theo Mạnh Tử, quyền cai trị thiên hạ có quý thật, nhưng khi phải làm điều hiếu nghĩa, thì phải coi nó như chiếc dép rách! Khi còn bần hàn Thuấn đã hết lòng hiếu thảo với cha mẹ. Thì khi phú quý Thuấn cũng phải tìm mọi cách để chuộc tội cho cha

     Đến đây Phan Sào Nam còn khai triển thêm : Sau khi Thuấn cõng Cổ Tẩu đi trốn, quốc gia mất người lãnh đạo lý tưởng. Thuấn có thể bỏ ngôi thiên tử, nhưng nếu thiên hạ không muốn mất Thuấn thì sao? Và sau đây là giải pháp đề nghị : « Khi Thuấn cõng Cổ Tẩu đi rồi, toàn dân triệu tập Quốc Dân Đại Hội, đồng thanh yêu cầu lưu giữ Thuấn. Theo quyết nghị của Quốc Dân. Đại hội tuyên bố ân xá cho Cổ Tẩu. Như thế thì Cao Dao không có lỗi, Cổ Tẩu được tha, mà Thuấn vẫn được làm thiên tử. Sự lý ấy há chẳng thực hiện được hay sao? Tuy chữ tam quyền phân lập không nói ra, nhưng tinh thần của tam quyền phân lập đã được thực hiện rồi vậy. Học giả ngày nay chỉ say mê học thuyết Âu Tây mà không xét đến tinh thần Mạnh Tử, thiệt oan uổng thầy Mạnh Tử quá! ».

     Trong chuyện Nghiêu nhường Thuấn, Mạnh Tử đưa ra định lý hễ ai được dân tín nhiệm sẽ được làm nguyên thủ quốc gia, để chứng minh câu ý dân là ý Trời. Cũng vì vậy mà khi vua Nghiêu tiến cử vua Thuấn, và vua Thuấn tiến cử vua Vũ với Trời, thì Trời chịu cho, vì dân đã thuận theo. Đến khi vua Vũ tiến cử ông Ích với Trời, thì dân không chịu theo ông Ích, nên Trời cũng không thuận cho ông Ích làm vua. Dân với Trời tương quan mật thiết với nhau như vậy, thì trong khoảng trời đất, dân là quý hơn cả. Vì có dân mới có nước, có nước mới có vua. Do đó, dân quý nhất, thứ đến là nhà nước và sau cùng mới đến vua (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Lấy dân làm trọng, nhà nước là thứ yếu và coi nhẹ chính quyền. Đây là một học thuyết dân chủ hết sức tiến bộ. Lincoln cũng quan niệm tương tự như vậy khi chủ trương một « Chính phủ của dân, bởi dân và vì dân ».

     Trong đời sống chính trị hiện đại, xã hội loài người mỗi ngày một tiến gần đến dân chủ. Với chủ trương ngày ngày đổi mới, càng ngày càng thêm mới, xã tắc phải được hiểu là nhà nước, và quân phải được biến cải thành chính quyền (đa số các vua đời nay chỉ ngồi làm vì mà thôi). Sự thay đổi danh xưng là về hình thức, thực chất thành phần cấu tạo quốc gia vẫn là Dân, Nhà Nước và Chính Quyền.

     Dân vi quý

    Dân vi quý đưa ra những chủ trương đường lối thực tiễn để mưu cầu hạnh phúc cho dân, tạo bình đẳng cơ hội cho dân trau dồi giáo dục kỹ thuật để tự lực mưu sinh, phát huy văn hóa đạo đức để nâng cao nhân phẩm, gây cho dân ý thức về nghĩa vụ và quyền lợi để tự làm chủ lấy mình (tự do) và làm chủ xã hội (dân chủ).

     Theo quan niệm « Xã tắc thứ chi », nhà nước là một công cụ để điều hòa quyền lợi và nghĩa vụ của các tầng lớp dân chúng. Do đó không thiết lập tư bản nhà nước hay đế quốc nhà nước để tước đoạt tự do tài sản của dân. Không tổ chức công an mật vụ để trấn áp dân. Không xây dựng quân đội hùng mạnh để thực thi nghĩa vụ quốc tế, đi gây hấn và xâm lăng các quốc gia hiếu hòa lân bang.

Do quan niệm « Quân vi khinh », nhân dân có quyền truất phế các chính quyền chuyên chế, bất lực hay tham nhũng. Nếu gặp phải hôn quân bạo chúa, nhân dân có quyền dùng võ trang tiêu diệt kẻ tham quyền cố vị. Trong chế độ dân chủ pháp trị, nhân dân có thể thay đổi chính phủ trong vòng ôn hòa và hợp pháp bằng cách sử dụng lá phiếu trong các cuộc tổng tuyển cử tự do và công bằng.

     Có dân chủ mới có tự do, có tự do mới có hạnh phúc. Kinh tế có điều kiện phát triển tốt nhất trong chế độ tự do dân chủ. Phát triển kinh tế cho dân giàu, nước mạnh. Phát huy văn hóa giáo dục cho xã hội văn minh.

     Chủ trương dân giàu, nước mạnh và xã hội văn minh

     Khổng Tử đến nước Vệ, thấy cảnh dân chúng đông đúc, vui mừng nói “Dân đông lắm thay ». Các môn đệ hỏi :

     - Đã đông rồi nên làm gì thêm?

     Đáp : - Làm cho dân giàu.

     - Đã giàu rồi, còn phải làm gì?

     Đáp : - Phải dạy dân.

   Muốn trị nước phải giáo hóa dân cho dân có ý thức về nghĩa vụ và quyền lợi, cho xã hội có kỷ cương, luật pháp. Muốn thế phải làm cho dân giàu, vì có đủ ăn đủ mặc, dân mới học được lễ nghĩa. Muốn cho dân giàu, nước mạnh và xã hội văn minh phải hội đủ 3 điều kiện : Đủ ăn, đủ binh và dân tin nơi chính quyền.

     Các môn đệ hỏi :

     - Trong ba điều ấy, bất đắc dĩ phải bỏ một điều, thì nên bỏ điều nào trước?

     Khổng Tử đáp :

     - Bỏ việc binh.

     - Còn hai điều mà bất đắc dĩ phải bỏ một, thì nên bỏ điều nào?

     Đáp : - Bỏ ăn.

     Vì bỏ ăn thì chết, nhưng xưa nay người ta ai cũng chết, chứ dân mà không tin thì không sao mà đứng được! (Luận Ngữ). « Thông thường, người có hằng sản thì có hằng tâm. Người không có của sẵn thì không có sẵn lòng tốt. Nếu không có sẵn lòng tốt, thì sinh ra phóng đãng, mê muội, gian dối, không điều gì mà không dám làm. Đến khi phạm tội, lại lấy hình luật mà trừng trị, thế là chăng lưới đánh lừa dân vậy » (Mạnh Tử ).

     Nhiệm vụ của người trị nước là phải chăm lo dân sung túc, rồi lấy văn hóa giáo dục dạy dân tín nghĩa : « Phải chế định tài sản của dân (phân điền, chế sản) khiến cho người dân khi ngửng lên có đủ phương tiện thờ cha mẹ, khi cúi xuống có đủ lực để nuôi sống vợ con. Năm được mùa thì được ấm no, năm mất mùa không đến nỗi chết đói. Được như thế rồi mới dạy dân làm điều lành, thì dân sẽ hoan hỉ làm điều lành.

     Về mặt giáo dục, đặt nhà trường, nhà tự, nhà học, nhà hiệu, để dạy dân biết rõ nhân luân, khiến mọi người biết thương yêu nhau, hiểu điều hiếu đễ, kẻ trung niên không phải lao động quá sức, người cao niên có áo lụa mặc, có thịt ăn, dân chúng không khỏi phải đói rét.

     Những người già cả không có vợ con, chồng con, những trẻ thơ không có cha mẹ (quan, quả, cô, độc) là bốn hạng cùng dân trong thiên hạ phải được ưu tiên giúp đỡ » (Mạnh Tử).

     Quan niệm bác ái này được thể hiện qua bài ô »Đại Đồng Học Thuyết » sau đây của Khổng Tử : « Muốn thi hành đại đạo phải coi thiên hạ là của chung. Tuyển chọn người hiền năng, giảng điều tín nghĩa, dạy điều hòa thuận. Cho nên người dân không chỉ thân riêng cha mẹ mình, không chỉ thương riêng con mình. Cho người già có chỗ nương thân trọn đời, người trai tráng có việc làm và trẻ thơ được dưỡng dục tới tuổi trưởng thành. Chăm sóc người góa phụ, trẻ mồ côi, trẻ tàn phế. Thanh niên có chức phận, phụ nữ có gia đình. Tài sản không hoang phí ngoài ruộng đất, mà hà tất phải tàng trữ làm của riêng tư? Tài lực do thân mình làm ra, mà hà tất chỉ để phục vụ quyền lợi cho riêng mình? Vì vậy mưu mô quỷ quyệt không thi thố được, trộm cướp phi pháp không lộng hành được. Từ đó cửa ngõ không cần đóng kín. Đó là thời Đại Đồng » (Kinh Lễ).

     Các quốc gia dân chủ Tây Phương đã thiết lập chế độ an sinh xã hội để nuôi dưỡng người già, trẻ thơ, người tàn phế, người thất nghiệp. Tại Hoa Kỳ ngày nay, người già có chỗ nương thân trọn đời, trẻ thơ được dưỡng dục đến tuổi trưởng thành, kẻ tàn phế, người thất nghiệp được hưởng trợ cấp. Vậy mà nạn trộm cướp, bạo hành, sát nhân, ma túy, du đãng, vẫn lộng hành. Con người có cơm ăn áo mặc, nhưng vẫn thiếu an vui hạnh phúc. Lý do vì Nhà Nước quá chú trọng về Kinh Tế mà xao lãng Đạo Đức, đặt Quyền Lợi trước Lễ Nghĩa.

     Các nhà thức giả kỳ vọng rằng, qua thế kỷ 21, nhân loại sẽ bước vào kỷ nguyên Đại Đồng, khi khoa học Tây Phương phối hợp với Đạo Học Đông Phương. Khu vực Á Châu Thái Bình Dương sẽ là nơi thực thi nền tổng hợp Đông Tây, đem lại Thái Hòa cho nhân loại.

     Ngũ Kinh

     Sau mười bốn năm chu du các nước, Khổng Tử trở về quê hương năm 68 tuổi. Bây giờ ngài không cầu ra làm hành chính nữa, ở nhà dạy học, san dịch kinh sách : « Ta từ nước Vệ trở về nước Lỗ, soạn dịch Kinh Nhạc và xếp đặt Kinh Thi. Ta tin và yêu đạo của người xưa, chỉ thuật lại mà không trước tác ».(40)

     Đạo nho được ghi chép tronh các Kinh Thi,Thư, Lễ, Nhạc, Dịch. Sau này Khổng Tử chép sử nước Lỗ, san dịch kinh Xuân Thu để bày tỏ quan điểm chính trị của mình. Lục kinh là sáu bộ sách do ngài biên soạn. Về sau, Kinh Nhạc bị thất lạc gần hết, chỉ còn thiên Nhạc Ký được ghi chép vào Kinh Lễ.

     Theo Khổng Tử Gia Ngữ : « Phương pháp giáo dục của Khổng Tử là trước hết dùng Thi Thư mà dạy, rồi lấy nhân nghĩa hiếu đễ mà giảng dụ, lấy lễ nhạc để sửa tâm tính, sau cùng mới lấy văn đức mà hoàn thành ». Hưng khởi là do thi, lập thân là do lễ, hoàn thành là do nhạc. (41)

     Trần Cang hỏi Bá Ngư (con Khổng Tử) :

     - Anh được thầy dạy điều gì mới không?

     Bá Ngư đáp :

     - Chưa! Cha tôi lần đó đứng một mình, tôi rảo bước qua sân. Cha tôi hỏi : « Học Kinh Thi chưa? ». Tôi thưa : « Chưa! ». Cha tôi bảo : « Không học Thi thì không biết ăn nói ». Tôi lui vào học Thi. Lần khác cha tôi lại đứng một mình, tôi rảo bước qua sân, cha tôi hỏi : « Học Kinh Lễ chưa? ». Tôi thưa : « Chưa! ». Cha tôi lại bảo : « Không học Lễ thì không lập thân ». Tôi lui vào học Lễ. (42)

     Trần Cang lui ra, mừng rỡ bảo :

     - Hỏi một mà biết ba : Phải học Thi, học Lễ và người quân tử thường xa con.

     Các môn đệ thuật lại lời Khổng Tử khi đi chu du thiên hạ : « Khi đến nước nào, ta có thể biết được văn hóa của dân nước ấy. Nếu dân hiền từ, lương thiện và giản dị, ta biết họ đã học Thi. Nếu dân quảng bác, hiếu cổ, ta biết họ đã học Thư (Sử). Nếu dân đại độ, hòa nhã, ta biết họ đã học Nhạc. Nếu dân trầm tĩnh, suy tư, minh triết, ta biết họ đã học Dịch. Nếu dân nhu hòa, thuận thảo, ta biết họ đã học Lễ. Nếu đân hoạt bát, văn vẻ, ta biết họ đã học Xuân Thu ».

     Kinh Thi (ca dao)

     Kinh Thi chép những bài ca dao từ đời thượng cổ đến đời nhà Chu. Ca là bài hát có vần điệu, dao là câu hát truyền khẩu trong dân gian. Kinh Thi viết về tính tình, phong tục, chính trị của thời đại. Về mặt đạo học Kinh Thi có tác dụng di dưỡng tính tình và mở rộng kiến thứcá: « Đọc Thi có thể cảm phát ý chí, quan sát hay dở, hợp quần mà không lưu đãng, bầy tỏ sầu oán mà không hờn giận. Trong nhà thì biết cách thờ cha, ra ngoài thì biết cách thờ Vua, biết nhiều tên chim muông, cây cỏ. Trong ba trăm bài trong Kinh Thi, chỉ lấy một lời mà bao trùm tất cả. Đó là : không nghĩ bậy ».

     Đọc bốn câu này trong Kinh Thi :

     Đóa hoa đường lệ

     Phất phơ trước gió

     Ta nhớ ai lắm

     Ngại nỗi đường xa.

     Khổng Tử bảo : « Như vậy là chưa thật nhớ, nếu nhớ thì đâu có ngại ». (Ý nói, nếu yêu đạo thì đâu có ngại khó). Ngài còn nói : « Học hết ba trăm bài trong Kinh Thi, được giao việc trị dân mà làm không được, đi sứ bốn phương mà không biết ứng đối thì học nhiều mà có ích gì? ». Khổng Tử gả cháu gái cho Nam Dung, một môn đệ, vì thấy Nam Dung thích ngâm thơ Bạch Khuê trong Kinh Thi : « Chỗ tì vết của viên ngọc Bạch Khuê còn có thể mài xóa đi được, chớ lời xấu khi đã thốt ra thì không sao lấy lại được nữa ».

     Đọc bài : « Nghe tiếng chim hoàng oanh hót ví von vì mừng có chỗ đậu bên cồn », Khổng Tử nói : « Chim có chỗ đậu bên cồn mà còn vui hót, thì con người tìm đến chỗ chí thiện chẳng thích lắm sao? ».

     Kinh Thư (sử ký)

     Kinh Thư là một bộ sử chép lại sự việc và lời khuyên của cổ nhân về đạo lý, chế độ và phép tắc từ đời Nghiêu Thuấn đến đời nhà Chu. Đọc thư để biết tính chất phác và văn chương đời xưa. Tinh thần chung là theo đạo trung chính về hành vi và tư tưởng. Kinh Thư chép việc vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn, vua Thuấn nhường ngôi lại cho vua Vũ. Những nguyên tắc về học vấn, đạo đức và chính trị của các hiền nhân quân tử đời xưa đã xây dựng nền móng cho Nho Giáo.

     Vua Nghiêu truyền tả hữu làm lịch, dùng toán số, xem sự chuyển vần của mặt trăng mặt trời mà dạy cho dân biết thời tiết, lúc làm lúc nghỉ, mùa cấy, mùa gặt, Triều thần tiến cử ông Thuấn là một kẻ nghèo hèn nhưng nổi tiếng hiếu thuận. Vua Nghiêu gả con gái cho ông Thuấn, bắt các con trai quy phục ông Thuấn. Thuấn giúp vua đi tuần thú bốn phương, khi về sửa đổi niên lịch, định bốn mùa làm nhạc Thiều, thống nhất phép cân đo. Trước khi mất, vua Nghiêu di mệnh cho Thuấn :áọMệnh trời đã vào tay anh, ta khuyên anh nên giữ đạo trung, có bổn phận làm cho dân bốn biển được thái bình. Nếu dân bốn biển bị khốn cùng thì mệnh trời của anh cũng hếtọ. Rồi truyền ngôi cho Thuấn.

     Trong Kinh Thư, Khổng Tử nói rõ về quan niệm Thiên Mệnh. Quyền vua là do mệnh trời mà ra. Tuy nhiên: « Mệnh trời không nhất định mãi cho ai, làm điều thiện thì được, bất thiện thì mất. Trời không thân với ai, chỉ giúp người có đức » (35).

     Theo quan niệm : « Thiên nhân tương hợp », Trời với dân đồng một thể, dân muốn thế nào là Trời muốn thế ấy. « Trời thương dân, dân muốn điều gì, Trời cũng nghe theo » (39). Trời trông thấy cũng vì dân trông thấy. Trời nghe thấy cũng vì dân nghe thấy. Trời minh định thiện ác cũng vì dân minh định thiện ác. Trên trời dưới dân thông đạt. Người làm vua làm chúa phải kính mệnh trời vậy thay!

Quân quyền không được đi trái lòng dân. Làm trái lòng dân là làm trái mệnh trời. Trái mệnh Trời là không còn xứng danh Thiên Tử. Khi đó mọi người có quyền nổi lên « Cứu dân phạt tội « (điếu dân phạt tội) như vua Thang đánh vua Kiệt, vua Vũ diệt vua Trụ.

     Kinh Xuân Thu (Truyện nước Lỗ)

     Khổng Tử san dịch Kinh Xuân Thu, chép truyện nước Lỗ cùng công việc nhà Chu và các nước chư hầu. « Kinh Thi hết mới tới Kinh Xuân Thu. Sách chép chuyện Hoàn-Công nước Tề, Văn-Công nước Tấn, văn trong sách là văn sử. Về nội dung Khổng Tử nói : Khâu trộm chép lại vậy « (Mạnh Tử).

     Đời Xuân Thu là đời đại loạn, chư hầu lấn quyền vua, tôi giết vua, con giết cha. Vua chúa chuyên quyền bạo ngược. Khổng Tử một mặt nêu ra thuyết chính danh, định phận, tôn quân, mặt khác dùng thuyết Thiên Mệnh, để chế ngự quân quyền, khuyên vua chúa trở về vương đạo : « Chính trị là việc ngay thẳng, nhà vua thẳng thắn mà khiến người, thì ai dám không ngay thẳng? Mình ngay chính thì không cần sai khiến người ta cũng làm. Mình không ngay chính thì tuy có sai khiến cũng không ai theo. Danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không thành ».(43)

      Để chế ngự quân quyền, Kinh Xuân Thu thường nhắc đến những tai dị trong trời đất và coi đó là những cảnh giác của trời khuyến cáo vua chúa trở về nhân nghĩa.

     Vai trò của việc Lễ Nhạc trong việc giáo hóa

     Hưng do Thi, lập do Lễ, thành do Nhạc. Đạo Nho lấy hiếu đễ, lễ nhạc để giáo hóa dân. Nhan Hồi nói : Phu Tử khéo dạy người, lấy văn học để mở mang kiến thức cho ta, lấy lễ nghĩa để ước thúc tác phong hành vi của tao (bác văn, ước lễ).

     Khi còn trẻ, Khổng Tử đã nổi tiếng là người hiếu lễ, yêu nhạc. Ngài đến Lạc Ấp, kinh đô nhà Chu, hỏi lễ Lão Tử, Hỏi nhạc Trành Hoằng. Khi xuất chính cũng như khi dạy học, ngài chú trọng đến tác dụng giáo dục của Lễ Nhạc. Có lần qua Tề, ngài học nhạc Thiều của vua Thuấn, ba tháng không biết mùi thịt (44). Ngài nói : « Chẳng ngờ học nhạc lại vui đến thế, nhạc Thiều tao nhã, chí thiện, chí mỹ ». Khi đàn hát với ai, nghe người ta hát câu nào thì ngài bắt hát lại để hòa theo.

     Lễ nhạc ảnh hưởng mật thiết đến phong tục, luân lý và chính trị, nên Nho gia cho đó là căn nguyên của đạo thiên nhiên. « Lễ là cái trật tự của trời đất, Nhạc là cái điều hòa của trời đất » (45). Trời cao đất thấp, muôn vật khác nhau nên thánh nhân định ra lễ để làm kỷ cương trật tự. Trời đất vạn vật lưu hành không nghỉ, hòa đồng mà sinh hóa, nhờ nhạc mà hưng thịnh. Nhạc là đồng, Lễ là dị, đồng tất tương thân, dị tất tương kính.

     Chỗ cùng cực của nhạc là hòa, chỗ cùng cực của lễ là thuận (46). Tiên Vương chế ra lễ nhạc không phải là để thỏa mãn các ham muốn của miệng, tai,mắt, mà để khiến dân giữ lòng yêu ghét cho triết chung, sửa nhân đạo cho ngay chính.

     Lễ với xa xỉ thì thà kiệm ước còn hơn. Tang lễ mà phiền phức thì thà thương buồn còn hơn. Do đó hành lễ phải trung dung, không thái quá, không bất cập. Nhưng thà bất cập còn hơn thái quá. Lễ là cái thực của nghĩa, Tiên vương lấy lễ nghĩa để trị thất tình của người : yêu, ghét, mừng, giận, buồn, lo, ham. Người ta thường tình, hễ dư thì xa xỉ, không cấm thì dâm loạn, không tiết độ thì sai lầm, buông thả thì hư hỏng (47). Cho nên ăn uống phải hạn lượng, y phục phải tiết chế, nhà cửa, súc tích phải có ngữ, xe cộ đồ dùng phải có hạn, mục đích để phòng loạn vậy. Cái ham lớn của con người là ở việc ăn uống, trai gái, bao giờ cũng có; cái ghét lớn của con người là ở sự chết, mất mát, nghèo khó, bao giờ cũng có. Đó là hai mối lớn của tình. Cái hay cái dở được dấu kính trong tâm khó lòng dò xét được. Nếu bỏ lễ thì làm sao mà biết để tiết chế lòng dục? Sự giáo hoá của lễ mầu nhiệm ở chỗ nó ngăn cấm điều bậy ngay từ khi chưa phát ra, khiến con người gần thiện, xa ác mà không biết. Lễ là con đường đê ngăn nước lụt, là cán cân đo nặng nhẹ, cái quy củ giữ mực thước cho mọi tác phong và hành vi của con người. Theo nghĩa rộng, lễ hàm chứa cả hình pháp. Nhưng lễ thiên về hành vi tích cực (làm điều nghĩa), trong khi hình pháp nặng nề về cấm chế tiêu cực (chống phạm pháp).

     Ngăn cấm việc chưa thành tốt hơn chế tài tội trạng đã xảy ra. Bởi vậy thánh nhân trọng lễ hơn trọng hình. Đạo đức nhân nghĩa, không có lễ không thành; giáo huấn cải tục, không có lễ không đủ; phân tranh kiện tụng, không có lễ không quyết; vua tôi, cha con, anh em, không có lễ không định; học tập, thờ thầy không có lễ không thân; thiết triều, trị quân, hành chính, hành pháp, không có lễ không nghiêm; cầu khẩn, tế tự, không có lễ không kính. Cho nên người quân tử phải giữ cung kính, tiết độ, thoái nhượng để làm sáng lễ (Lễ Ký). Lễ là tự tiết chế tâm thân, nhạc là cái hay cái đẹp tự nhiên để cảm hóa lòng người. Nhã nhạc để tránh tâm loạn, thanh tao, vui vẻ mà không lưu đãng, đủ khúc trực, tiết tấu mà cảm động cái thiện cái mỹ của con người. Người ta có tình có dục nên phải có lễ để định rõ phận nghĩa, tránh sự tranh đoạt; có nhạc để đem lại cái vui chính đáng, tránh điều dâm loạn.

     Về mặt giáo hóa, lễ nhạc có tác dụng hàm dưỡng tính tình, tiết chế nhân tình, minh định phải trái cho hợp đạo trung. « Lễ để tiết chế dân tâm, nhạc để hòa dân thanh, chính trị để hành đạo, hình pháp để phòng gia nô.

     Lễ nhạc hình chính rốt cuộc cùng quy về một mối : Cho đồng lòng dân, cho đạo thịnh trị. Bốn việc ấy mà đạt được cả, không mâu thuẫn nhau, thì vương đạo đủ vậy (48). Do đó người làm việc nước biết rõ lễ nhạc, chỉ cần đem thi thố ra là đủ. Nhưng người không có lòng nhân thì dùng lễ sao được? Người không có lòng nhân thì dùng nhạc sao được? (49). Cũng như hiếu đễ, lễ nhạc vụ ở lòng dân.

     Kinh dịch : túi khôn của loài người

    Phu Tử đứng bên bờ sông, nhìn dòng nước chảy, than rằng : « Cứ chảy mãi như thế này ư, ngày đêm không nghỉ ». Nước chảy tượng trưng cho sự lưu hành của trời đất. Cái vừa mới tới đã thành cái cũ, tất cả đều biến đổi. Sự biến đổi này gọi là Dịch.

     « Dịch mở ra muôn vật, thành được mọi việc, bao trùm đạo của thiên hạ. Cho nên, thánh nhân lấy Dịch để thông cái chí của thiên hạ, định công nghiệp của thiên hạ, giải mối nghi ngờ cho thiên hạ ».

     Đời trước, Dịch nặng về bói toán. Từ Khổng Tử về sau, dù vẫn có phần bói toán, nhưng Dịch thiên trọng về nhân sinh, đạo lý. Mãi tới tuổi 50, Khổng Tử mới bắt đầu học Dịch. Ngài đọc Kinh Dịch đứt lề sách ba lần mới hiểu nghĩa và viết các thiên truyện. Vậy mà Ngài còn nói : « Giá cho ta thêm vài năm nữa để học Dịch cho trọn vẹn, thì ta có thể tránh được những lỗi lầm lớn ».

     Theo các triết gia Tây phương cận kim : « Kinh Dịch là một trong những bộ sách quan trọng nhất trong văn học thế giới. Hầu hết những tư tưởng căn bản và vĩ đại của ba ngàn năm lịch sử Trung Hoa đều do sách ấy mà ra, hay ngược lại, đã ảnh hưởng đến việc giải thích sách ấy. Cho nên ta có thể yên trí mà quả quyết rằng Kinh Dịch chứa đựng sự khôn ngoan hoàn hảo nhất của mấy thiên niên kỷ đúc kết lại. Không riêng triết học mà cả khoa học tự nhiên và thuật trị nước của Trung Hoa cũng hấp thụ nguồn minh triết bất tận của sách này. Và ta không khỏi ngạc nhiên vì sao nó đã may mắn thoát khỏi ngọn lửa Tần » (Richard Wilhem).

     Ngày nay bên Tây phương : « Kinh Dịch chẳng những là sách khảo cứu về Hán Tự và triết học mà còn dùng để nghiên cứu tâm lý học. Quyển Kinh Dịch được dịch ra tiếng Đức bởi Richard Wilhem, người kế vị Carl Jung, tổ sư khoa tâm lý học phân tích, cả đời cố công khai phá cõi vô thức và tiềm thức của con người » (Raymond De Becker). Theo định nghĩa, Dịch là Biến, nhưng Dịch còn có nghĩa là Bất Biến. Dịch là Biến theo đạo ra đi. Từ một tới vạn, (nhất bản tán vạn), từ Thái Cực qua Lưỡng Nghi, từ Lưỡng Nghi qua Tứ Tượng, từ Tứ Tượng đến Vạn Tượng.

     Dịch còn là Bất Dịch, bất di bất dịch, theo đạo trở về, từ Vạn Tượng về Thái Cực. Những luật căn bản của đạo Dịch là :

     - Luật Biến Hóa

     - Luật Tương Đối và Tương Hòa

     - Luật Tiệm Biến

     - Luật Trở Về

     - Luật Bất Biến

     - Luật Thời Cơ.

     1. Luật Biến Hóa

     Lý Thái Cực được phát hiện bởi Âm, Dương, hai thực thể khác biệt tương sinh tương khắc. Vạn vật được cấu tạo do sự phối hợp của âm dương (vạn vật bồng dương và cõng âm). Con người sinh ra do đức của Trời (dương) và đất (âm), và sự giao hợp của âm dương (cha mẹ). Vạn vật sinh sinh hóa hóa để trở thành vô cùng vô tận. Cây cối sống nhờ thủy thổ (âm), hấp thụ khí trời, ánh sáng và sức nóng mặt trời (dương) mà đâm chồi nẩy lộc, khai hoa, kết quả. Âm dương tương đối, tương khắc nhưng vẫn gọi nhau và giao kết với nhau; Ba người đi tất mất một người. Một người đi tất gặp được bạn. (50)

     Đứng ngoài mà xét, sự vật dường như im lìm bất biến (tĩnh), mà kỳ thực bên trong, không một giây phút nào mà không thay đổi (động ). Động và Tĩnh tuy là hai trạng thái khác nhau, nhưng tựu chung chỉ là một. Không có cái động nào mà không có cái tĩnh làm căn bản : Như trong trò chơi thả diều. Diều bay cao lên trời (dương) là nhờ có sợi dây cột chặt ở dưới đất (âm). Nếu không có sức trì xuống (tĩnh) thì diều không thể bay cao (động). Hễ dây đứt thì diều rớt. Cho nên, cao lấy thấp làm nền, dương lấy âm làm gốc, động lấy tĩnh làm căn bản. (Nguyễn Duy Cần).

     Theo Kinh Dịch, « Dương xướng, Âm họa. Cứng mềm đun đẩy nhau mà biến hóa. Tượng ở trên trời, hình ở dưới đất, trông tượng hình mà thấy biến hóa ». Biến hóa là thay cũ đổi mới. « Ngày một mới là đức thịnh, sinh rồi lại sinh gọi là Dịch ». Sinh sinh là đạo cực động của trời đất, có sinh là có tử. Cái mà ta gọi là chết, chỉ là cái chết bên ngoài, thay hình đổi xác, như cây cối rụng lá mùa thu, im ngủ mùa đông, đợi đến mùa xuân lại nở ra hoa lá. Thế gian là một cõi sống thường hằng. Trong thân ta, sự sinh tử của các tế bào từng giờ từng phút vẫn xẩy ra, đâu ảnh hưởng gì đến sự sống của toàn thân? (Hermes Trismegiste).

     « Không gì mạnh bằng cái lực của biến hóa. Trời đất không ngừng biến đổi. Chiếc thuyền từng buổi từng đổi khác mà tưởng vẫn như xưa. Tay nắm tay nhau mà lòng đã thay đổi, sự biến hóa xẩy ra tại nơi sâu kín nhất của tâm hồn » (Quách Tượng). Nước chảy ngày đêm không nghỉ, nên không ai tắm hai lần trong một giòng sông (Heraclite).

     Khoa học nguyên tử Tây phương cũng xác nhận thuyết biến hóa, từ hình ra khí, và ngược lại từ khí ra hình. (Vật chất là khí đọng lại mà thành hình; khí là vật chất tan ra mà thành khí). Cho nên khí lực (dương) và vật chất (âm) là hai mặt của một bản thể, cũng như hai mặt của một đồng tiền.

     Theo Dịch « một mở một đóng gọi là biến, qua lại không cùng gọi là thông có cùng mới có biến, có biến mới có thông, có thông mới bền lâu » (51). Đạo Dịch biến đổi thường hằng, không nhất định ở đâu, chu lưu sáu cõi, lên xuống không thường, cương nhu thay đổi, không lấy phép gì làm chủ yếu, chỉ biến hóa cho thích hợp với đạo Trời mà thôi.

     2. Luật Tương Đối và Tương Hòa

     Dương biểu tượng cho Trời, chỉ cái sáng, cái mạnh, cái hay, đời thịnh. Âm biểu tượng cho đất, chỉ cái tối, cái yếu, cái dở, đời suy. Tuy nhiên, nguyên lý này không tuyệt đối. Âm không phải lúc nào cũng tiêu cực. Hễ có hại cho dương mới là tiểu nhân, nếu giúp cho dương thì lại là quân tử. Cương nhu cũng vậy. Thời phải dùng cương, thì cương là thiện. Thời phải dùng nhu, thì nhu là thiện. Điều lợi không phải bao giờ cũng bất thiện. Nó chỉ bất thiện, nếu làm hại nghĩa. Ích kỷ tự nó không có gì xấu. Con người ăn mặc, đi học, tu thân giải thoát, đều là vị kỷ. Ích kỷ đáng ghét nếu là ích kỷ hại nhân. Làm giàu không xấu, nếu làm ăn hợp pháp, lương thiện. Sự giàu thịnh của cá nhân đem lại phú cường cho xã hội. Chỉ làm giàu bất chính như tham nhũng, hối mại quyền thế, đầu cơ, buôn lậu mới là bất thiện.

     Theo Chu Liêm Khê « Âm dương giao cảm mà vạn vật hóa sinh, vạn vật hóa sinh thành vô cùng vô tận ». Giao cảm là sự tương ứng tương hòa để sinh thành, giao cảm giữa trong và ngoài, tâm và vật, con người và thiên nhiên. Trời đất giao nhau thì vạn vật phồn thịnh. Âm dương hòa xướng là tình trạng thái bình, âm dương xung khắc là tình trạng hỗn loạn. Cho nên, Dịch phải là hòa dịch, lạc dịch chứ không phải là nan dịch. Hòa dịch, lạc dịch, là biến hóa mà hòa thuận yên vui, chứ không biến trong căm hờn, thù hận. Đạo Dịch biến hóa, vật nào cũng giữ đúng tính mạng của nó, gìn giữ khí thái hòa của nóọ. Luật mâu thuẫn của Dịch là tương đối mà cũng là tương hòa. Nó không có tính cách tương tàn, tương sát như trong biện chứng duy vật Tây phương. Theo Mác, tư bản là chính đề. Vô sản là phản đề, chủ trương tiêu diệt địa chủ, tiêu diệt tư bản để thiết lập chuyên chính vô sản. Thực ra, trong chế độ tư bản có một phần công bằng bác ái, như chế độ an sinh xã hội. Chủ nghĩa xã hội cũng chủ trương giải phóng lao động. Theo dịch lý đông phương, hai chủ nghĩa này không tương tàn nhau mà có thể tương sinh tương hòa để biến thành Dân Chủ Xã Hội (tổng hợp đề). Cũng như rồi đây, Khoa học Tây phương sẽ phối hợp với Đạo học Đông phương để đem lại thái hòa cho nhân loại.

     Trở về với Dịch, âm dương tương ứng đắp đổi nhau mà sinh thành, « dương lấy âm làm nền, âm lấy dương mà phát » (52). Hai bên không tiêu diệt lẫn nhau mà tự tiết chế để lập lại thế quân bình cho trời đất : « Bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu là đạo của Trời » (53). Lấy Đạo Trời làm việc nhân sự là luật « Trời Người tương hợp ». Trời với người thông đạt với nhau,

     Thuận Đạo Trời thì còn, trái Đạo Trời thì mất (54). Theo Trình Tử, « Dịch chỉ bàn về lẽ Thiên Nhân Tương Hợp mà thôi », thiên là thiên nhiên, xã hội hay vũ trụ. Đạo Trời là Trung Hòa, đạo đất là Cương Nhu, đạo người là Nhân Nghĩa. Cuộc sống của người phải hòa đồng với trời đất vũ trụ, thiên nhiên. « Người theo đất, Đất theo Trời, Trời theo Đạo, Đạo theo Tự Nhiên ».

     Dịch không phải là luật lệ do người chế ra, mà là luật thiên nhiên của Tạo Hóa. Vì vậy, con người phải theo sự biến hóa của Âm Dương để trở về với Tự Nhiên, với Đạo. Phỏng theo vũ trụ quan của Dịch, cổ nhân xây nhân sinh quan cho đời sống cá nhân, gia đình và xã hội. Do đó, Dịch chẳng những là lẽ Âm Dương của vũ trụ, mà còn là đạo sống của con người.

     Nội ngoại tương ứng là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Nó áp dụng cho con người và xã hội, con người nội tâm và con người tương quan. Do đó, phải tạo thế quân bình trong mọi trường hợp. « Đức mỏng mà ngôi cao, trí nhỏ mà mưu lớn, sức yếu mà gánh nặng, thì ít khi thành công » (mà còn có thể mang họa cho bản thân và xã hội). Cách mạng xã hội đòi hỏi cách mạng bản thân, (tu thân học đạo). Anh hùng tạo thời thế, thì thời thế cũng tạo anh hùng. Con người xây dựng xã hội, mà cũng là sản phẩm của xã hội. Đem đạo Trời áp dụng cho việc tu thân, xử thế, đó là chỗ công dụng siêu việt của Dịch.

     3. Luật Tiệm Biến (Diễn Biến Ôn Hòa)

     Nho giáo không có tính bảo thủ. Khổng Tử chủ trương đổi mới, biến hóa, « mỗi ngày một mới, càng ngày càng thêm mới ». Nếu không biến hóa kịp thời thì bế tắc. « Cùng tất biến, biến tất thông, thông tất bền lâu ». Ví như nước đầy thì phải cho chảy đi, nếu không sẽ ứ đọng, mà ứ đọng thì sẽ vỡ. Nước có chảy mới thông, thông mới tái lập được quân bình. Vì vậy, thánh nhân khuyên ta theo thời mà biến hóa để khỏi phải lâm vào cảnh cố cùng. Điều cần nhất, là phải biến đổi dần dần, êm ái, làm cho biến mà không biết, hóa mà không hay. Như vậy, sự biến hóa mới tự nhiên và kỳ diệu. Muốn thế, phải theo đúng thời, không quá sớm, không quá muộn. Biến là sự hóa dần dần, hóa là sự biến đã thành (55).

     Sở dĩ, có sự tiệm biến vì mọi sự trên đời đều đòi hỏi phải có thời gian và điều kiện chuẩn bị cho chín mùi, chuẩn bị tâm lý bên trong và hoàn cảnh bên ngoài... Đó là luật tiêu trưởng (suy thịnh). Âm có suy thì dương mới trưởng, Dương có tiêu thì âm mới trưởng... ôTôi mà thí vua, con mà giết cha, cái cớ đâu phải một sớm một chiều, nguyên do lần lần mà đến vậy. Cai trị là tiên liệu; thánh nhân lo phòng bị từ đầu, phòng loạn hơn trị loạn. « Quân tử ở yên không quên nguy, còn không quên mất, trị không quên loạn » (56). « Thiện mà không tích lũy từ lâu thì, không đủ để thành thiện, ác mà không tích lũy từ lâu thì không đủ để hại thân ».

     Về thiên văn học, « các tinh tú trên hoàn vũ cứ nguội lạnh dần, truyền sức nóng cho các vi tế khác rải rác trong không trung. Các vì sao lạnh đi để cho các khoảng không gian khác nóng lên. Đó là cuộc diễn biến từ từ không nhận thấy được » (P. Rousseau). Từ luật tiêu trưởng và tiệm biến, cổ nhân rút ra một kinh nghiệm : Không nên vội vã, vì vội vã thì khó đạt. « Đừng muốn mau thành, đừng tham lợi nhỏ. Muốn mau thành thì không đạt, tham lợi nhỏ thì việc lớn không thành » (57).

     4. Luật Trở Về (Phản Phục)

     Dịch là ra đi rồi lại trở về. Âm dương làm căn bản cho mọi biến động. Âm tĩnh; Dương động. Nhưng âm dương không hẳn là hai. Trong âm có một phần dương và trong dương có một phần âm (58). Cũng như trong họa có một phần phúc, và trong phúc có một phần họa (59). Đó là luật Phản Phục (nghĩa là trở về khởi điểm). Toàn thể bộ Dịch chỉ nhắc lại luật này mà thôi. Mầm họa thường ẩn trong phúc, phúc nhỏ, họa nhỏ; phúc lớn, họa lớn. Việc trong thiên hạ, hễ đến cực thịnh là có triệu chứng suy vong. Mặt trời đứng bóng là bắt đầu xế, mặt trăng tròn rồi lại khuyết. Đạo trời đất, âm dương đầy rồi vơi, cùng với thời gian mà tiêu trưởng. Thời cực thịnh phải lo ngày suy sắp tới. Hễ tràn đầy thì phải lo thiếu hụt, gặp thời tiêu thì hy vọng thời thịnh sắp xẩy ra. Vật cùng tất biến là định luật căn bản của Dịch : Cho nên gặp thời tiêu, ta đừng chán nản. Trời người tương ứng. Có trời mà cũng có tao (Nguyễn Duy Cần). Theo Heraclite « Những đại thắng đồng thời là những đại bại ». Thái quá bao giờ cũng nguy, Cứng quá bao giờ cũng gẫy (60). Ôm giữ chậu đầy, chi bằng thôi đi. Dùng dao sắc bén, bén không bền lâu. Vàng ngọc đầy nhà, khó mà giữ chặt. Giàu sang kiêu sa, tự vời lấy họa. Thành việc rồi lui thân, đó là Đạo Trời. Phản Phục là hành vận của đạo Trời. Biến hóa là tiến rồi lui, lên rồi xuống, qua qua lại lại mãi không thôi, như cái đong đưa quả lắc đồng hồ, hay con thoi dệt cửi. Theo Trình Tử, « Vật mà tiến đến chỗ cùng cực thì đi trở ngược lại, cái lý là như thế. Có sinh là có tử, có đầu là có đuôi ».

     5. Luật Bất biến

     Đạo biến hóa của Trời Đất ra đi từ Thái Cực tới Âm Dương, từ Âm Dương tới Tứ Tượng, từ Tứ Tượng đến Vạn Tượng. Đạo trở về là từ Vạn Tượng về Thái Cực. Lớn là tràn khắp, tràn khắp là đi xa, đi xa là trở về. Đó là đạo thường hằng bất biến. Cái lẽ biến hóa trong trời đất giản dị vậy thay! (61) Thiên lý tuy biến hóa ra trăm đường ngàn lối, nhưng rút cuộc cũng về một mối mà thôi. Thiên hạ lo gì, nghĩ gì? Thiên hạ cùng đi về một lối dầu theo những con đường khác nhau. Trăm lo vẫn quy về một mối (62). Trong đạo ấy, « Vạn vật hóa dục mà không hại nhau, các đạo cùng thi hành mà không trái nhau » (63). Nho giáo theo chủ nghĩa « trời đất vạn vật đồng một bản thể ». Con người được trời phú cho một phần thiên lý nên có tính sáng suốt để hiểu đạo trời và biết đạo người. Dù chia ra trăm đường ngàn lối, thiên lý vẫn chỉ là một. Dầu phức tạp đến đâu, chuyển động đến đâu, manh mối vẫn phân minh. Nói về cuộc rất phức tạp trong thiên hạ mà không ghét, nói về sự rất động trong thiên hạ mà không loạn. « Vật nhiều đến thế mà đều tồn tại vì có bản chất nhất nguyên. Di động đến thế mà đều chuyển vận vì nguyên thủy không phải là hai. Vật không lầm lẫn vì theo trật tự thiên nhiên, nên tuy phồn tạp mà không rối loạn » (Vương Bột).

     « Gốc vốn chỉ là Thái Cực. Vạn Vật đều bẩm thụ Thái Cực ấy. Mặt trăng ở trên trời vốn có một, mà dưới sông, hồ, chỗ nào cũng thấy trăng » (Chu Tử). Dịch học là con đường trở về bằng Nhất Nguyên lưỡng cực, tư tưởng căn bản của đạo học Đông phương. Nhất nguyên là chỗ bất di bất dịch của Đạo. Sự thường trụ bất biến, gọi là luật Thường (hay là luật Quân Bình). Động hay tĩnh là do luật Thường chi phối (động tĩnh hữu thường). Vạn vật trong trời đất đều chuyển động, nhưng nhờ có luật Thường nên động mà không loạn. Trời đất vận hành theo Xuân Hạ Thu Đông, nhưng luật vận hành không thay đổi, và nhịp vận hành lúc nào cũng như một.

     6. Luật Thời Cơ

     Các học giả ca tụng công đức của Khổng Tử : « Ngài nói điều gì cũng ôn hòa hàm súc, làm việc gì cũng ngay chính, tiến thoái phân minh, động tĩnh hợp thời... Nên làm quan thì làm quan, nên thôi thì thôi, nên lâu thì lâu, nên mau thì mau, là đức Khổng Tử vậy » (Mạnh Tử).

     Người quân tử theo thời cơ mà hành động (64). Cơ là phần tinh vi nẩy ra lúc sắp động, Con người phải theo dõi, suy nghĩ chín chắn để khi làm, biết rõ cái cơ đã làm được hay chưa. Có cơ làm được mà không làm là dại, chưa có cơ làm được mà làm, là uổng công và nguy hiểm. Nghiên cứu cái cơ đến chỗ cực thâm mới thông suốt được cái chí của thiên hạ. Dịch học vụ về cái học « Tri cơ, cùng lý », để từ đó biết được thời cơ và đoán biết việc tương lai. Khổng Tử gọi cái công phu « tri cơ » là lặng lẽ mà biết. Công phu học hỏi của thánh nhân là phải biết ôdò đến chỗ sâu kín nhất của tâm hồn, tìm đến chỗ u uẩn của nó, cũng như thả câu xuống vực sâu, tới miền sâu thẳm nhất của tâm hồn hầu tiếp xúc với nguồn gốc ấy. Phép « nghiên cơ » là trọng tâm của phép tu dưỡng (tu tâm dưỡng tính). Bàn về công phu nghiên cơ, Trình Tử nói : « Từ xưa, ai cũng cho rằng có tĩnh mới thấy được cái tâm của trời đất. Nhưng ta cho rằng có động mới thấy được cái tâm của trời đất ». Nghiên cơ và cùng lý bổ túc cho nhau để tri hành hợp nhất. Nghiên cơ là Tâm Học, Đạo Học, cùng lý là Lý Học, Khoa Học. Một bên tìm đến chân tâm của trời đất, một bên tìm sự cùng kỳ lý của vạn vật. Đó là nội dung của Dịch học, nhất nguyên mà lưỡng thể.

     « Đạo Dịch chỉ có chữ thời mà thôi » (65). Chữ thời vụ về Trung Chánh, gọi là Thời Trung. Thời, không phải là xu thời phụ thế, mà là biết tùy thời mà thuận, tùy thời mà chống. Thời là biến, mà là biến đúng thời, đúng lúc, đúng đạo Trung Dung. Trung là tri, Dung là hành. Trung là thể (bản thể), Dung là dụng (công dụng), Trung Dung là Tri Hành hợp nhất. Thể và dụng là một, tri và hành cũng là một.

     Trung Dung để giữ quân bình cho vạn vật. « Trong một nền văn minh cao, những cặp mâu thuẫn luôn giữ được mức quân bình. Trái lại, cái gì đi một chiều biểu thị cho dã man » (Carl Jung). Trong các xã hội độc tài, cái gì cũng một chiều, không ai dám đi ngược lại. Đó là trạng thái dã man, tàn bạo. Tôn giáo mà thành quốc giáo cũng là dã man (Nguyễn Duy Cần).  Quan niệm tùy thời không trái với quan niệm hiếu cổ. Hiếu cổ mà không tùy thời là lạc hậu. Tùy thời mà không hiếu cổ thì rối loạn. Xã hội Việt Nam thời xưa vì quá thủ cựu, không chịu tùy thời mà canh tân biến đổi, nên mới bại vong. (Nhật bản, Thái Lan biết tùy thời mà vẫn hiếu cổ). Hiện nay với kinh tế thị trường, con người mải miết chạy theo tài lợi mà bỏ hết tín nghĩa. Kết quả, xã hội vẫn bất công, vong bản, mà con người vẫn không tìm thấy hạnh phúc bản thân. Hơn bao giờ hết, con người Việt Nam ngày nay phải trở về với Trung Dung, với Dịch, với Đạo.

     Điện Khí và Dịch

     Để diễn giảng Dịch Đạo, chúng ta hãy áp dụng những nguyên lý âm dương vào điện học.

     1. Thái cực (Lý). Trong trời đất có điện (sét nổ khi trời giông bão).

     2. Lưỡng Nghi. Điện phát ra bởi hai cực âm dương. Một âm một dương gọi là Đạo. Âm dương giao hợp mà thành điện.

     3. Điện âm và điện dương chế ra máy móc cơ khí, biến hóa thành thiên hình vạn trạng (vạn tượng).

     4. Điện âm điện dương tương khắc, chạm nhau là nảy lửa.

     5. Nhưng vẫn tương sinh, tương thành để tạo nên điện lực.

     6. Dây điện âm và dây điện dương có hình (vật chất).

     7. Điện lực vô hình gọi là khí (điện khí).

     8. Điện âm và điện dương không tương tàn, tương sát, mà tương ứng tương hòa, làm thành điện khí, đem lại khoa học, văn minh, tiến bộ cho loài người.

     9. Con người nhìn điện trên trời mà phát minh ra điện dưới đất (Thiên nhân tương hợp).

     10. Điện thường là thiện, sáng chế ra máy móc, khoa học kỹ thuật, đem lại dụng cụ, tiện nghi, sinh thú cho con người.

     Nhưng cũng có khi bất thiện. Chiến tranh với vũ khí tối tân gây chết chóc, tàn phế cho hàng chục triệu con người. Chiến tranh nguyên tử, nếu xảy ra, có thể tiêu diệt nhiều dân tộc hay toàn thể nhân loại.

      11. Trong phúc có họa, khoa học mà không có đạo học thường gieo tai họa cho tâm hồn.

     12. Trong họa lại có phúc. Vì có hiểm họa chiến tranh nguyên tử toàn diện, nhân loại mới ý thức được thời cơ phải tài giảm binh bị, giải thể vũ khí hạch tâm để chung sống hòa bình và cộng tác về khoa học kỹ thuật và bảo vệ môi sinh. Trong kỷ nguyên thế giới hòa bình, các kinh phí quốc phòng sẽ được tiết giảm để có phương tiện phát triển kinh tế xã hội và văn hóa giáo dục.

     13. Khoa học Tây phương (tượng trưng bởi điện) rồi đây sẽ phối hợp với đạo học Đông phương (tượng trưng bởi Dịch) để xây dựng thế giới Đại Đồng, đem lại Thái Hòa cho nhân loại.

Phiên âm

(40) Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ (Luận Ngữ)

(41) Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc (Luận Ngữ)

(42) Bất học Thi vô dĩ ngôn; bất học Lễ vô dĩ lập (Luận Ngữ)

(43) Danh bất chính tắc ngôn bất thuận; ngôn bất thuận tắc sự bất thành (Luận Ngữ)

(44) Tử tại Tề, văn Thiều, tam nguyệt bất tri nhục vị (Luận Ngữ)

(45) Nhạc giả, thiên địa chi hòa; Lễ giả, thiên địa chi tự (Lễ Ký)

(46) Nhạc cực hòa, Lễ cực thuận (Lễ Ký)

(47) Trung nhân chi tình, hữu dư tắc xỉ, vô cấm tắc dâm, vô độ tắc thất, túng dục tắc bại (Khổng Tử tập ngữ)

(48) Lễ tiết dân tâm, nhạc hòa dân thanh, chính dĩ hành, hình dĩ phòng. Lễ nhạc hình chính, tứ đạt bất bội, tắc vương đạo bị (Nhạc Ký)

(49) Nhân nhi bất nhân như lễ hà? Nhân nhi bất nhân như nhạc hà? (Luận Ngữ)

(50) Tam nhân hành tắc tổn nhất nhân, nhất nhân hành tắc đắc kỳ hữu (Dịch)

(51) Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu (Dịch)

(52) Dương dĩ Âm vi cơ, Âm dĩ Dương vi xướng (Dịch)

(53) Thiên chi đạo : Tổn hữu dư, bổ bất túc (Dịch)

(54) Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong (Dịch)

(55) Biến giả, hóa chi tiệm; hóa giả, biến chi thành (Dịch)

(56) Quân tử an bất vong nguy, tồn bất vong vong, trị bất vong loạn (Dịch)

(57) Vô dục tốc, vô kiến tiểu lợi : Dục tốc bất đạt, kiến tiểu lợi, đại sự bất thành (Luận Ngữ)

(58) Âm trung hữu dương căn, dương trung hữu âm căn (Dịch)

(59) Họa trung hữu phúc, phúc trung hữu họa (Dịch)

(60) Thái cương tắc chiết (Dịch); (Nhu đạo và Thái cực Đạo xuất phát từ Dịch đạo)

(61) Dị giản nhi thiên địa chi lý (Dịch)

(62) Thiên hạ hà tư hà lự. Thiên hạ đồng quy nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự (Dịch)

(63) Vạn vật tịnh dục nhi bất tương hại. Đạo tịnh hành nhi bất tương bội (Dịch)

(64) Quân tử kiến cơ nhi tác (Dịch). Quân tử đãi thời nhi động (Dịch)

(65) Dịch đạo chỉ thị thời (Dịch)

Đó là cơ may của loài người trong thế kỷ thứ 21 đang đến với thế hệ chúng ta.

    Dầu không có các tu sĩ và các nhà truyền đạo, Nho Giáo đã được truyền bá qua Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản. Tại Trung Hoa và Việt Nam, với quan niệm trong văn học, tầng lớp nho sĩ (sĩ phu) lãnh đạo các giới công nông thương. Trong khí đó tại Triều Tiên và Nhật Bản, giai cấp võ sĩ quý tộc đứng ra lãnh đạo xã hội. Ở đây, quan niệm thiên mệnh được giải thích hết sức chặt chẽ và các dòng vua thường trị vì liên tục trong nhiều thế kỷ. Tại Nhật Bản, Hoàng đế là thần linh, thuộc dòng dõi Thái Dương Thần Nữ. Minh Trị Thiên Hoàng là vương hiệu của một vị anh quân, tự xưng là « Hoàng đế nhà trời » (Thiên Hoàng), Trong lịch sử Nhật Bản, chỉ có một dòng họ làm vua mà thôi.

     Nho giáo tại Nhật Bản

     Võ sĩ Đạo. Lãnh chúa Yamaga Soko trong thế kỷ 17 viết về Võ Sĩ Đạo Nhật Bản theo tôn chỉ Nho học. Thời thiếu niên, Yamaga nghiên cứu Nho học, Đạo học, Phật học và Thần học. Quan điểm của ông thiên về các giáo lý trung hiếu tín nghĩa của đạo nho. Theo ông, 3 đặc tính của người võ sĩ Nhật Bản là (1) tiết dục, (2) tự chế, (3) vì nghĩa hiến mình.

     « Đạo của người võ sĩ là tu thân, trung với vua, tín với bạn và dốc lòng làm điều nhân để làm sáng tỏ thiên tước và địa vị của mình. Trong đời sống riêng tư, người võ sĩ phải làm tròn các nghĩa vụ về cha con, anh em, vợ chồng. Các giới công, nông, thương vì bận mưu sinh nên không có điều kiện học đạo. Trong khi đó, người võ sĩ suốt đời chỉ chú tâm vào việc học và hành đạo mà thôi, Do đó, nếu trong đám thứ dân có kẻ nào vi phạm các nguyên tắc tinh thần và tổ chức xã hội, người võ sĩ phải ra tay chế tài ngay để duy trì kỷ cương đạo đức. Nếu chỉ biết các nguyên lý về võ thuật và nhân đạo mà không đem ra thi hành thì cũng như không. Vì vậy, về mặt xử thế, người võ sĩ phải sẵn sàng đứng lên làm tròn các nghĩa vụ trong ngũ luân về vua tôi, cha con, bạn hữu, anh em, vợ chồng. Trong tâm hồn, họ phải giữ sự bình thản của một nho sĩ, nhưng ngoài xã hội, họ phải sẵn sàn tuốt gươm hành nghĩa. Cũng vì vậy mà họ được ba giới công, nông, thương kính trọng làm thầy. Theo lời huấn dụ của họ, các giới bình dân biết phân biệt đâu là chính, đâu là phụ ».

     Sự tích 47 võ sĩ khuyết sư

     Yamaga là sư phụ của nhiều thế hệ võ sĩ trong đó có vị võ sư của Võ Sĩ Khuyết sư. Vị lãnh tụ này bị cưỡng bức phải tự sát trong triều. Các môn đệ của ông gồm 47 võ sĩ khuyết sư minh thệ sẽ báo thù cho thầy. Và sau khi thi hành mưu kế hạ sát kẻ thù, 47 võ sĩ đã đồng loạt tự sát.

     Văn chương Nhật bản không ngớt ca tụng nghĩa khí của 47 võ sĩ khuyết sư hành hiệp và hy sinh vì đại nghĩa. Đời nhà Hán vào thế kỷ thứ nhất công nguyên, các du khách Trung Hoa viếng thăm Nhật Bản có nhắc đến đạo Thần Linh của người Nhật; coi núi, sông, mây, gió, sấm sét đều có thần ngự trị. Tới thế kỷ thứ năm, các đạo Nho, Lão, Phật, được đồng thời truyền bá qua Nhật cùng với Hán tự. Lúc này dòng họ Yamato nắm giữ ngôi vua. Đến thế kỷ thứ bảy, quốc vương Shotuko ban hành hiến pháp gồm 17 điều, trong đó có điều 3 phỏng theo Nho Giáo, « Trời là Minh đế, Đất là chư hầu. Trời che, đất chở, bốn mùa chuyển hành, vạn vật hóa sinh ».

     Khác với tại Trung Hoa và Việt Nam, giai cấp võ sĩ quý tộc lãnh đạo Nhật Bản. Giai cấp này được độc quyền tham dự các kỳ thi để tuyển chọn người làm việc nước. Quan niệm lưỡng nghi (âm dương), và ngũ hành, (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) cũng được phổ biến đồng thời với quan niệm hòa đồng giữa con người và thiên nhiên.

     Tới thế kỷ thứ 16, Nho giáo trở thành cực thịnh tại Nhật Bản với học thuyết của Chu Tử (Chu Hi). Đức vua Tokugawa Ieyasu rất ngưỡng mộ vua Đường Thái Tôn. Ngài chia xã hội thành tứ dân, (võ sĩ, công, nông, thương) phỏng theo trật tự thiên nhiên. Nho sĩ Hayashi Razqn viết : trời cao đất thấp. Đó là trật tự thiên nhiên. Nếu ta biết được sự định phận trên dưới của Trời Đất thì ta cũng hiểu trật tự xã hội và sự cai quản trên dưới trong xã hội. Định phận trên dưới thì không tranh đoạt nhau, cho vua ra vua, tôi ra tôi. Sự phân chia thành tứ dân : võ sĩ, nông, công, thương, cũng như năm mối tương quan giữa vua tôi, cha con, anh em, bạn hữu... là những nguyên lý của trời đất mà các thánh nhân đã căn cứ vào đó mà lập đạo. Theo lời đề nghị của Hayashi, vua Tokugawa cho dựng Văn Miếu thờ đức Khổng Tử, xây điện Thái Hòa để giảng dạy Tứ Thư Ngũ Kinh và mở trường Thái Bình Thịnh Trị làm trung tâm truyền bá Nho học.

     Tri hành hợp nhất.

    Đồng thời với Yamaga, nho sĩ Nakae đề cao học thuyết Tri Hành Hợp Nhất của Vương Dương Minh, bổ sung cho chủ trương cách vật trí tri của Khổng Tử và Chu Tử, Vương Dương Minh lấy trí lương tri hay tri giác để ngộ đạo. Theo Nakae, con người được hấp thụ một phần thiên lý nên bản tính vốn thiện. Với trực giác sáng suốt, con người hiểu rõ đạo lý. Tuy nhiên nếu biết đạo mà không thi hành đạo thì cũng như không. Do đó, sau khi hiểu rõ Đạo (tri) phải biết thi hành Đạo (hành). Nhân nghĩa chỉ có giá trị nếu được thực hiện bằng những hành động cụ thể. Trong khi các nho sĩ Trung Hoa chủ trương Thiên Mệnh không thuộc hẳn về ai, thiện thì được, bất thiện thì mất (Trời không thân riêng với ai, chỉ giúp người có đức), thì các võ sĩ Nhật coi vương quyền là thần quyền và khuyên mọi người phải tuyệt đối tuân phục. Do đó, trong lịch sử Nhật Bản chỉ có một dòng họ duy nhất trị vì, nhân danh thừa kế của Thái Dương Thần Nữ.

     Chỉ Dụ Giáo Dục của Minh Trị Thiên Hoàng. (1890)

     Hỡi các thần dân!

     Các bậc tiên vương đã gây dựng đất nước này trên quy mô rộng lớn và trường cửu và đặt ra những căn bản đạo đức vững bền. Qua bao thế hệ, quốc dân đã nhất trí trong tinh thần Trung Hiếu làm rạng rỡ quê hương. Vinh quang là đặc tính của quốc gia đặt căn bản trên Đạo học. Hỡi các thần dân, các con phải hiếu thảo với cha mẹ, thương mến anh chị em, hòa thuận giữa vợ chồng, thành tín với bạn hữu. Phải ôn hòa và khiêm cung, làm điều nhân chính với mọi người. Học và trau giồi văn chương nghệ thuật, phát triển các khả năng trí tuệ, kiện toàn các đạo lý cổ truyền. Hãy làm việc công ích và đề cao công nghĩa. Hãy tôn trọng Hiến Pháp và tôn theo luật pháp. Khi quốc biến, hãy can đảm hiến thân cho Tổ Quốc. Hãy bảo vệ sự cường thịnh của Ngôi Thiên Hoàng được tạo lập cùng với Trời đất. Như vậy, các con sẽ xứng đáng là những thần dân trung tín và sẽ làm vẻ vang cho truyền thống cao đẹp của Tổ Tiên.

     Đạo này được giảng dậy bởi các bậc Tiên Đế cho các Hậu Duệ cùng các thần dân để thi hành qua bao triều đại và ở khắp mọi nơi. Ta muốn các con ghi lấy làm lòng với niềm tôn kính chung. Để cùng tất cả các thần dân, chúng ta có thể đạt đến đạo đức chung.

     Chỉ dụ Đầu Năm 1946 Của Nhật Hoàng Hirohito (Sau Đệ Nhị Thế Chiến)

     Lấy Võ Sĩ (thay vì nho sĩ) làm giai cấp lãnh đạo, Nhật Bản trọng võ học hơn văn học. Với tinh thần hiếu thắng và tự tôn, người Nhật đã bắt chước các đế quốc Tây phương, xâm lăng Đông Nam Á, để thành lập một đế quốc mới, mệnh danh là Khối Đại Đông Á. Ý đồ này hiện rõ sau khi Nhật thắng Nga tại Lữ Thuận năm 1905. Kết cuộc, Nhật Bản đã bị Hoa Kỳ và Đồng Minh đánh bại năm 1945. Tướng Mc-Arthur đã khuyến cáo và hướng dẫn Nhật Bản ban hành tân Hiến Pháp, tách rời tôn giáo (Thần Đạo) với Nhà Nước, gĩa từ chiến tranh và phủ nhận nguồn gốc thần linh của Nhật Hoàng. Mấy tháng sau khi đầu hàng vô điều kiện. Nhật Hoàng ban chỉ dụ ngày 1-1-1946 dưới đây : « Nhân dịp chào mừng năm mới, chúng ta nhớ lại tuyên ngôn của Minh Trị Thiên Hoàng với 5 nguyên tắc căn bản trong Hiến Chương ban hành từ khi khai mở kỷ nguyên Minh Trị ».

     Hiến Chương viết :

     1. Các cơ quan nghị viện thảo luận được thiết lập và mọi chính sách căn bản phải được quyết định theo đúng quyết định của quốc dân.

     2. Các giai cấp từ trên xuống dưới đều bình đẳng và thống nhất để cùng chung nỗ lực thực thi công vụ quốc gia.

     3. Mọi từng lớp dân chúng, dân chính cũng như quân nhân, được hưởng cơ hội đồng đều để thực hiện những sở nguyện chính đáng của mình, không còn bất mãn hay tranh chấp.

     4. Mọi tập tục lỗi thời cổ xưa phải bị dẹp bỏ để cho Công Bằng và Công Lý là căn bản của mọi hành động, được thực thi do sự điều hành của thiên nhiên.

     5. Minh Triết và Tri Thức sẽ được phổ biến trong thiên hạ phù hợp với lợi ích của quốc gia.

Cho đến nay, những nguyên tắc ghi trong Hiến Chương vẫn giữ nguyên giá trị là những lý tưởng cao đẹp. Chúng ta ước mong phục hồi lời minh thệ này để phục hưng đất nước. Chúng ta xác định giá trị các nguyên tắc trong Hiến Chương và tìm cách loại trừ các tập quán sai lầm trong quá khứ. Theo đúng nguyện vọng của quốc dân, chúng ta cùng nhau xây dựng lại một nước Nhật Bản mới, hiếu hòa, trong đó toàn dân được hưởng văn hóa giàu thịnh với mức sống ngày một nâng cao.

     Sự tàn phá của chiến tranh đem lại tình trạng đau thương, các thị trấn chịu cảnh khốn cùng, bế tắc về thương mại, thiếu thốn lương thực, gia tăng thất nghiệp. Dầu sao, đất nước vẫn đứng vững, toàn dân đoàn kết để đối phó với thử thách mới và để rồi đây văn minh sẽ được phát huy trong hòa bình, đem lại tương lai sáng lạn chẳng những cho quê hương chúng ta mà cho cả nhân loại.

     Tình yêu gia đình và tình yêu quê hương là những đặc tính sở trường của dân tộc ta. Với quyết tâm hơn nữa, chúng ta sẽ nỗ lực đạt tới tình thương nhân loại (...) Những gì gắn bó dân tộc ta phải đặt căn bản trên lòng tín nhiệm và tình tương thân tương ái, chứ không thể dựa vào các truyền thuyết hay thần thoại. Cũng không thể căn cứ vào giả thuyết sai lầm rằng Hoàng Đế là thần linh và dân tộc Nhật Bản được đứng trên các dân tộc khác nên được giao phó nghĩa vụ cai quản thế giới (...) Cùng nhau chúng ta giữ vững niềm tin. Chúng ta sẽ can đảm vượt qua mọi thử thách để đem lại sự phát triển về kỹ nghệ và văn học. Cùng nhau chúng ta sẽ hành động trong tình đoàn kết, với ý thức tương trợ và bao dung, và dân tộc ta sẽ tỏ ra xứng đáng với những truyền thống cao đẹp nhất.

     Với ước nguyện đầu năm, chúng ta kỳ vọng toàn dân sẽ cùng chung xức xây dựng công cuộc phục hưng này, trong tinh thần dấn thân bất khuất.

     Nho Giáo Tại Triều Tiên

     Theo dã sử, Triều Tiên lập quốc từ hơn hai ngàn ba trăm năm trước Tây lịch, thủ đô đặt tại Asadal gần Bình Nhưỡng (Bắc Hàn). Cũng như tại Nhật Bản, tôn giáo nguyên thủy của Triều Tiên là Đa Thần, dân chúng thờ các thần thiên nhiên như Núi Sông, Mây Gió, Sấm Sét... Nho giáo du nhập vào Triều Tiên hồi thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch và Phật Giáo vào thế kỷ thứ ba sau Tây lịch. Trong 4 thế kỷ, ba đạo Thần, Khổng, Phật ngự trị tâm linh con người trong tư thế đồng tôn. Tới thế kỷ thứ 7, Phật giáo trở thành quốc giáo. Tuy nhiên ảnh hưởng của Nho giáo đã thấm nhuần trong dân gian. Tứ dân là 4 tầng lớp xã hội võ sĩ, công,nông, thương. Ngũ thường của giới võ sĩ chịu ảnh hưởng của cả ba đạo giáo (1) trung với vua, (2) hiếu với cha mẹ, (3) tín với bạn hữu (ảnh hưởng Nho), (4) không lùi bước nơi chiến trường (Võ sĩ đạo), (5) không sát sinh vô cớ (Phật).

     Hồi thế kỷ thứ 14, Quốc Vương Yi Song Gye ban hành sắc chỉ thụ nhận Thiên Mệnh và minh thệ với Trời Đất sẽ thay Trời trị vì trăm họ theo tôn chỉ vương đạo của Nho Giáo. Dòng họ Yi làm vua cho đến năm 1910 khi Nhật Bản thôn tính Triều Tiên. Vua Yi dời đô qua Hán thành (Nam Hàn), tôn Khổng Giáo làm quốc giáo, dựng Văn miếu thờ Khổng Tử. Mở trường công lập giảng dậy tứ thư ngũ kinh cho các giới để tuyển chọn nhân tài. Các nho sinh tốt nghiệp được đến bái lạy Khổng Tử và hàng năm, vào dịp mùa Xuân mùa Thu, đích thân nhà vua đến Khổng miếu để tế lễ. Dần dần với thời gian, cũng như tại Nhật Bản, giai cấp võ sĩ trở thành quý tộc lãnh đạo xã hội. Họ lập các trường tư thục dành riêng cho con cháu họ để tranh giành ảnh hưởng với các trường công lập của nhà vua.

     Nho sĩ Yi Yolgok viết về Nho Giáo, phỏng theo sách đại học Việc học Đạo là làm sáng cái đức sáng do cách vật và trí tri, là tu thân do thành ý và chính tâm. Trong cương vị cá nhân, đó là những đức tính do Trời phú cho và trong cương vị xã hội, đó là con đường Vương Đạo.

     Nho giáo đem lại những thay đổi lớn lao trong đời sống xã hội. Trước kia, có tục lệ đàn ông phải đến gửi rể nhà vợ. Từ đời vua Yi, 5 ngũ luân được áp dụng cho các tương quan về vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bạn hữu. Theo phong tục cổ truyền, thanh niên tới tuổi trưởng thành, thành hôn hay mai táng, đều theo nghi thức Phật giáo. Từ nay, lễ nghi Khổng giáo được ban hành. Trật tự xã hội mô phỏng theo trật tự thiên nhiên. Vi phạm trật tự xã hội là phạm tội với Tròi, Giới quý tộc được hưởng nhiều đặc quyền, đặc miễn. Họ họp thành một giai cấp lãnh đạo khép kín với nhiều nghi lễ phiền phức. Các tầng lớp thứ dân không được kết hôn với người quý tộc, Đàn bà góa chồng không được tái giá. Thiếu niên được giáo dục theo tinh thần « tiên học lễ, hậu học văn ». Phương châm là vua lễ, tôi trung; cha từ, con hiếu; anh nhường, em kính; chồng hòa, vợ thuận và bạn hữu tin nhau.

     Về mặt đối ngoại, Triều Tiên là một thuộc quốc của Trung Hoa. Vào thế kỷ thứ 16, khi Nhật Bản xâm lăng, Triều Tiên được Trung Hoa giải cứu. Qua thế kỷ 17, khi nhà Minh bị nhà Mãn Thanh lật đổ, Triều Tiên không chịu thần phục người Mãn Châu mà họ cho là dân di dịch bắc phương. Do đó, Triều Tiên tự hào vẫn giữ được truyền thống chính truyền của Nho Giáo. Các vua dòng họ Yi trị vì liên tục trong 6 thế kỷ, được lịch sử ca tụng như các vua hiền, khiêm cung, nhân ái, thấm nhuần lý tưởng Nho giáo hơn các vua chúa Trung Hoa thời đó.

     Pháp bất vị thân

     Vào thế kỷ thứ mười 18, vua Yonjo rất hâm mộ Nho giáo. Vua học tứ thư ngũ kinh, xuất xử theo lễ nghi và đạo đức cổ truyền. Vua ngày đêm thúc giục hoàng tử cố gắng trau dồi giáo lý để sau này kế nghiệp vua cha. Vì tinh thần bị thúc bách căng thẳng, hoàng tử nổi điên và mưu toan giết cha. Vua Yonjo bị đặt vào tình trạng nan giải : hoặc thi hành luật pháp và phải xử tử con, hoặc vì tình cha con mà tha tội chết cho hoàng tử. Rốt cuộc, nhà vua đã chọn giải pháp công lý và hoàng tử đã bị hành quyết trong ngục. Chuyện này nhắc ta đến giả thuyết « Cổ tẩu giết người » của Đào Ứng, một môn đệ của Mạnh Tử.

     Tổng kết lại. Nho học đã thành công rực rỡ tại Nhật Bản và Triều Tiên trong việc xây dựng một chế độ có kỷ cương, một vương quyền trọng nhân chính, một giai cấp lãnh đạo liêm khiết, một mẫu người lễ nghĩa trung tín, trọng danh dự, trách nhiệm và pháp luật trong tình thuận thảo và hợp quần.

     Trong kỷ nguyên hiện đại, với tinh thần tri hành hợp nhất và ôn cố tri ân, giới lãnh đạo đã biết du nhập khoa học kỹ thuật, áp dụng dân chủ pháp trị để phát triển kinh tế thị trường và đạt tới mục tiêu dân giàu nước mạnh và xã hội văn minh. Giai cấp võ sĩ quý tộc đã biết rút kinh nghiệm về bài học phiêu lưu đế quốc do tính võ đoán hiếu thắng cực đoan của phe quân phiệt cuồng tín đã từng đưa đất nước đến đổ nát tan hoang thời đệ nhị thế chiến. Ngày nay nhờ tinh thần đoàn kết, tôn trọng lễ nghĩa, học vấn và kỷ cương pháp luật, các quốc gia thấm nhuần tư tưởng Nho giáo đã biến thành những con rồng kinh tế tại Á Châu Thái Bình Dương. Đó là bài học lịch sử quý báu cho Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn trong những năm còn lại của thế kỷ 20.

     Nho học theo các học giả Tây Phương

     Trong thế kỷ thứ 18, mệnh danh là thế kỷ Ánh Sáng, một số triết gia, nhà văn, nhà giáo Âu Châu đề nghị chọn Nho Học làm mẫu mực cho văn hóa Tây Phương. Đối chiếu với các tôn giáo cuồng tín và quá khích làm đảo lộn đời sống tâm linh và xã hội đương thời, họ công nhận và đề cao nền giáo lý nhân bản, bao dung và duy lý của Khổng Tử.

     Triết gia Leibnitz, người Đức, nhiệt liệt ca tụng kinh Dịch mà ông đã nghiên cứu và từ đó rút ra những nguyên lý khoa học, như thuyết nhất nguyên về bản chất trong sinh học và thuyết lưỡng thể về toán học.

     Văn hào Voltaire, người Pháp, phổ biến các giáo lý Nho học và sáng tác vở kịch « Đạo đức Khổng Giáo » gồm 5 hồi. Trong số các học giả, nhà văn, nhà thơ Tây Phương chịu ảnh hưởng và tán dương Khổng Tử, ta còn có thể kể Goethe (Đức), Diderot (nhóm Bách Khoa Pháp), Alexander Pope, Charles Lamb, Bertrand Russell (Anh), và John Dewey (Hoa Kỳ).

     Bàn về nguyên nhân sự phát triển kinh tế vượt bực hiện nay của một số quốc gia Đông Nam Á, các tác giả Thomas và Dorothy Hoober viết : « Các giá trị tinh thần của Nho Giáo là những động lực đem tới sự thành công rực rỡ về kinh tế tại các quốc gia thuộc Vòng Đai Thái Bình Dương ».

     Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã trở thành một siêu cường kinh tế. Nối gót không xa là « bốn con hổ » Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kông và Tân Gia Ba. Tại các quốc gia này, các giá trị tinh thần của Nho Giáo được phổ biến và áp dụng trong đời sống hàng ngày. Tôn trọng kỷ cương là nguyên tắc. Người dân chịu khó làm việc chuyên cần và nhiều giờ tại các xí nghiệp và văn phòng. Phương châm là hợp tác chủ thợ. Mọi quyết định quan trọng phải được sự tán đồng của cả hai bên. Nhưng một khi đã có quyết nghị, thì tất cả mọi người phải góp sức cộng tác để đạt được mục tiêu.

     Các công nhân viên thường tự nguyện làm thêm giờ và nhiều khi họ phải hy sinh cả những ngày nghỉ có trả lương để hoàn thành công việc. Tại nhiều xí nghiệp, mỗi buổi sáng, chủ thợ cùng hát bài « xưởng ca », và công ty được coi như một đại gia đình.

     Dầu sao, gia đình cổ truyền vẫn là đơn vị căn bản trong xã hội. Tinh thần chung là thân thiện và hòa thuận. Tỷ lệ phạm pháp rất thấp tại các quốc gia Vòng Đai Thái Bình Dương... Lý do là vì ai cũng muốn bảo toàn danh dự gia đình, sợ không dám làm điều gì trái phép để gây tai tiếng cho dòng họ.

     Sự tôn kính các bậc huynh trưởng không chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình. Thầy giáo rất được trọng nể. Học trò coi thầy cô như cha mẹ, và kỷ luật học đường được tôn trọng một cách tự nhiên.

Trong khi các công nhân viên xí nghiệp làm việc chuyên cần thì các học sinh, sinh viên, học hành chăm chỉ. Ước vọng của họ là được trúng tuyển vào các trường đại học danh tiếng, cũng giống như tổ phụ họ khi xưa mơ ước được thi đỗ, có bảng vàng đề tên.

     Trong thế giới tân tiến hiện nay, Khổng Tử vẫn nói lên những lời minh triết, đầy thuyết phục. Như từ thuở xa xưa, người dân chỉ mong ước được sinh sống trong xã hội kỷ cương, có sự hòa đồng giữa con người và thiên nhiên, và giữa người với người, có tình nhân ái, lương thiện, nghĩa lý và trung tín. Theo Khổng Tử, muốn giải quyết thỏa đáng những vấn đề quốc gia xã hội, trước hết con người phải biết tu thân. Từ 25 thế kỷ nay, những nguyên lý tinh thần của nho giáo vẫn giữ nguyên giá trị. Dầu là một tôn giáo hay triết học, Khổng Giáo vẫn duy trì được sức mạnh tinh thần và trường tồn với thời gian.

Nhuệ Hồng (Mùa xuân 1995)

Điều trị bệnh thoái hóa khớp

Điều trị bệnh thoái hóa khớp

16/10/2019

Mục đích của việc điều trị là giúp giảm sưng và đau, hạn chế đến mức tối thiểu sự tàn phá gây ra tàn phế, tăng cường phẩm chất cuộc sống...

Nước dùng từ củ quả

Nước dùng từ củ quả

03/10/2019

Giới thiệu với các bạn một số cách nấu nước dùng từ củ quả, ngọt thanh mát, nước trong vắt, thậm chí không cần xương luôn. Cách nấu nước dùng này rất hợp với người ăn kiêng hoặc ăn chay, mời các bạn tham khảo.

Art