Thánh Lễ Phụng Vụ Tạ Ơn
- Từ ngữ “Hiến lễ tạ ơn”
Hỏi: Quả thật, con mù tịt với từ ngữ “Hiến lễ tạ ơn”. Ngày nay người ta thường dùng từ này thay cho Rước lễ và Thánh lễ. Tại sao không dùng chữ Thánh lễ hay Rước lễ cho giản tiện?
Đáp: Từ ngữ “Hiến lễ tạ ơn” bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “Eucharistein”, có nghĩa là Dâng lời tạ ơn. Đây là một trong những từ cổ nhất để chỉ bữa tiệc tạ ơn giữa những người Ki-tô hữu, bởi vì đó là mục đích đầu tiên, để tưởng nhớ việc Chúa đã làm cho ta trong Đức Giê-su Ki-tô, và tạ ơn Ngài về việc ấy.
Thật sự từ này mang nhiều ý nghĩa đặc trưng hơn từ ngữ “Thánh lễ”. Từ ngữ Thánh lễ đơn giản chỉ là biến thể của một cụm từ Latinh “Ite missa est” một công thức kết thúc thánh lễ.
Dĩ nhiên giáo hội trở lại dùng từ ngữ này qua nhiều cách. Chẳng hạn, cử hành thánh lễ được chia thành hai phần: phụng vụ lời Chúa và phụng vu Thánh thể.
Kinh nguyện dài mà chủ tế đọc và cộng đoàn đáp lại, trong đó kể lại việc thiết lập Hiến tế tạ ơn được gọi là “Kinh nguyện Thánh thể”. Kinh nguyện ấy khởi đầu bằng câu: “Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta” và cộng đoàn đáp: “Thật là chính đáng để tạ ơn và tôn vinh Chúa”.
- Tại sao Thánh lễ lại khác nhau?
Hỏi: Thông thường chúng ta có thể tham dự Thánh lễ ở bất cứ nhà thờ nào, và ở đâu cũng như nhau. Nhưng hiện nay mỗi nơi lại mỗi khác, tại sao thế? Hơn nữa, tại sao họ không dùng cùng một sách lễ cho đồng bộ?
Đáp: Để câu trả lời được rõ ràng hơn, chúng ta nên ôn lại một chút lịch sử về Thánh lễ.
Trong suốt 15 thế kỷ đầu của lịch sử giáo hội, không phải mọi nhà thờ đều cử hành thánh lễ như nhau. Nhất là trong vài thế kỷ đầu, cử hành Hiến lễ tạ ơn thực sự là một cuộc ăn mừng. Cử chỉ, lời nói, âm nhạc và bầu khí chung của thánh lễ khác nhau tùy theo những người hiện diện, thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh sống của họ…
Vì nhiều lý do, thánh lễ hết còn là một biến cố mà cộng đoàn tham dự vào như những thành phần của thân thể Đức Ki-tô Phục sinh. Dần dần nó trở thành gần như một nghi lễ thánh do vị linh mục chủ động và cộng đoàn còn lại chỉ được mời gọi đến “xem” một cách thành kính.
Vào thời Công đồng Tridentino, thế kỷ 16, phần lớn lịch sử của thánh lễ như chúng ta biết ngày nay hầu như bị lãng quên. Tuy nhiên, các giám mục tại công đồng ấy phải đương đầu với nhiều cuộc tấn công của giới lãnh đạo phong trào cải cách Tin lành chống lại Thánh lễ và bí tích Thánh thể.
Chúng ta có thể dễ dàng hiểu được thái độ của các ngài chống lại các cuộc tấn công đó bằng cách chọn một hình thức thánh lễ - hình thức đang được dùng ở Rô-ma thời đó – và tuyên bố rằng đó là hình thức duy nhất được phép cử hành trong Giáo hội Tây phương. Mọi cử chỉ và lời nói được giải thích rõ ràng từng chi tiết. Cấm không được lựa chọn cách nào khác, không được phép thay đổi bất cử điều gì.
Một thời gian lâu trước công đồng Vaticano II, các vị lãnh đạo giáo hội ý thức rằng lối phụng vụ lãnh lẽo ấy cản trở sự tăng trưởng của lời kinh phụng vụ đích thực lẫn sự thờ phượng. Phải làm cái gì đó để nới lỏng bớt. Mục đích của việc thay đổi không chỉ để thay đổi, nhưng để mọi người ở những lứa tuổi, thời đại, tính khí và hoàn cảnh khác nhau có thể làm cho thánh lễ trở nên một cuộc cử hành thờ phượng đích thực và sống động trong đời sống Ki-tô hữu.
Những biến đổi mà bạn muốn nói, ngày nay đã được phép một cách đặc biệt và được nhắc tới trong những huấn thị chính thức về cử hành thánh lễ. Có nhiều cách chọn lựa các bài đọc Kinh thánh, lời nguyện hay lời khuyên bảo có kèm theo ghi chú là linh mục “có thể đọc lời này hay lời tương tự”. Được phép chọn lựa cách rộng rãi trong lãnh vực âm nhạc, cử điệu. Chẳng hạn, tùy theo tập tục của địa phương mà có lời chúc lành bình an khác nhau.
Khi bạn tham dự một thánh lễ khác với thánh lễ bạn quen dự, tại sao bạn không dằn lòng một tí, cố gắng đi vào tinh thần và chia sẻ thánh lễ ấy trong mức độ có thể? Nhượng bộ một chút và cố gắng chia sẻ những cảm nhận của người khác có thể trở thành một cử chỉ bác ái đích thực đối với người chung quanh cũng như đối với chính bạn.
- Phụng vụ đa văn hóa
Hỏi: Con đọc báo thấy giáo hội cho phép sử dụng những tập tục rất kỳ lạ trong thánh lễ ở các nước ngoài. Các nghi lễ hindu ở Ấn độ, các điệu múa ở các bộ tộc Phi châu, và ngay cả việc thờ cúng tổ tiên tại Trung quốc. Con hiểu mọi sự đang thay đổi, nhưng lẽ nào thánh lễ nơi này lại có thể khác nơi kia sao?
Đáp: Thánh lễ luôn luôn giống nhau trong những điều cốt yếu, tưởng niệm cuộc hy tế mà Đức Giê-su dâng lên Chúa Cha trên đồi Calve, thông hiệp vào Mình và Máu Ngài như là dấu chỉ và nguồn gốc của nhiệm thể duy nhất của Đức Ki-tô (giáo hội). Nói cách khác, thánh lễ luôn luôn là một hy lễ và là một bữa tiệc Thánh.
Tuy vậy, ngoài những điều cốt yếu ấy, việc tôn sùng Thánh Thể còn tùy thuộc văn hóa, tập tục, ngôn ngữ và tâm tính của từng dân tộc.
Một vài hoàn cảnh lịch sử đã khiến cho phần đông chúng ta lầm tưởng rằng Thánh lễ bất biến và “phổ quát”. Về vấn đề này, chính vì đầu óc hẹp hòi và nhãn quan thiển cận nên đã gây ra cho giáo hội những thiệt hại lớn lao và không thể sửa chữa được. Chẳng hạn, vài trăm năm trước đây, một nỗ lực truyền giáo có tham vọng đưa toàn thể nước Trung hoa và Ki-tô giáo đã sụp đổ vì các vị có thẩm quyền ở Rô-ma đã bảo thủ những điểm như phải cử hành Thánh lễ bằng La ngữ, các linh mục phải mặc áo chùng và lễ phục theo lối Tây phương…
Sau một thời gian dài gây tai tiếng, thái độ ấy đã bị Đức Giáo Hoàng Pio XII bác bỏ chính thức. Ngài đã nói trong một thông điệp rằng: “Giáo hội không hành động như một người liều lĩnh đốn ngã và bứng gốc một rừng cây đang phát triển, nhưng giáo hội nên ghép những chồi tốt vào cây rừng, để chúng có thể sinh hoa quả tốt hơn, khi giáo hội muốn kêu gọi một dân tộc đi vào một lối sống tốt hơn dưới sự gợi hứng của Ki-tô giáo”. Đường lối chủ trưởng sử dụng bất cứ điều gì trong nên văn hóa địa phương, kể cả những tập tục tôn giáo miễn là chúng ăn khớp với niềm tin Ki-tô giáo, ngày nay đã được công nhận.
Xin nói thêm, người Trung hoa không thờ phượng tổ tiên. Theo truyền thống, họ đặc biệt kính trọng và tôn kính các bậc tổ tiên. Hiểu sai tập tục ấy đã là một sai sót nguy hại cho giáo hội.
- Thánh lễ chủ nhật có vô ích không?
Hỏi: Con có nhiều bạn bè, công giáo cũng như ngoài công giáo, họ nghĩ rằng thánh lễ hằng ngày chẳng ích lợi gì. Một người trong số họ nói rằng chỉ đi lễ 3, 4 lần 1 năm mà rút tỉa được một điều tốt còn hơn là đi lễ mỗi chủ nhật chỉ vì luật buột. Chắc hẳn con không đồng ý nhưng không biết trả lời ra sao. Thái độ ấy thực sự có ý nghĩa gì không?
Đáp: Thái độ ấy chắc có ý tốt nào đó nếu thánh lễ chỉ là một trong các buổi cầu nguyện tùy ý. Tuy nhiên, nó sẽ không có ý nghĩa gì nếu người ta hiểu được chỗ đứng trong yếu của Hiến lễ tạ ơn và bí tích Thánh Thể trong đời sống và hoạt động của người Ki-tô hữu.
Chúng ta có thể bắt đầu bằng sự kiện là luật buộc tham dự Thánh lễ hằng tuần (hay nếu bạn muốn nói đi lễ mỗi ngày chủ nhật cũng được), không phải là điều mới mẻ. Nhìn lại những năm tháng đầu tiên của Ki-tô giáo trước khi có “luật giáo hội” nhưng chúng ta hiểu ngày nay, người tín hữu mong muốn tham dự thánh lễ Chúa Nhật hằng tuần, một cách nào đó sự mong muốn ấy khẩn thiết hơn chúng ta ngày nay. Chúng ta còn giữ được những tài liệu cho thấy cách xử lý của các Ki-tô hữu tiên khởi, trong trường hợp một thành viên cố ý vắng mặt trong Thánh lễ hai ba lần liên tiếp, họ bị kể như không còn là thành viên của giáo hội nữa, không còn là Ki-tô hữu nữa.
Nếu điều đó có vẻ nghiêm khắc, thì rõ ràng có nghĩa là họ đã tin điều gì đó ở thánh lễ mà chúng ta đã đánh mất qua nhiều thế kỷ. Đối với họ, không phải là vấn đề phạm “tội trọng” khi không giữ luật buộc tham dự thánh lễ Chúa Nhật, nhưng chỉ vì họ cho rằng người ấy thực ra đã không thể hiện và tin tưởng thánh lễ là gì, và do đó đã vắng mặt cả mấy tuần.
Ngày nay, Giáo hội có sức giúp chúng ta tìm lại xác tin sau đây: Hy tế và bàn tiệc Thánh Thể, tham dự vào hiến lễ của Đức Ki-tô dâng lên Cha và cùng nhau lãnh nhận Mình Máu Thánh của Ngài khi rước lễ, là chìa khóa và cách thức thiết yếu mà Đức Giê-su có ý định dùng để liên kết mọi người với chính Ngài và thâu nhận họ vào gia đình của Ngài cho đến tận thế.
Nói cách khác, thánh lễ trên hết là nơi chúng ta học tập tinh thần và sứ điệp của Đức Ki-tô. Qua việc suy niệm Lời Kinh Thánh, qua ngôn ngữ và cử chỉ trong phụng vụ Thánh thể, chúng ta tiếp tục tỏ ra như là chi thể của Ngài, và vì Ngài, nhận ra ai là anh chị em của chúng ta, đồng thời cam kết sống với nhau trong sự khích lệ và tương trợ. Hiểu theo nghĩa rộng đó, thì ngay cả trong 1 nhà thờ 500 người, sự có mặt, vắng mặt của một người thật sự ảnh hưởng đến mọi người kể cả chính đương sự.
Nếu nói về thánh lễ như thế nghe có vẻ xa lạ, thì thật đáng tiếc. Có lẽ đó là một trong những giá phải trả một nghi chúng ta xem việc bỏ lễ Chủ nhật như một tội trọng. Sự thật là ngay cả khi không có một luật buộc nào như thế, người ta vẫn được yêu cầu phải có mặt trong thánh lễ Chủ nhật, chỉ vì họ là một thành viên của gia đình Đức Ki-tô, vì họ là một Ki-tô hữu.
- Thánh lễ vào ngày Sabat
Hỏi: Cách đây vài tuần, con thấy có ý kiến cho rằng luật buộc xem lễ Chủ nhật liên hệ đến giới răn giữ ngày Sabat là ngày thánh. Đó thật sự có phải là một khoản luật mà ngay cả Đức Giáo Hoàng cũng không thể thay đổi?
Đáp: Giáo hội không bao giờ giải thích giới răn “giữ ngày Sabat thánh” như là một giới răn liên quan đến thánh lễ Chủ nhật. Trước hết, vì hằng mấy thể kỷ sau khi Maisen nhận lãnh 10 điều răn, thánh lễ mới có. Đàng khác, ngày Sabat – bởi động từ Sabat trong tiếng Do thái cổ có nghĩa là: nghỉ ngơi – là ngày thứ 7 trong tuần, chứ không phải là Chủ nhật.
Dĩ nhiên, các Ki-tô hữu đã mừng ngày Chủ nhật như là Ngày của Chúa, ngay từ những thế kỷ đầu, nhưng luật buộc dự lễ ngày Chủ nhật như chúng ta biết ngày nay tương đối mới đây thôi. Chính Giáo hội có thể hủy bỏ hay thay đổi luật buộc ấy, mặc dầu hiện nay đang có trong bộ Giáo Luật.
- Ngày Sabat đổi thành chủ nhật?
Hỏi: Tại sao ngày Sabat từ ngày thứ bảy đổi sang ngày chủ nhật? Ngày nào đó có thể chuyển đổi trở lại được không? Những người trong giáo hội “tái lâm” ngày thứ 7 có phân phát một số sách nhỏ bàn về vấn đề đó. Họ có sức thuyết phục đến nổi tôi đã quyết định đi lễ chiều thứ 7, cho tới khi vấn đề được giải thích.
Đáp: Các Ki-tô hữu tiên khởi đã đổi ngày Sabat sang ngày chủ nhật vì có nhiều lý do. Trước hết, Kinh thánh đã viết Đức Giê-su sống lại vào ngày thứ nhất trong tuần. Chắc chắn đây là lý do mạnh nhất để xem đó là ngày thích hợp nhất để cử hành thánh lễ tạ ơn, tưởng nhớ biến cố ấy. Các Ki-tô hữu tiên khởi nhận thấy cần phải thay đổi những ngày phải tuân giữ (kể cả những ngày ăn chay) khác với những ngày luật Do thái buộc phải giữ để nhấn mạnh rằng, họ đoạn giao với truyền thống và tập tục của dân Ít-ra-el.
Khi Giáo hội tái lâm ngày thứ bảy được thành lập khoảng giữa thế kỷ XIX, 4 người nam và 1 người nữ trở nên hạt nhân của giáo hội ấy, đã xác tín rằng ngày thứ 7 phải là ngày thánh trong tuần, chứ không phải là ngày chủ nhật. Đó là một trong những điểm nhỏ, khiến giáo huấn của giáo hội ấy tách xa truyền thống chung của Ki-tô giáo. Không có bất kỳ lý do nào cho phép nghĩ rằng truyền thống ngày Chủ nhật sẽ thay đổi.
- Ngày Sabat là ngày nào?
Hỏi: Chúng ta thường cho rằng ngày Sabat là ngày thứ 7 trong tuần. Kinh thánh đâu nói như vậy. Nhiều lần kinh thánh nói rằng ngày Sabat là ngày thư 7 sau 6 ngày làm việc. Có một sự khác biệt lớn giữa hai số 7 đó. Ngày thứ 7 của lịch tuần, là một ngày nhất định trong mỗi tuần, nhưng thứ 7 kể từ ngày làm việc đầu tiên có thể nhắm bất cứ ngày nào trong tuần. Kinh thánh không hề nói đến chu kỳ 7 ngày liên tục, cho tới khi Do thái có ngày Sabat đầu tiên. Bởi vậy, chúng ta biết rằng trước thời điểm đó chưa có lịch tuần 7 ngày như thời Đức Ki-tô. Mặc dầu Thiên Chúa buộc phải nghỉ ngơi ngày Sabat, nhưng Người không nhất thiết buộc phải nghỉ ngày thứ 7. Vậy thì các thánh, dù không giữ ngày thứ 7 mà bền tâm giữ ngày Chủ nhật thì đâu có xuống hỏa ngục.
Đáp: Bạn có thể đúng. Tuy nhiên, tôi không chắc những gợi ý của bạn có tác dụng thực tiễn tới mức nào. Trên lý thuyết bạn đúng đến mức nào không thành vấn đề, nhưng tôi không tin lý chứng ấy có nhiều trọng lượng đối với những người cho rằng chúng ta phải giữ ngày Sabat vào ngày thứ 7.
Tôi tưởng bạn không dễ gì khám phá thấy việc qui định tuần 7 ngày có sau qui định nghỉ ngày thứ 7 hàng tuần của người Do thái. Rất lâu, trước khi việc tuân giữ nghỉ ngày Sabat trở thành một qui luật cho người Do thái, thì hình thức tuần 7 ngày không phải là không phổ biến trong nhiều nền văn hóa cận đông, kể cả người Do thái. Hình thức đó rõ ràng xuất phát từ việc phân chia thánh theo chu kỳ mặt trăng (28 ngày) ra thành 4 phần mặc dù một vài nên văn hóa như Hy lạp và La mã lại chia làm 3 phần, mỗi phần khoảng 10 ngày.
Rất có thể là truyền thống Do thái giữ 6 ngày làm việc và 1 ngày để nghỉ ngơi đã phát triển ngoài bối cảnh tuần 7 ngày, ngày cuối tuần là ngày phục hồi sức khỏe sau 6 ngày lao động. Nói cách khác, lịch sử của ngày sabat có thể là một đề tài hấp dẫn, nhưng vẫn không đem lại nhiều lý lẽ để chống người Sabbatsian (chủ trương ngày thứ 7 là ngày thánh). Chúng ta chuân giữ ngày Chủ nhật như là ngày thánh của Ki-tô giáo, vì những lý do phát xuất từ những người hoàn toàn khác hẳn.
- Bỏ lễ là một tội
Hỏi: Giáo hội có thay đổi các luật lệ về việc dự lễ ngày Chủ nhật chưa? Bỏ lễ Chủ nhật có còn là một tội trọng không? Những người thân thích của chúng tôi chỉ đi lễ khi nào họ cảm thấy thích, họ viện cớ là sau công đồng Vaticano II không còn tội bỏ lễ nữa.
Đáp: Đôi lúc tôi cũng bị cám dỗ nghĩ rằng một trong những sai lầm lớn nhất của giáo hội là làm ra luật buộc chúng ta đi lễ Chủ nhật. Những bức thư như của bạn càng làm tăng thêm sự cám dỗ.
Đối với khá nhiều người công giáo, luật buộc tham dự thánh lễ mỗi Chủ nhật hình như thuộc cùng một loại luật kiêng thịt các ngày thứ 6 mùa chay hoặc ngay cả luật giữ việc tham dự thánh lễ các ngày lễ buộc của giáo hội. Quan niệm ấy làm lu mờ cả truyền thống đức tin Ki-tô giáo về tầm quan trọng của thánh lễ Chủ nhật đối với Ki-tô hữu chúng ta. Nếu đặt động cơ đầu tiên của việc tham dự thánh lễ trên vấn đề giáo hội có qui định hay không, thì từ căn bản đã lệch đường. Vào thời Ki-tô giáo sơ khai, việc tham dự thánh lễ hằng tuần đã được xem là chuyện đương nhiên trong nhiều thế kỷ, trước khi trở thành “luật” giáo hội.
Giả sử một người không đau ốm mà có thói quen vắng mặt luôn, thì chỉ có thể giải thích bằng hai cách: hoặc là người ấy quyết định không còn muốn làm người Ki-tô hữu nữa, hoặc là tầm hiểu biết về đức tin của người ấy sa sút trầm trọng và cần phải học hỏi nhiều hơn.
Nói cách khác, thánh lễ ngày Chủ nhật tạo nơi hơi thở ban sự sống cho mỗi cá nhân và cộng đoàn Ki-tô hữu. Cả Tân ước lẫn các bản văn thời giáo hội sơ khai đều nói lên chân lý ấy (xem CV 20,7). Trong vài thế hệ qua, giáo hội đã bắt đầu nhận thấy nhiều người, có thể là phần lớn người công giáo nếu quả thật đã ý thức về truyền thống nền tảng của Ki-tô giáo, thì nay không còn tiếp cận với nó nữa. Dự lễ ngày Chủ nhật vì “tôi phải” chỉ là chuyện bình thường của một số giai đoạn của lứa tuổi thanh thiếu niên, nhưng người tín hữu trưởng thành ở lứa tuổi 31-50 phải vượt qua mức độ ấy.
Về câu hỏi của bạn, tôi xin trả lời ngay rằng luật vẫn buộc và có lẽ vẫn còn cần thiết để cho phần lớn hoặc tất cả chúng ta có điều kiện thuận lợi am tường đầy đủ hơn phần cốt lõi ấy của đức tin.
Bộ giáo luật nhắc lại truyền thống của chúng ta: ngày Chủ nhật là ngày mà Mầu nhiệm Vượt qua được cử hành trong ánh sáng của truyền thống các Tông đồ và bắt buộc phải tuân giữ như là ngày cực thánh ở trong giáo hội hoàn vũ. Sau đó, giáo luật qui định “các tín hữu buộc phải tham dự thánh lễ ngày Chủ nhật và các ngày lễ buộc khác” (GL khoản 1246, 1247). Công đồng Vaticano II đã không thu hẹp, cũng không có ý định thu hẹp vai trò chính yếu của thánh lễ Chủ nhật trong đời sống giáo hội.
- Thánh lễ Chủ nhật còn bắt buộc không?
Hỏi: Trong mấy năm qua, con nghe nói rằng người ta không cần đi lễ Chủ nhật, nếu thánh lễ chẳng có ý nghĩa gì. Họ nói dự lễ chỉ là vấn đề “vâng lời theo luật”. Nếu từ thánh lễ không rút ra được gì từ điều bạn ước mong, thì đừng đi và đừng áy náy gì về chuyện ấy. Tuy nhiên, cách đây không lâu, con lại đọc thấy chúng ta chỉ có thể bỏ lễ vì 1 lý do nghiêm trọng, Giáo huấn đó đã thay đổi chưa? Con là một người tân tòng, nên con chẳng biết gì nhiều. Xin cha giải thích.
Đáp: Dự lễ Chủ nhật là 1 nghĩa vụ cao trọng đối với người công giáo, vì những lý do sâu xa hơn là vì luật của giáo hội. Nghĩa vụ đó ràng buộc chúng ta, trừ phi chúng ta được miễn chuẩn vì một lý do nghiêm trọng tương xứng.
Nói cho đúng, thì 1 lý do như vậy là gì, điều này cuối cùng phải do chính đương sự xác định căn cứ trên việc người ấy tôn trọng và tuân giữ trọn vẹn bổn phận này như thế nào. Vâng lời theo luật dự lễ chủ nhật chỉ có nghĩa là khi người ấy chu toàn trách nhiệm bằng một cách khác, thì họ không cần phải áy náy hay cảm thấy có tội trong các trường hợp họ nhận thấy quá sức khó khăn, hay bất tiện để dự lễ vì 1 chuyện nào đó. Chẳng hạn nghỉ hè, công việc kiệt sức bất thường,…
Còn vấn đề chỉ đi lễ khi nào người ra “rút ra được cái gì” lại là vấn đề khác. Ngược lại với những điều mà một số chuyên viên tâm lý hình như muốn nói với chúng ta, thì vào một số thời điểm trong cuộc sống, không có gì sai trái khi chúng ta làm một vài việc vì người ta bảo chúng ta phải làm. Một phần cốt yếu trong quá trình trưởng thành của chúng ta là hành động trong một số vấn đề chỉ vì một người uy tín đối với chúng ta (như cha mẹ, thầy cô, linh mục, giáo hội…) đã nói: “điều đó tốt cho anh, hãy làm đi”, chúng ta đều đi con đường ấy. Đó là một trong những bước để đi tới chỗ tự tạo cho mình những giá trị - hay làm một việc vì tôi rút tỉa được điều gì đó – như cách bạn muốn nói.
Quả thật, có điều gì đó chưa hoàn toàn về mặt thiêng liêng khi một người công giáo 30, 50 tuổi chưa vượt qua được giai đoạn đi lễ chỉ vì giáo hội buộc phải đi. Tuy nhiên, vấn đề không phải là người ấy đã có một thời đi lễ vì lý do này. Mọi trẻ em hoặc thiếu niên đều đã, sẽ đi lễ vì lý do này ở một giai đoạn nào đó trong qua trình phát triển. Thảm kịch của người trưởng thành là họ không bao giờ được giúp đỡ để vượt qua làn ranh ấy. Tiếc thay, đó là khuôn mặt của rất nhiều người công giáo hiện nay.
- Thánh lễ ngày thứ bảy có thể thay thế lễ Chủ nhật được không?
Hỏi: Con nghe nói 1 người công giáo có thể chu toàn luật buộc dự lễ Chủ nhật vào chiều thứ bảy, chỉ khi nào họ không thể đi lễ vào ngày Chủ nhật. Nếu đúng, điều này quá mới là đối với con.
Đáp: Đối với tôi, điều đó cũng mới lạ nữa. Huấn thị của Vaticano về việc tôn sùng Thánh thể, khi đưa ra đặc ân này, đã không hạn chế quyền tham dự lễ chiều thứ 7 thế cho lễ buộc chủ nhật như bạn nói. Giáo luật (1248) chỉ nói: “Người nào tham dự thánh lễ ở bất kỳ nơi đâu được cử hành theo nghi lễ công giáo vào chính ngày (chủ nhật hay lễ buộc) hoặc vào chiều ngày hôm trước là đã chu toàn luật buộc dự lễ.
- Luật dự lễ chủ nhật có giới hạn tuổi không?
Hỏi: Có qui định nào cho phép người trên 59 tuổi khỏi phải đi lễ Chủ nhật và lễ buộc theo luật định không? Một người bạn của tôi dám bảo: Có!
Đáp: Những người lớn tuổi mà quá tàn tật hay vì lý do nào đó mà không đi lễ được, thì thường được miễn chuẩn tham dự thánh lễ. Luật buộc dự lễ chủ nhật là một luật quan trọng của giáo hội, nhưng bất cứ ai vì lý do nghiêm trọng cũng được miễn chuẩn 1 ngày chủ nhật nhất định. Tuy nhiên, không có giới hạn tuổi trong qui định phải tham dự thánh lễ chủ nhật đối với người công giáo, một khi người ấy đến tuổi khôn.
- Dự lễ ở đâu?
Hỏi: Gia đình tôi thường tham dự thánh lễ ngoài giáo xứ. Mới đây, người ta nói rằng làm thế là trái với qui định của giáo hội. Chúng tôi hẳn biết phải làm gì nếu con cái lớn lên trong tình yêu mến thánh lễ và đức tin của chúng. Chẳng phải vì tò mò mà tôi muốn biết giáo hội có qui định luật lệ nào về vấn đề ấy không?
Đáp: Giáo luật qui định rằng, để chu toàn luật buộc dự lễ chủ nhật, có thể tham dự thánh lễ bất cứ nơi nào miễn sao được cử hành hợp pháp “đúng theo nghi lễ công giáo” (GL khoản 1248).
- Tại sao gọi thánh lễ là cuộc tưởng niệm?
Hỏi: Tại sao các linh mục ngày nay gọi Thánh lễ là một cuộc tưởng niệm? Thánh lễ trước hết là một cuộc hy tế, điều ấy vẫn còn đúng chứ? Theo con hiểu thì “tưởng niệm” là dành cho người quá cố. Chắc chắn Đức Ki-tô hằng sống! Chúng ta tiếp đón Đức Ki-tô phục sinh hằng sống. Đó không phải là một sự sa sút đức tin sao?
Đáp: Đúng là chúng ta thường coi thánh lễ như là cuộc tưởng niệm được cử hành để tưởng nhớ việc Chúa tử nạn và phục sinh (kinh nguyện thánh thể 2). Tuy nhiên, hiểu như thế đâu có gì mới lạ. Nó đã có trong các bản văn cổ nhất mà chúng ta đang có về các kinh nguyện đọc trong các buổi cử hành bí tích Thánh thể.
Dĩ nhiên, trong mạch văn này, từ ngữ tưởng niệm không có nghĩa là một cái gì đó dành cho người đã chết, nó chỉ có nghĩa là làm một việc tưởng nhớ 1 người hay 1 vật. Thực ra, đây là lý do khiến Đức Giê-su trong Tin mừng đã truyền dạy cho chúng ta hãy cử hành Thánh thể: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta và những việc Ta đã làm cho các con!”.
Trong thánh lễ, mục đích chính là việc tưởng nhớ việc Đức Giê-su đã làm qua cái chết hy tế và phục sinh của Ngài để tạ ơn (đó cũng là ý nghĩa của cụm từ lễ tế tạ ơn) và dâng lên Cha trên trời hiến lễ của chính ta là hy tế vĩnh cửu của Đức Giê-su đang được tái diễn. Việc tưởng nhớ - với tri ân và chúc tụng – không phải là sự sa sút, nhưng là tất cả ý nghĩa của bí tích Thánh thể.
- Tuổi già và thánh lễ chủ nhật
Hỏi: Tôi năm nay 81 tuổi, và 1 linh mục bảo tôi có thể khỏi buộc tham dự lễ chủ nhật nếu cảm thấy đi lại khó khăn. Cũng có người nói thêm rằng, tôi không buộc phải đi xưng tội nhưng có thể lãnh nhận các bí tích. Thật thế không?
Đáp: Vào tuổi cụ, nếu cảm thấy không tiện thì chắc chắn cụ không bị buộc tham dự thánh lễ dù là lễ chủ nhật đặc biệt. Thực thế, nếu cụ đi lễ mà có nguy cơ ngã bệnh, gặp tai nạn trầm trọng do té ngã hoặc chấn thương thì cụ hoàn toàn được miễn.
Vị linh mục nói đúng đấy. Thiên Chúa không muốn cụ gặp nguy hiểm lúc đi dự lễ. Cụ hãy đọc kinh cầu nguyện và đi lễ khi có thể. Thế là đủ rồi.
Chỉ có trường hợp duy nhất phải lãnh nhận bí tích xá giải trước khi rước lễ, là khi người ấy ý thức rõ ràng mình phạm tội trọng. Nhưng đối với tuổi cụ, rước lễ mỗi khi có dịp là điều tốt cho dù cụ chưa xưng tội được.
Nếu cụ không thể đi lễ trong vài tuần liền hoặc nếu lâu hơn, cụ có thể mời linh mục trong xứ đến trao Mình Thánh Chúa cho cụ. Nhiều xứ cũng có những thừa tác viên đặc biệt có thể mang Mình Thánh Chúa đến tận nhà những ngày chủ nhật.
Nếu đích thân vị linh mục thỉnh thoảng đến nhà, cụ nên lợi dụng dịp đó để lãnh nhận bí tích xá giải.
- Giờ giấc cử hành thánh lễ chiều thứ bảy
Hỏi: Nếu dự lễ vào ngày thứ 7, thì sớm nhất là vào giờ nào để khi dự lễ tôi được xem như đã chu toàn xong luật buộc dự lễ chủ nhật? Vài nhà thờ ở vùng chúng tôi cử hành thánh lễ lúc 4 giờ chiều và tôi nghe là quá sớm.
Đáp: Việc ấn định giờ giấc có thể bắt đầu cử hành thánh lễ buộc chủ nhật vào chiều thứ 7 là trách nhiệm của Đức Giám mục mỗi giáo phận. Trong phần lớn các giáo phận, có thể bắt đầu lúc 4 giờ hoặc 4 giờ 30. Nhưng bạn phải hỏi cha sở xem luật của giáo phận bạn thế nào. Thông thường, có thể nói cách chắc chắn rằng mọi thánh lễ trong xứ đạo được cử hành đều đặn vào chiều thứ 7, đều muốn tuân theo các chỉ dẫn của giám mục về việc chu toàn luật buộc dự lễ chủ nhật.
16. Chọn thánh lễ ngày thứ 7 có được không?
Hỏi: Tham dự thánh lễ thứ 7 mà không theo phụng vụ ngày chủ nhật – như lễ cưới, lễ tang, lễ kỷ niệm ngân khánh hôn nhân, thì có được coi là đã chu toàn luật buộc dự lễ chủ nhật không? Về vấn đề này, hình như có nhiều ý kiến khác nhau.Tôi ghét quan niệm “chọn lựa nơi dự lễ”. Quả thật, hình như nó phủ nhận tinh thần của thánh lễ, nhưng đó cũng là điều tôi cảm thấy như mình đang vấp phạm, khi phải hỏi vị linh mục trước hết để xem dự thánh lễ như thế là đã chu toàn bổn phận hay chưa. Vấn đề này cũng được nêu ra trong lễ vọng phục sinh vừa qua.
Đáp: Thực tế, câu hỏi của bạn gồm 3 vấn đề, chúng ta hãy lần lượt xem xét từng vấn đề một.
1- Huấn thị của Vaticana về việc tôn sùng Thánh thể ngày 25/5/1967, qui định luật buộc tham dự thánh lễ chủ nhật vào chiều thứ 7 với chủ đích trên thì phải của hành phụng vụ ngày chủ nhật. Tuy nhiên, bản văn không qui định việc cử hành phụng vụ ngày chủ nhật như là một điều kiện cho việc chu toàn luật buộc dự lễ chủ nhật. Như vậy, nếu 1 người công giáo tham dự thánh lễ vào chiều thứ 7 với ý hướng đó thì đã chu toàn luật buộc dự lễ ngày chủ nhật, miễn là được cử hành trong thời gian qui định của từng giáo phận.
Tương tự như chính thánh lễ ngày chủ nhật, chúng ta đều biết ngay cả khi tham dự 1 thánh lễ hôn phối, khánh nhật hay thánh lễ đặc biệt của giáo xứ trong ngày chủ nhật, chúng ta cũng đã chu toàn luật tham dự lễ chủ nhật. Không có chỉ dẫn nào cho thấy giáo hội có ý kiến biến lễ tối thứ 7 thành 1 đặc ân sít sao hơn.
Tuy thế, mỗi giám mục trong tư cách thừa tác viên phụng sự chính yếu của giáo phận, có trách nhiệm qui định những điều lệ riêng cho cả giáo phận mình, trong đó có việc ấn định thời giờ có thể bắt đầu cử hành thánh lễ vào ngày thứ 7 thay cho chủ nhật.
2- Còn việc “chọn lựa nơi tham dự thánh lễ” thì sao? Có nhiều ý kiến khác nhau về thánh lễ chiều thứ 7 cũng như trong nhiều vấn đề khác. Nếu quyết định theo lương tâm ngay chính, bạn có thể dự lễ ở bất kỳ 1 nhà thờ nào. Có lẽ nên theo lời khuyên của vị linh mục mà bạn thấy có thẩm quyền. Việc dự lễ có “thành” hay không, chẳng tùy thuộc vào ý kiến của vị chủ tế cử hành thánh lễ.
3- Tất cả những điều nói trên không liên quan gì đến ngày thứ 7 Tuần thánh. Về phương diện phụng vụ, thánh lễ Vọng phục sinh là thánh lễ Phục sinh, còn hơn cả thánh lễ sáng Chủ nhật hôm sau.
- Thánh lễ cầu cho cộng đoàn dân Chúa?
Hỏi: Khi còn bé, con luôn nghe dạy rằng thánh lễ chủ nhật cầu cho cộng đoàn Dân Chúa dự lễ. Tiền oi chi phí cho thánh lễ. Ngày nay, nếu cha để ý, cha sẽ thấy thánh lễ chủ nhật chỉ cho 1 người nào đó đã qua đời, hay 1 khánh nhật nào đó. Con nghĩ không nên làm thế, thánh lễ chủ nhật thiết tưởng phải cầu cho Dân Chúa. Thời thế thay đổi rồi sao?
Đáp: Câu hỏi của bạn cho thấy một vài lẫn lộn về đôi điều. Nhưng nó đã cho thấy sự nhạy bén của một người công giáo tốt nơi bạn, bởi lẽ giáo hội có những qui định chính xác như bạn nghĩ.
Luật giáo hội buộc các cha xứ (và đôi khi cả giám mục nữa) phải cử hành thánh lễ chủ nhật và lễ buộc, cũng như một vài lễ đặc biệt khác để cầu cho tất cả những người thuộc quyền cai quản của các ngài, chứ không riêng gì cho những người hiện diện trong thánh lễ.
Trách nhiệm ấy thường đề cập như là “Missa pro populo” hay “lễ họ”. Theo qui định của giáo hội, đó là một bổn phận công bình mà linh mục hay giám mục phải chu toàn đối với Thiên Chúa. Tuy nhiên, bổn phận ấy chỉ rằng buộc các cha xứ, do đó (các linh mục khác) có thể dâng những thánh lễ khác trong ngày chủ nhật để chỉ cho những ý lễ khác và phải thông báo cách thức ấy cho mọi người, chẳng hạn trong nội san của giáo xứ. Cụ thể, điều lệ trong một vài giáo phận nêu ra những cách thức mà các cha xứ có thể dâng lễ chỉ cho ý lễ khác, miễn là đã chu toàn bổn phận đối với cộng đoàn Dân Chúa. Điểm cuối cùng, tiền oi trong thánh lễ mà bạn nhắc đến, không phải là bổng lễ của lễ họ. Tiền oi là để cung cấp nguồn tài chính cho giáo xứ. Cha xứ không nhận bổng lễ trong các lễ họ.
- Thánh lễ truyền hình và luật giữ lễ chủ nhật
Hỏi: Nếu tất cả những người theo dõi nghi thức Đức Giáo hoàng cử hành trên truyền hình hay truyền thanh, có thể nhận phép lành toàn xá của Ngài, thì tại sao xem thánh lễ truyền hình sáng chủ nhật tại nhà lại không được coi là đã chu toàn luật giữ lễ chủ nhật? Và tại sao không xưng tội qua điện thoại được?
Đáp: Câu trả lời rất đơn giản: thánh lễ không phải là việc cầu nguyện riêng tư, khác với việc lãnh nhận phép lành vốn là việc riêng tư, dầu là phép lành ấy có những khía cạnh công khai và hiệp thông, chẳng hạn như phép lành Đức Giáo hoàng ban cho toàn thế giới.
Phần đông tín hữu công giáo chưa ý thức được rằng bổn phận dự lễ Chủ nhật không phải là đến nghe hoặc xem ai đó làm 1 việc gì, nhưng hiện diện để tự mình làm điều ấy và chia sẻ với các tin hữu khác. Thánh lễ là một hành động, một cử hành của cộng đoàn những người công giáo và không thể thay thế bằng việc nghe hoặc xem thánh lễ truyền hình.
Nếu một người không thể dự lễ chủ nhật với cộng đoàn giáo xứ hay 1 cộng đoàn nào khác, thì xem thánh lễ truyền hình hoặc truyền thanh, có thể hỗ trợ người ấy hiệp thông với cộng đoàn trong tinh thần, hay thể hiện lòng khao khát kết hiệp với Chúa Ki-tô trong Thánh thể. Tuy nhiên, nghe nhìn như thế không thể thay thế cho sự hiện diện được.
Cũng vậy, xưng tội là một cuộc đối thoại cá nhân và hiện diện với cộng đoàn công giáo trên trái đất này mà linh mục là người đại diện. Sự đối diện cá nhân dới Dân Thiên Chúa, mà linh mục là vị đại diện được truyền chức của Dân Chúa, là yếu tính của bí tích. Nếu chúng ta am hiểu về bí tích, thì việc xưng tội qua truyền hình hay điện thoại không thể đáp ứng những đòi hỏi của bí tích Xá giải.
- Có những lễ buộc nào?
Hỏi: Tôi và một số bạn bè muốn biết tại sao ở một vài nước thì có những ngày lễ buộc, còn ở nước khác thì không. Tôi nghĩ mọi người công giáo đều phải tuân giữ tất cả những ngày lễ buộc, chứ không chỉ một ít lễ thôi. Xin cha giải thích.
Đáp: Có nhiều yếu tố giúp giải thích tại sao có nơi tuân giữ một số ngày lễ buộc, nơi khác lại không.
Trước hết, có 10 ngày lễ buộc áp dụng cho giáo hội hoàn vũ: lễ Giáng sinh; lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa – 1/1; lễ Thăng Thiên; lễ Mẹ hồn xác lên trời 15/8; lễ các thánh 1/11; lễ Mẹ Vô Nhiễm 15/8; lễ Hiển linh; lễ Thánh Giu-se 19/3; lễ Mình Máu Thánh Đức Ki-tô và lễ thánh Phê-rô và Phao-lô 29/6.
Trong số đó, chỉ có 6 lễ là được truyền thống giáo hội Hoa kỳ cửa hành cách trọng thể. Nay vẫn thế.
Cũng như tại nhiều nước khác, chúng ta dời lễ Hiển linh và lễ Mình Máu Thánh Chúa vào ngày chủ nhật kế tiếp.
Thêm vào đó, Hội đồng các giám mục (chẳng hạn ở Hoa kỳ) có thể bãi bỏ một số lễ buộc cho miền của các ngài hay dời vào ngày chủ nhật với sự đồng ý của Tòa thánh (GL 1246). Còn trong những trường hợp khác, chính cá nhân các giám mục có thể miễn chuẩn 1 ngày lễ buộc đặc biệt vì lợi ích thiêng liêng của tín hữu trong giáo phận.
Thường thường, đó là những yếu tố giúp giải thích những khác biệt mà bạn gặp thấy. Có những yếu tố khác như bối cảnh nhân văn của một vùng đặc biệt ở một nước hay ở trên thế giới, cũng có thể ảnh hưởng đến quyết định lễ nào là lễ buộc.
Tại Việt nam, chỉ còn 1 lễ buộc là lễ Giáng sinh (phải dự lễ và kiêng việc xác). Còn các lễ buộc khác đã dời vào ngày chủ nhật kế tiếp. Lễ các thánh nam nữ, không còn là lễ buộc.
- Thánh lễ ngày lễ buộc
Hỏi: Khi lễ buộc nhằm vào ngày thứ 2, thì được cử hành lễ vọng vào ngày chủ nhật không? Một người có thể dự lễ 2 lần vào ngày chủ nhật, một thánh lễ chủ nhật và 1 thánh lễ buộc được không?
Đáp: Được phép cử hành thánh lễ ngày lễ buộc vào chiều hôm trước, bất kể ngày nào trong tuần, dĩ nhiên là đã được Đức Giám mục chấp thuận cho phép cử hành thánh lễ như thế trong giáo phận.
Tính chất và kỷ luật của việc giữ ngày lễ buộc, chắc chắn dành cho chúng ta nhiều tự do để chọn lựa về phương diện phụng vụ, nhất là khi lễ buộc nhằm vào ngày thứ 7 hoặc thứ 2.
Những sự phức tạp do việc dự lễ về luật buộc gây ra, có thể trở nên câu nệ một cách buồn cười. Tuy nhiên, theo luật hiện hành của giáo hội, bạn có thể dự lễ sáng chủ nhật để chu toàn luật buộc ngày chủ nhật, và dự lễ ban chiều để chu toàn luật buộc ngày lễ buộc, nếu lễ buộc là ngày thứ 2.
Cũng có thể chu toàn luật buộc giữ lễ chủ nhật bằng cách dự lễ ban chiều chủ nhật và lễ buộc vào sáng hôm ngày lễ buộc.
Tốt hơn nên tham dự những thánh lễ với bài đọc và lời nguyện riêng (bài đọc chủ nhật cho ngày chủ nhật, bài đọc lễ buộc cho ngày lễ buộc). Song hiện thời, đó không phải là đòi buộc trong việc chu toàn luật buộc lễ chủ nhật và lễ buộc.
Như tôi đã nói ở trên, giám mục mỗi giáo phận là Đấng có thẩm quyền qui định việc cử hành thánh lễ chủ nhật và lễ buộc vào chiều hôm trước cũng như ấn định giờ giấc cử hành.
- Phụng vụ “ngoại qui” (Far out)
Hỏi: Nhiều lần tôi nghe nói đến điều này là Phụng vụ “ngoại qui”. Những lễ ngoại qui ấy là gì?
Đáp: Hiển nhiên, đó không phải là chuyện chuyên môn và không có trong văn kiện chính thức của giáo hội. Do đó, nó mang nhiều nghĩa.
Đối với một vài ngườ, dùng đàn guitar trong thánh lễ, chỉ định phụ nữ đọc bài đọc hay trao Mình Thánh Chúa đều là “ngoại qui”. Một số đông người công giáo còn nghĩ rằng thánh lễ được cử hành bằng Anh ngữ hiện nay tự nó là “ngoại qui”, nếu nó chưa công khai lạc giáo, và Đức Thánh Cha dung dưỡng như thế là phản bội.
Tuy vậy, ‘ngoại qui’ thông thường có nghĩa là vi phạm các qui định của giáo hội về thánh lễ và bí tích. Quyền bính trong giáo hội, nhất là các giám mục chính tòa, có trách nhiệm xem xét làm sao để bảo tồn vẻ trang nghiêm, trân trọng và cung kính trong tất cả các buổi cử hành phụng vụ chính thức. Nói thế không có nghĩa là các ngài có thể áp đặt một cách độc đoán sở thích của mình trên mọi người, hay có thể từ chối cách bất công những thay đổi hợp pháp trong phụng vụ, mà không xét đến những dị biệt chính đáng của từng cá nhân với kinh nghiệm và tuổi tác, mà đương nhiên chúng phải phản ánh trong cung cách phụng thờ dân Chúa.
Nhưng, mọi người – nhất là các linh mục- có trách nhiệm phải tuân giữ các qui định căn bản ấy, mà qua đó Giáo hội muốn bảo vệ những nghi thức thờ phượng Thiên Chúa để không rơi vào chỗ tầm thường, lòe loẹt và đôi khi phô trương khiếm nhã.
Ví dụ: một số qui luật về lễ phục của linh mục và nơi của hành thánh lễ đã được ban hành để mọi người tuân giữ mỗi khi cử hành thánh lễ, ngoại trừ những hoàn cảnh hết sức nghiêm trọng. Vì vậy, cử hành thánh lễ trong bộ áo ngắn bên bàn ăn dĩ nhiên là phạm luật và chứng tỏ thiếu ý thức cộng đoàn và cẩu thả, và dù hiểu thế nào thì cũng là “ngoại qui”.
- Thánh lễ tại tư gia?
Hỏi: Nếu có thể mang Mình Máu Thánh đến nhà cho bệnh nhân, thì tại sao không cử hành thánh lễ cho họ tại nhà? Cha tôi suốt ngày ngồi trên xe đẩy, trừ lúc đi thăm bác sĩ. Thỉnh thoảng linh mục có thể đến dâng lễ tại tư gia không? Được vậy, sẽ vô cùng khích lệ cho cha tôi và cả gia đình.
Đáp: Trong những năm vừa qua, đôi lần giáo hội đã ủy thác cho các giám mục việc ban phép cử hành thánh lễ ngoài nhà thời, nhà nguyện, chẳng hạn tại nhà tư. Một trong nhiều lý do khiến giám mục công khai ban phép dâng lễ tại tư gia là để qui tụ gia đình và bạn bè tại nhà bệnh nhân hay người già yếu mà không còn cách nào khác để tham dự việc cử thành Thánh Thể.
Giáo hội còn minh nhiên qui định vài qui tắc khác nhằm gìn giữ sự thích đáng, trong sáng và thánh thiện của thánh lễ trong việc cử hành như thế (xem Huấn thị về thánh lễ trong những cuộc hội họp đặc biệt ban hành ngày 15/05/1969). Tại Hoa kỳ, thánh lễ tại tư gia cho bệnh nhân hay trong những cuộc hội họp đặc biệt không phải là hiếm. Trong nhiều giáo phận, lễ tại tư gia được ủy thác cho cha xứ quyết định, sau khi đã xem xét hoàn cảnh gia đình nơi ngài sẽ dâng lễ.
- Bổng lễ và ý lễ
Hỏi: Trong thánh lễ tại giáo xứ chúng tôi, và thỉnh thoảng trong các xứ khác cũng thế, sau khi công bố Tin mừng, vị linh mục đọc các lời nguyện và kết thúc bằng câu: “… và cho linh hồn ông A mà hôm nay chúng con dâng lễ cầu nguyện cho”. Như một gia đình, chúng tôi mong muốn tham dự vào thánh lễ. Nhưng khi nghe linh mục đọc như thế, tôi phân vân tự hỏi phải chăng giáo dân tụ họp đây chính là để dâng lễ cho ông A? Nói rằng tưởng nhớ ông A trong thánh lễ này có lẽ thích hợp hơn chăng? Cũng vậy, tôi thấy có một số tên thường xuất hiện trong danh sách những người mà linh mục sẽ dâng lễ cầu nguyện trong tuần tới. Người ta có cảm tưởng nhưng người này hấp tấp muốn thiêng đàng sớm. Thế thì những người đã chết mà không có ai xin lễ thì sao?
Đáp: Cách đây hơn cả ngàn năm, người công giáo có thói quen dâng lễ vật để giúp đỡ các thừa tác viên của giáo hội hay để trang trải các chi phí của cộng đoàn Ki-tô hữu.
Tuy nhiên, suốt thời gian có tập tục ấy, hầu như giáo hội không ngững chống lại hình thức buôn thần bán thánh của thánh lễ, và những quan niệm sai lạc về việc dâng cũng ấy.
Không thiếu những trường hợp gây hiểu lầm, ít nữa là do ngôn từ như trường hợp bạn trưng dẫn. Một trong những xác tín đầu tiên về việc cử hành Thánh Thể là chúng ta tin rằng, lễ vật chúng ta dâng có một cùng đích và ý hướng bao quát như hiến lễ đầu tiên của Đức Giê-su trên núi Calve.
Như kinh nguyện Thánh thể đã trình bày khá rõ ràng mỗi hiến lễ dâng lên không chỉ bao gồm toàn thể giáo hội, nhưng là toàn thể gia đình nhân loại, người sống xung như kẻ chết. Ngay cả khi vị linh mục muốn dâng lễ theo ý nào đó, thì ngài cũng không thể thu hẹp cánh tay Chúa Giê-su, ôm trọn thế giới khi Người tái hiện hy tế trong con người của giáo hội trên trần gian. Khi linh mục nhận lễ vật, thì ngài có trách nhiệm phải cầu nguyện theo ý ấy khi dâng lễ, thể theo giáo luật và truyền thống thần học. Đó là ý nghĩa của khoản giáo luật 945: “Các linh mục chủ lễ hay đồng tế được phép nhận một lễ vật để chỉ thánh lễ cho một ý lễ nhất định”.
Vì thế, nói chung câu “dâng thánh lễ cho” một cá nhân hay kể tên của người ấy một cách đặc biệt trong kinh nguyện cầu cho kẻ chết, trong phần kinh nguyện Thánh thể là không thích đáng, vì đã quá lưu ý và nhấn mạnh đến một ý lễ riêng biệt hơn là toàn thể giáo hội.
Như thế, hiển nhiên không ai “mua” quyền sở hữu, nhưng vẫn có trong thương mại, trong việc dâng hiến lễ. Nếu cần phải thông báo một ý lễ đặc biệt nào đó, có lẽ đề nghị của bạn đúng về cả mặt phụng vụ cũng như thần học: “tưởng nhớ ông 2 hay bà B trong thánh lễ này”.
Còn câu hỏi mà bạn đề cập đến người giàu có có vẻ được ưu tiên hơn người nghèo trong việc cử hành thánh lễ, có lẽ bạn đã được giải đáp qua những gì tôi đã nói ở trên.
- Thánh lễ cho người đồng tính luyến ái
Hỏi: Trong một tờ báo của giáo phận mới ban hành, tôi đọc thấy tin 1 Tổng giám mục cử hành thánh lễ để kỷ niệm giáp năm sinh của hội nghị địa phương về nhân phẩm, một tổ chức đồng tính luyến ai công giáo. Trong thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Roma, thánh nhân lên án lối sống ấy. Ai đúng? Thánh Phao-lô hay Giám mục?
Đáp: Các Giám mục (cũng như tất cả chúng ta) có những nhận định khá dị biệt về cách thức thích hợp và hữu ích nhất, mà người mục tử tốt lành phải có đối với nhóm người ấy. Chắc chắn họ cần một cách thức hướng dẫn và giúp đỡ cách đặc biệt. Dĩ nhiên, các giám mục phải chịu liên lụy ít nhiều về sự hiểu lầm do hành động của các ngài gây ra, mặc dầu đương nhiên có một vài người hầu như sẽ khó chịu đối với các việc tông đồ công khai dành cho những người đồng tính luyến ái hay vài nhóm khác.
Như Đức Tồng giám mục nói, những người đồng tính luyến ái cũng là thành phần của giáo hội, chẳng hạn như khi họ có nhu cầu và quyền cầu nguyện, thì cần hướng dẫn và nâng đỡ họ hoán cải đời sống một cách nào đó. Các giám mục và thừa tác viên khác trong giáo hội phải đáp ứng những nhu cầu ấy một cách quảng đại theo khả năng của mình.
- Thánh lễ của Đức Giáo hoàng Pio V bị xem thường sao?
Hỏi: Xin cha vui lòng giải thích tại sao không phiên dịch thánh lễ La ngữ (Tridentino) của Đức Giáo hoàng Pio V dang hay Anh ngữ hay sang những ngôn ngữ khác, hơn là dày xéo nó dưới chân. Con đã hiểu rằng không ai khác có thể thay đổi thánh lễ bao giờ, và cũng biết có 1 hình phạt trong vấn đề đó. Nếu ai vi phạm sẽ chịu hình phạt.
Đáp: Tại công đồng Vaticano II, các giám mục trên thế giới đã đưa ra các nguyên tắc để duyệt lại thánh lễ. Những yêu cầu ấy nằm trong hiến chế phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”.
Các ngài nói cần phải soạn lại thánh lễ sao cho các bản văn lẫn nghi thức “diễn tả rõ nét hơn sự thánh thiện mà chúng bày tỏ”, sao cho các phần trong thánh lễ phải rõ ràng tùy theo bản chất và mục đích của chúng, đồng thời nối kết với nhau như thế nào, sao cho người tin hữu dễ dàng tham dự tích cực hơn, sao cho kho tàng Kinh thánh sẽ được phân phát cách dồi dào hơn để người tín hữu được cung cấp lương thực có chất lượng hơn nơi bàn tiệc Lời Chúa, và làm sao để đưa nghi thức đồng tế vào trong sách lễ.
Nói khác đi, cũng như Đức giáo hoàng Pio V nhận thấy phải canh tân như thế nào trong thời đại của Ngài, Đức Giáo hoàng Phao-lô VI cùng với các giám mục cảm nhận một cách mạnh mẽ rằng Thánh lễ theo Công đồng Tridentino còn thiếu sót nhiều yếu tố có thể giúp người công giáo hiện nay canh tân phụng vụ và đời sống thiêng liêng.
Đây là chuyện đáng tiếc và cũng là dấu chứng tỏ lòng yếu tin của nhiều người công giáo là Bàn tiệc Thánh Thể, dấu chỉ hùng hồn của sự hiệp nhất công giáo, đã trở thành nơi tranh chấp và phủ nhận quyền bính của Đức Giê-su trong con người của Đức Thánh cha và các giám mục khác có trách nhiệm hướng dẫn giáo hội.
Khi xuất bản Sách lễ Roma, Đức Pio V biện minh rằng đó là khí cụ thống nhất phụng vụ và chứng từ sự trinh trong của phụng tự trong giáo hội. Đức Phao-lô VI cũng nói như thế khi xuất bản Sách lễ hiện hành sau Công đồng Vaticano II, ngài tuyên bố rằng “những thay đổi và thích nghi hợp pháp” được phép thực hiện trong nghi thức mới tự bản chất là nền tảng để hy vọng tằng người tín hữu “sẽ đón nhận sách lễ mới ấy như một trợ lực và bằng chứng của sự hiệp nhất mọi người”.
Bất cứ người công giáo trung thành nào cũng góp sức thực hiện điều ấy.
- Được phép cử hành thánh lễ bằng La ngữ không?
Hỏi: Xin cha vui lòng giải thích những qui luật hiện thời liên quan đến thánh lễ cử hành bằng La ngữ. Một số linh mục nói không được phép cử hành. Tuy nhiên, một nhóm người ở thành phố kế bên cho biết, mỗi chủ nhật họ vẫn tham dự thánh lễ bằng La ngữ trước Công đồng Vaticano II. Nếu được phép như vậy, tại sao không có mấy nhà thờ cử hành thánh lễ bằng La ngữ kiểu cũ?
Đáp: Theo qui định hiện nay về việc cử hành thánh lễ, ngôn ngữ trong thánh lễ thường là ngôn ngữ của người dự lễ, nói cách khác đó là ngôn ngữ địa phương. Tại sao không có mấy nhà thờ dùng La ngữ trong khi cử hành theo lễ nghi mới? Đơn giản thôi, chỉ vì đa số tín hữu có vẻ không ưa thích. Trong những năm gần đây, nhiều giáo xứ xếp đặt thì giờ, quyết định cử hành đều đặn thánh lễ bằng La ngữ theo yêu cầu của vài người công giáo còn hoài cảm cung cách cử hành thánh lễ trong quá khứ. Trước hết, những kỷ niệm về các thánh ca trầm bổng và các thánh lễ trang trọng có thể lôi cuốn một số đông các tín hữu. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sự hoài cổ ấy không còn thích hợp và họ ý thức rằng, sự đánh giá của họ về thánh lễ và tầm quan trọng của việc tham dự tích cực đã thay đổi và tiến triển từ lâu. Những giới hạn của Phụng vụ Thánh Thể cử hành bằng tiếng nước ngoài, ngay cả trong nghi lễ mới, xuất hiện khá rõ ràng và những thử nghiệm dùng La ngữ trong thánh lễ bị loại bỏ.
Tôi thuộc số những người hoàn toàn quên lãng những khía cạnh cảm động trong gia sản phụng vụ đã dần dà biến mất, khi ngôn ngữ phụng vụ chuyển từ La ngữ sang tiếng bản xứ. Những cơ hội cử hành việc phụng vụ chung với các anh em tín hữu công giáo của các quốc gia khác khi có dịp, mà ngày nay thường dễ thực hiện hơn trước đây, cũng là 1 lý do khiến người ta còn liên lạc với truyền thống phụng vụ la tinh.
Tuy nhiên, tôi mạnh mẽ tin rằng, không có gì có thể đánh bại nguồn sinh lực đã từng thúc đẩy các giám mục dự công đồng Vaticano và thẩm quyền giáo hội trong việc canh tân phụng vụ. Ngày nay, không 1 ngôn ngữ nào, kể cả La ngữ, có thể đáp ứng được mục tiêu đầu tiên mà giáo hội dự phóng; là thờ phượng Cha trên trời cách trọn vẹn và biểu lộ sự hiệp nhất với Chúa chúng ta, và qua Người với mọi người trong giáo hội.
- Tham dự thánh lễ Tridentino ngày chủ nhật được không?
Hỏi: Tham dự thánh lễ thaeo nghi thức công đồng Tridentino có tội không?
Đáp: Tôi không hiểu rõ điều bạn muốn hỏi. Tôi không nghĩ rằng cầu nguyện hay tham dự 1 buổi cầu nguyện ở bất cứ nơi nào hay lúc nào là 1 tội, miễn là nó không công khai bổ báng Thiên Chúa hay Giáo hội.
Phải chăng ý bạn muốn hỏi, liệu có thể chu toàn bổn phận dự lễ ngày chủ nhật, nếu bạn tham dự thánh lễ theo nghi thức công đồng Tridentino không chứ gì? Thế thì lại là vấn đề khác rồi.
Tiên vàn, thánh lễ thật sự theo nghi thức công đồng Tridentino, mà Đức Giáo hoàng Pio V phê chuẩn năm 1570 ngay sau công đồng Tridentino, trong gần 400 năm đã không được dùng một cách đích xác như đã được ban hành. Chỉ 34 năm sau khi đã ban hành, Đức Giáo hoàng Clement VIII đã sửa đổi một số điểm, đồng thời phê chuẩn bản văn thánh lễ mà lúc ấy ngài gọi là bản văn chung cuộc của sách lễ. (Nếu ai in và bán các sách lễ khác với sách lễ nói trên, sẽ bị dứt phép thông công, bị tịch thu sách và phải nộp đủ 500 đồng vàng tiền phạt).
Tuy vậy, dầu Đức Giáo hoàng Clement VIII có răn đe, thì bản văn sách lễ của ngài cũng chỉ là bản đầu tiên trong số những bản được Đức Giáo hoàng kế tiếp phê chuẩn. Trước Vaticano II, sách lễ dùng trong thánh lễ cử hành theo nghi thức Roma được xuất bản lần cuối cùng năm 1962, bao gồm tất cả những sửa đổi trước đây cùng với những sửa đổi của Đức Pio XII và Đức Gio-an XXIII. Cuốn sách ấy (cuốn duy nhất) là bản văn mới nhất được Thánh bộ phụng tự phê chuẩn để sử dụng hạn chế trong một số trường hợp.
Khi cử hành thánh lễ theo sách lễ ấy, dĩ nhiên phải dùng La ngữ hoàn toàn, không dùng lẫn lộn Anh ngữ hay Việt ngữ như ta thấy trong 1 số sách lễ mới đây.
Tôi dài giòng như thế để có thể trả lời cho bạn một cách rõ ràng. Giáo luật (khoản 1246) qui định rằng: Được kể là đã chu toàn bổn phận dự lễ chủ nhật và lễ buộc khi tham dự bất cứ thánh lễ nào được cử hành theo nghi thức công giáo.
Những thánh lễ theo nghi thức công giáo Roma đã được giáo hội chấp nhận như là việc phụng tự công khai, là những thánh lễ cử hành đúng theo sách lễ do Đức Giáo hoàng Phao-lô VI phê chuẩn năm 1969, và trong những điều kiện hạn chế và được minh định rõ ràng, là những thánh lễ cử hành theo sách lễ năm 1962 do Đức Giáo hoàng Gioan XXIII phê chuẩn như đã nói ở trên.
Đương nhiên, bạn chẳng cần phải biết tất cả những điều ấy và đánh giá mỗi 1 thánh lễ bạn tham dự. Nhưng các linh mục lại bị bó buộc một cách nghiêm nhặt phải cử hành theo đúng nghi thức đã được thiết lập chính thức và do thẩm quyền giáo hội, nhiệm thể Đức Ki-tô, chuẩn nhận.
Tiện đây cũng nói thêm rằng một trong những điều kiện phải có trước khi Đức Giáo hoàng có thể cho phép cử hành thánh lễ theo sách lễ năm 1962, là vị linh mục và giáo dân thỉnh cầu không có chút gì liên hệ gì với những nhóm gây hoang mang về hiệu lực hợp pháp và sự lành mạnh tín lý của hình thức thánh lễ được Đức Giáo hoàng Paul VI phê chuẩn năm 1969. Đây là hình thức thánh lễ duy nhất trên thế giới hiện nay.
- Ngôn ngữ trong thánh lễ
Hỏi: Một tờ báo công giáo của chúng ta mới phát hành, có trích dẫn lời nhận định của 1 Đức Hồng y về vài thay đổi trong Giáo hội. Theo bái báo ấy, Đức Hồng y nói rằng trước công đồng Vaticano II, “chúng ta hơi kém hiểu biết về lịch sử”, ví dụ: người ta không hiểu rằng Thánh lễ không phải lúc nào cũng cử hành bằng La ngữ. Riêng tôi, không bao giờ tôi nghĩ như thế. Xin cha cho biết trước khi có những thay đổi như hôm nay, thánh lễ cử hành bằng ngôn ngữ nào?
Đáp: Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của Đức Hồng y. Qua kinh nghiệm bản thân và thư từ trao đổi với độc giải trong những năm tôi làm chủ biên mục này, tôi nhận thấy rằng lý do nghiêm trọng khiến người ta từ chối và không hiểu những sự tiến triển hiện nay trong giáo hội là vì rất nhiều tín hữu không biết ngay cả những kiến thức cơ bản về lịch sử của giáo hội trong những thế kỷ qua.
Không có chút kiến thức nào về lịch sử, người ta dễ rơi vào chỗ quyết đoán rằng những gì đã có từ khi chúng ta sinh ra thì mãi mãi vẫn có. Chẳng hạn, để phản đối việc dùng Anh ngữ trong thánh lễ, 1 phụ nữ đã nói với tôi cách đây không lâu rằng: “Nếu La ngữ là ngôn ngữ Đức Giê-su dùng được, thì tại sao chúng ta không dùng được?” Sự kiện Đức Giê-su và các Ki-tô hữu tiên khởi hầu như không biết La ngữ chẳng làm bà ta thay đổi quan niệm, vì thực tế ba ta đâu biết chuyện đó.
Về câu hỏi của bạn, tôi xin trả lời rằng trước cả Vaticano II, thánh lễ đã được cử hành, bằng nhiều ngôn ngữ. Dĩ nhiên, vào thời giáo hội sơ khai, ngôn ngữ dùng trong phụng vụ hầu như là tiếng A-ra-mê-ô, mà Đức Giê-su, các môn đệ và những tín hữu đầu tiên sử dụng.
Tuy nhiên, chẳng bao lâu, sau ngôn ngữ chung của phụng vụ là tiếng Hy lạp, một thứ ngôn ngữ phổ biến trên thế giới trước cuộc bành trướng đầu tiên của Ki-tô giáo. Nhiều ngôn ngữ khác như tiếng Xyri, Ả-rập và Copte là một trong vài ba ngôn ngữ còn lại của nước Ai cập cổ đại, hiện nay vẫn dùng trong các giáo hội công giáo Đông Phương.
Có lẽ trong khoảng thế kỷ thứ 4, giáo hội Roma bắt đầu thừa nhận La ngữ là ngôn ngữ gần như chính thức. Thật dễ hiểu vì nhiều lý do. Vào thời đó và suốt gần 1000 năm sau, bất cứ ai có học đều biết La ngữ. Sự giao dịch ngoài dân sự cũng như trong giáo hội đều dùng La ngữ. Do đó đương nhiên phụng vụ phải dùng La ngữ.
Thời công đồng Tridentino (giữa thế kỷ 16) và trong những năm sau đó, việc sử dụng tiếng bản xứ trong phụng vụ vị coi là “thệ phản”. Ai chủ trương cởi mở hơn trong việc dùng tiếng địa phương (như một số người chủ xướng cở công đồng Tridentino bị nghi ngờ là bội giáo hay lạc giáo).
Tuy vậy, chính trong những thế kỷ đó, nhiều ngôn ngữ khác như Armenia, Hy lạp, Đức, Trung hoa, Mahawk Iroquoi ở Hoa kỳ và những ngôn ngữ khác nữa, dần dần được chính thức công nhận.
Chiều hướng trở về với ngôn ngữ địa phương trong phụng vụ tiến triển chậm chạp trên dưới 1000 năm qua. Động cơ của sự phát triển ấy đã được các Đức Giáo hoàng gần đây cũng các giám mục dự công đồng giải thích trong nhiều nơi. Trong Hiến chế về Phụng vụ thánh của công đoàn Vaticano II, các giám mục bày tỏ ước muốn thay đổi, những yếu tố “được du nhập vào và không hài hòa với bản chất thâm sâu của phụng vụ” hay kém hiệu năng.
Ngôn ngữ chính là một trong những yêu tố đó. Các giám mục nói rằng, các bản văn và nghi thức phải được sửa đổi để “chúng diễn tả rõ ràng hơn sự thánh mà chúng biểu thị, để dân Chúa có thể hiểu được cách dễ dàng và tham gia cách trọn vẹn, tích cực trong một công đoàn” (PV số 21).
Các Ki-tô hữu luôn luôn nhấn mạnh rằng nghi lễ phụng vụ của họ bị sử dụng một ngôn ngữ có khả năng diễn đạt sự tôn kính và mầu nhiệm của việc họ cử hành. Kimh nghiệm chứng minh rằng điều ấy có thể thực hiện được khi sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng dân Chúa một cách cẩn thận hơn và xứng hợp
- Tại sao linh mục là “chủ tế”?
Hỏi: Mới đây, trước lúc bắt đầu thánh lễ, con nghe thông báo cha đọc là: “chủ tế dâng thánh lễ”, khác với thói quen vẫn gọi là “vị cử hành thánh lễ”. Trong thuật ngữ của Giáo hội, hai từ ấy có đồng nghĩa không? Hay chức tư tế thừa tác có lẫn lộn với chức tư tế của cộng đồng Dân Chúa không?
Đáp: Cách gọi linh mục là chủ tế được dùng với hai lý do chính, nối kết chặc chẽ với nhau. Nếu trung thành với truyền thống Ki-tô giáo, thì phải và nên nói rằng toàn thể cộng đồng tụ họp chung quanh bàn thánh trong đức tin để cử hành đức tin ấy bằng cách nghe Lời Chúa và dâng thánh lễ.
Không biết bao lần trong phụng vụ, thực tại ấy được biểu lộ cách rõ ràng, nhất là trong kinh nguyện Thánh Thể. Chẳng hạn kinh nguyện Thánh Thể 1 (gọi là Lễ quy Roma, là lễ quy duy nhất được dùng trong vài thế kỷ trước Vaticano II) làm nổi bật điều này là khi linh mục nói gì, thì ngài nói và hành động thay cho mọi người.
Kinh nguyện Thánh thể ấy viết: “Tất cả chúng con tụ hợp nơi đây, trước nhan Chúa… dâng Chúa hiến lễ chúc tụng”. Sau đó, kinh nguyện còn lặp lại: “Lạy Cha, xin Cha hãy nhận lễ vật của toàn thể gia đình Cha”, “chúng con là Dân Cha và thừa tác viên của Cha… dâng lên Cha là Thiên Chúa vinh quang và uy quyền, hiến lễ thánh thiện và vẹn tuyền”.
Thứ đến, gọi linh mục là chủ tế việc cử hành là điều thích hợp, và chính đáng, vì theo từ điển, người chủ tế là người giữ vai trò lãnh đạo và điều khiển cuộc lễ.
Huấn thị tổng quát của sách lễ Roma nói rõ ràng đó chính là chức vụ mà linh mục phải thi hành khi đã được thụ phong. “Giữa cộng đoàn tín hữu, vị tư tế vì phẩm chức, cũng có quyền dâng hiến lễ nhân danh Đức Ki-tô. Người chủ tọa buổi lễ và hướng dẫn cầu nguyện, công bố sứ điệp cứu rỗi, hướng dẫn cộng đồng dân Chúa dâng hiến lễ lên Cha, nhờ Đức Ki-tô và trong Chúa Thánh Thần, ban và chia sẻ với họ Bánh Hằng Sống.
“Trong khi cử hành thánh lễ, ngài phải phục vụ Thiên Chúa và cộng đồng dân Chúa cách trang nghiêm và khiêm tốn. Trong cách cử hành thánh lễ, và công bố Lời Chúa, ngài phải làm cho Dân Chúa cảm thấy sự hiện diện sống động của Chúa Ki-tô” (số 60).
Trong phụng vụ và thần học của giáo hội, bí tích Truyền chức Thánh trao cho linh mục vài trò chủ yếu và cần thiết trong việc cử hành thánh lễ. Tuy nhiên, trong khi chu toàn vài trò ấy, ngài không làm cái gì cho cộng đoàn cả, điều mà từ ngữ “vị cử hành” có vẻ ngụ ý.
Ngài hành động với cộng đồng, vì trước khi là linh mục, ngài cũng là một thành viên nhờ bí tích rửa tội.
Vậy dùng danh từ “vị cử hành” chẳng có gì sai trái cả, miễn là phải hiểu một cách chính xác, nhưng gọi linh mục là “chủ tế” thì diễn tả cách chính xác và đầy đủ hơn vai trò đích thực của ngài trong phụng vụ.
- Thánh lễ mới
Hỏi: Trước đây, người ta dạy chúng con rằng sau khi vị tông đồ cuối cùng qua đời, không có gì còn có thể thêm vào được nữa. Thế thì làm sao lại có “thánh lễ mới”.
Đáp: Tôi không thể tin là người ta đã dạy cho các bạn không có gì mới được thêm vào sau khi vị tông đồ cuối cùng chết. Nếu đúng thế, thì lẽ ra chúng ta phải cử hành thánh lễ - hay muốn nói là “xem lễ” – bằng tiếng Hy lạp hay tiếng Do thái cổ trong khi mọi người ngồi hay đứng hơn là đứng xung quanh bàn ăn.
Bởi vì Giáo hội không phải là nhà bảo tàng, những là thân thể sống động của Đức Ki-tô, nên đã thay đổi nhiều. Suốt 2000 năm qua, nhiều tín điều và thực hành đã phát triển và thay đổi trên những cấp độ khác nhau.
Thánh lễ cũng thế thôi, đã vài trăm lần sửa đổi qua các thế kỷ. Hình thức thánh lễ thời của những người lớn tuổi cũng chỉ là một trong nhiều hình thức mà giáo hội đã sử dụng trong lịch sử của mình.
Bởi vậy, nghi thức thánh lễ hiện tại chỉ là một trong một chuổi dài những “thánh lễ mới” trong lịch sử giáo hội, mặc dầu nó có nhiều nét tương đồng với “thánh lễ cổ” của Ki-tô hữu sơ khai hơn bất cứ nghi thức nào khác trong suốt hơn 1000 năm qua.
- Thánh lễ cầu cho kẻ chết
Hỏi: Khi một người sống đời Ki-tô hữu thánh thiện qua đời và đã nhận lãnh các nghi thức của giáo hội, cha nghĩ sao về việc dâng lễ cầu nguyện cho kẻ ấy? Nếu tin tưởng vào lòng thương xót và tình yêu của Thiên Chúa, cha có nghĩ là cần phải tiếp tục dâng lễ cầu nguyện cho họ năm này qua năm khác không?
Đáp: Có nhiều lý do để cầu nguyện cho kẻ chết. Trước hết, tương tự như mọi kinh nguyện, ý lễ có mục đích cầu xin Thiên Chúa chúc lành và ban ơn cho người ấy suốt thời gian sống. Nghe có vẻ xa lạ, nhưng chúng ta biết Thiên Chúa đâu có bị giới hạn trong thời gian. Đối với Người, quá khứ, hiện tại hay tương lai đều là bây giờ cả. Và chúng ta có thể đặt mình vào trong quỹ đạo vĩnh cửu khi cầu nguyện.
Thật thế, giáo hội luôn đặt mình vào trong quỹ đạo ấy. Ví dụ, trong phụng vụ an táng và trong vài lễ giỗ nhiều năm sau khi qua đời, Giáo hội khẩn cầu Thiên Chúa ban phúc cho kẻ đã qua đời được chết bình an.
Một lý do khác, theo giáo lý truyền thống Ki-tô giáo, kinh nguyện và việc lành chúng ta làm thật sự có thể giúp cho những người đã chết đền bù các tội họ đã phạm. Lẽ dĩ nhiên chúng ta không biết chắc nhưng việc ấy đem lại kết quả thế nào trong sự quan phòng của Thiên Chúa, nhưng điều ấy vẫn là tín điều vững vàng chắc chắn của Công giáo.
Điều cuối cùng – và cũng là điều phổ biến hơn chúng ta tưởng nhiều – là thánh lễ và kinh nguyện chỉ đơn giản bày tỏ lòng biết ơn và ca ngợi Thiên Chúa cho cuộc đời của người thân chúng ta yêu mến và vẫn còn yêu mến.
Tôi biết điều ông bà tin chắc rằng người họ thân thương đã lên thiêng đàng, và họ có thể cầu nguyện với các người ấy như là các thánh của Thiên Chúa, tuy vậy, họ vẫn xin lễ cho những người ấy. Hiển nhiên, những thánh lễ ấy chỉ là sự biểu lộ đức tin và đức cậy, một phần của sự tưởng nhớ và vui mừng vì niềm hạnh phúc của người họ thương mến.
- Có thánh lễ an táng và hôn phối “đặc quyền” không?
Hỏi: Tôi đã dự nhiều lễ an táng và hôn phối công giáo. Thú thật, tôi thường ngạc nhiên về số các linh mục tham dự các lễ ấy. Trong một số lễ thì có mặt nhiều linh mục, còn trong một số lễ khác thì ngay cả cha xứ cũng không có mặt để hành lễ. Làm sao cha giải thích được sự phân biệt đối xử ấy?
Đáp: Là cha xứ một giáo xứ khá lớn, tôi thông hiểu những vẫn đề bạn lưu ý. Tôi biết dù câu trả lời có đơn giản và rõ ràng thế nào đi nữa, thì cũng không tránh khỏi hiểu lầm và thường dẫn đến sự phê phán hấp tấp.
Thông thường, sẽ có thể trả lời cách thật rõ ràng nếu người ta biết hoàn cảnh của những người trong cuộc. Không kể các trường hợp ngoại lệ, người ta có thể đơn sơ giải thích rằng vì cá nhân ấy đã làm việc (thường rất âm thầm) trong những cơ quan, tổ chức có nhiều tiếp xúc với các linh mục, hay vì các linh mục ấy là bạn thân, hoặc trong dòng họ có vài linh mục.
Dĩ nhiên, những ai không biết gia đình ấy cách thân thiết, thì khó biết được những chi tiết như thế.
Về việc linh mục nào cử hành lễ an táng hay hôn phối, tôi nghĩ rằng trong hầu hết các giáo xứ việc ấy còn tùy linh mục nào không bận công tác và tùy gia đình sắp xếp với ngài để lễ an táng hay hôn phối được tiến hành một cách tốt đẹp nhất. Tôi luôn luôn nhận thấy giáo dân rất thông cảm và thận trọng hoàn cảnh như vậy.
- Bệnh nhân tâm thần có bị buộc dự lễ không?
Hỏi: Khi tham dự thánh lễ tại giáo xứ, con thường thấy 1 người dẫn 1 nhóm thiếu niên khuyết tật, tâm thần đến dự lễ. Tại sao những trẻ em đáng thương ấy phải dự lễ. Chắc chắn các em không hiểu hết những gì đang diễn ra và ở trong nhà thờ chắc không thích thú gì. Các em có buộc phải dự lễ không?
Đáp: Theo ý kiến của tôi, bạn đánh giá quá thấp khả năng hiểu biết và tham dự phụng vụ cũng như các hoạt động khác đại loại như thế của những người khuyết tật, tâm thần.
Một nhóm người trong tổ chức các công dân chậm phát triển của địa phương chúng tôi đều đặn tham dự thánh lễ trong giáo xứ. Thêm vào đó, tôi thường xuyên dâng lễ với một số trẻ em và người lớn khuyết tật thể lý cũng như tâm trí. Kinh nghiệm cho tôi thấy trong họ không có khả năng lãnh hội như người khác, nhưng lại có khả năng biểu lộ niềm vui nhận thức được sự hiện diện của Thiên Chúa và yêu mến Người, đồng thời diễn tả được tình người ấm cúng và đơn sơ.
Quả thật, có được những kết quả ấy phần lớn là do cha mẹ và gia đình yêu thương và săn sóc chúng một cách đặc biệt, cũng như do những người danh giá vì yêu thương đã tự nguyện giúp đỡ chúng. Thật sự là như vậy đấy! Những trẻ em như thế dĩ nhiên không buộc phải dự lễ chủ nhật. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta không thể đón nhận hay trao ban được gì nhiều cho những người cùng dâng lễ với chúng đâu.
- Linh mục có buộc phải dâng lễ không?
Hỏi: Tại giáo xứ con, mỗi chủ nhật có 5 lễ nhưng chỉ có 3 linh mục. Mỗi linh mục được dâng mấy lễ? Có luật nào buộc linh mục phải dâng lễ mỗi ngày không?
Đáp: Theo luật chung của giáo hội, mỗi ngày các linh mục chỉ được phép cử hành 1 thánh lễ. Tuy nhiên, các giám mục có thể cho phép các ngài dâng 2 lễ trong những lễ đặc biệt hay trong cá ngày chủ nhật khi cần thiết. Nguyên tắc căn bản trong những vấn đề như thế là để đáp ứng nhu cầu hợp lý của cộng đồng dâng Chúa, nhất là trong việc cử hành thánh lễ và các bí tích. Vì thế, các linh mục cử hành hai thánh lễ mỗi ngày trong tuần chẳng có gì lạ thường. Chẳng hạn, ngoài thánh lễ trong ngày ngài còn phải cử hành lễ an táng.
Cũng có nhiều linh mục mỗi ngày chủ nhật phải dâng 3 lễ mới có thể đáp ứng nhu cầu tối thiểu của giáo dân muốn dự lễ tại nhà thờ giáo xứ. Các linh mục phải hết sức tránh tình trạng đó, nhưng đôi lúc vì số linh mục ít ỏi không thể phân phối đồng đều trong các giáo xứ, nên để phục vụ cộng đồng dân Chúa một cách thích đáng thì các linh mục phải làm như thế thôi.
Giáo luật không qui định một cách chặt chẽ khi nào linh mục buộc phải dâng lễ, nhưng chắc chắn giáo hội khuyến khích các ngài cử hành thánh lễ thường xuyên. Giáo luật viết: “Các linh mục nên nhớ rằng công cuộc cứu rỗi liên lỉ được thực hiện trong Hiến lễ Tạ ơn, do đó các ngài phải thường xuyên cử hành thánh lễ. Thật vậy, các linh mục rất nên cử hành thánh lễ mỗi ngày, ngay cả khi không có giáo dân tham dự, vì đó là hành vi của Đức Ki-tô và giáo hội mà linh mục là người thi hành chức vụ trọng yếu ấy (GL 904). Hiển nhiên, để chu toàn trách nhiệm đối với cộng đồng dân Chúa trong giáo xứ, bất cứ linh mục nào cũng phải dâng lễ hầu như mỗi ngày trong điều kiện sống bình thường.
- Nến dùng trong thánh lễ
Hỏi: Khi dự lễ, nhiều khi chúng con bị chia trí vì cách trang trí bàn thờ, và cả những nơi khác nữa. Trước đây, con được biết nến để dùng trong thánh lễ phải được làm phép và ít nhất phải có 51% sáp ong. Con hiểu ngày nay không buộc phải như thế nữa, và con hỏi ý kiến 1 linh mục nhưng ngài không dám chắc. Vậy xin cha cho biết nến sáp làm bằng chất liệu khác có dùng trong thánh lễ được không. Cần bao nhiêu đèn nến trong thánh lễ?
Đáp: Huấn thị tổng quát về Sách lễ Roma, được in trong phần đầu sách lễ, bao gồm các chỉ dẫn căn bản về việc cử hành thánh lễ. Những qui định ấy chỉ đòi hỏi phải có nến “để tỏ lòng cung kính và mừng lễ”. Có thể đặt nến trên bàn thờ hay chung quanh bàn thờ, dĩ nhiên đừng để che khuất những gì đang diễn ra trên bàn thờ (số 209). Cho nên, không có qui định đặc biệt về chất liệu và số lượng nến. Chúng cần phải xứng hợp với sự trang trọng của việc cử hành và cách bố trí cung thánh.
- Chén thánh
Hỏi: Có đúng chén Thánh dùng trong thánh lễ không buộc phải làm bằng vàng hay mạ vàng nữa không?
Đáp: Trước đây ít lâu, luật buộc mặc trong các chén Thánh hay những bình thánh khác dùng đựng Máu hay Mình Thánh Chúa dùng trong thánh lễ ít ra phải mạ vàng. Theo qui định hiện nay, những đồ thánh ấy phải được làm bằng các vật liệu quí tại địa phương và thích hợp trong thánh vụ. Chẳng hạn gỗ mun hay các loại gỗ cứng khác được xem là thích hợp. Thêm vào đó, những qui định về hình dáng các đồ thánh ấy cũng cởi mở hơn. Chỉ cần có hình dáng phù hợp với văn hóa địa phương và mục đích của chúng trong phụng vụ.
- Được dùng chén thánh chưa hiến thánh trong thánh lễ không?
Hỏi: Mới đây, có 1 linh mục dâng thánh lễ tại nhà một người bạn. Người bạn ấy muốn linh mục dùng cái chén của gia đình làm chén thánh, nhưng ngài từ chối. Ngài giải thích là chỉ có thể dùng chén đã được hiến thánh. Con nghĩ luật ấy đã thay đổi, có phải thế không?
Đáp: Có vài sửa đổi trong qui định về chén Thánh, nhưng linh mục ấy có lý đấy! Chỉ được phép dùng những chén đã được làm phép để dâng Thánh lễ. Lý do quá rõ ràng, phải kính trọng những đồ thánh dành riêng trong thánh lễ và không được sử dụng trong đời sống hàng ngày.
Đúng vậy, ngày nay chén Thánh được “làm phép” cách đơn giản để dùng trong thánh lễ. Nhưng một khi dùng như thế, thì từ đó về sau chỉ để dùng vào việc này thôi. Bằng một sự chúc lành đặc biệt trong hoặc ngoài thánh lễ, vị giám mục hay linh mục biểu lộ ý hướng muốn dâng hiến một chén thánh hay đĩa thánh để dành riêng cho việc cử hành thánh lễ (xem Nghi thức thánh hiến nhà thờ, bàn thờ, in năm 1977).Nếu khi có dịp khác, và nếu chén ấy có phẩm chất tốt, có lẽ người bạn ấy sẽ sẵn sàng tặng cho vị linh mục hay nhà thờ giáo xứ để làm chén thánh.
- Bánh trong thánh lễ
Hỏi: Đâu là quan điểm chính thức của Giáo hội về Bánh lễ dùng để cử hành thánh lễ theo nghi thức La tinh? Cha biết có loại bánh thường dùng nào thích hợp và được phép dùng trong thánh lễ thay cho bánh cổ truyền không? Xin cha cho biết cách thức làm bánh lễ cổ truyền bắt đầu từ đâu. Con nghĩ rằng không riêng gì con, nhưng nhiều người công giáo cũng muốn biết rõ điều này.
Đáp: Tôi không thể trả lời cách trung thực và không ngoan nếu không có lời giải thích trước rằng, có hai qui định có vẻ trái ngược về bánh lễ.
Trong suốt những thập kỷ vừa qua, Giáo hội càng ngày càng nhấn mạnh hơn về tầm quan trọng đặc biệt của các dấu chỉ trong khi cử hành phụng vụ, nhất là các bí tích khác và bí tích Thánh Thể. Những dấu chỉ ấy – dầu, nước, bánh, rượu, cử chỉ, lời nói – là yếu tính của bí tích và phải phản ánh một cách đầy đủ và chính xác hết sức thực tại mà chúng muốn bảy tỏ. Nước bẩn, dầu hư, tuy có thể làm cho các bí tích thành sự, nhưng hết sức bất xứng. Do đó, khi nói về thánh lễ, Giáo hội nhấn mạnh rằng bánh dùng để cử hành thánh lễ phải là “của ăn thực sự” (Huấn từ tổng quát của thánh lễ Roma số 283). Nói cách khác, bánh phải có hình dáng và mùi vị như bánh người ta thường dùng.
Trong lúc đó, truyền thống nghi lễ Roma ít nữa là trong nhiều thế kỷ và các qui định hiện thời của giáo hội chỉ thị rằng khi làm bánh không được pha thêm chất liệu gì khác vào bột mì và nước.
Qua nhiều lần trao đổi về vấn đề ấy trong những năm gần đây, tôi được biết không ai có thể làm bánh theo cách ấy, nếu như người ta muốn nó có vẻ giống bánh thường dùng hơn là bánh lễ thường lệ của chúng ta đồng thời còn có thể dùng trong thánh lễ. Người ta còn nhớ chuyện 1 cậu bé khi được hỏi liệu cậu có tin bánh đã trở nên Minh Đức Ki-tô không, cậu bé đáp: “Con tin đó là Mình Đức Ki-tô, nhưng không tin trước đây là bánh”.
Đầu năm 1978, Ủy ban Phụng tự của Hội đồng Giám mục Hoa kỳ đã đệ trình lên Thánh bộ Phụng tự ở Roma quan điểm chính thức trong việc tìm kiếm cách thức làm sao cho bánh lễ có vẻ giống bánh thật hơn khi thêm ít chất liệu khác vào bánh không men. Vào năm sau đó, Hồng y Francis Seper, Bộ trưởng Thánh bộ giáo lý đức tin trả lời: “Có lẽ không thể chấp nhận đề nghị” thêm các chất liệu khác vào bột mì để làm bánh lễ.
Ngày 23/5/1980, một Huấn thị khác của Vatican (Thánh bộ các Bí tích và Phụng tự) trên căn bản cũng lặp lại giáo huấn tương tựa. Do đó hiện nay những qui định ấy vẫn còn hiệu lực trong những giáo hội theo nghi lễ Roma. Như điều bạn muốn nói trong câu hỏi, thì các giáo hội theo nghi lễ Đông Phương có những qui định hoàn toàn khác.
Điều lưu ý cuối cùng là những huấn thị của các thánh bộ, nhất là thư của Đức Hồng y Seper chỉ nói đến sự “hợp pháp và nên” của các loại chất liệu khác nhau để làm bánh lễ. Như vậy, dù bánh có thêm những chất liệu khác vào thì vẫn thành sự, nhưng dùng trong thánh lễ thì không hợp luật.
- Bàn thờ còn buộc phải làm bằng đá không?
Hỏi: Một giáo xứ trong thành phố chúng tôi vừa xây xong nhà thờ mới. Trước đây, mỗi bàn thờ dùng để cử hành thánh lễ phải có khối đá, cùng với xương của 1 vị thánh. Nhưng chúng tôi nhận thấy bàn thờ mới tuy đẹp nhưng không có tảng đá nào cả. Xương thánh có còn cần thiết nữa không? Nếu không thì tại sao?
Đáp: Phải, Giáo hội không còn buộc phải dùng tảng đá cùng với xương vủa vị thánh nào nữa. Trong thực tế, nếu người ta không hiểu đúng về tảng đá ấy, thì cũng không được phép dùng.
Vào thời giáo hội sơ khai, thánh lễ thường cử hành trên phần mộ các vị tử đạo là những chứng nhân đặc biệt của Đức Giê-su Ki-tô qua cái chết của họ muốn chịu vì Ngài. Sau đó, thói quen đặt hài cốt hay một phần hài cốt các vị tử đạo trong các bàn thờ như là tiếp nối và tưởng nhớ truyền thống dần dần phát triển.
Thời gian trôi qua, kiến trúc nhà thờ và bàn thờ trở nên giàu tưởng tượng hơn. Bàn thờ bắt đầu mất dần căn tính như là “bàn của Chúa”. Đôi khi nó bị che lấp dưới ảnh tượng các thiên thần, các thánh hay những vật trang trí khác.
Chúng ta không cần đi sâu vào chi tiết của xu hướng ấy, nhưng giáo hội ngày nay trong khi nỗ lực canh tân phụng vụ, đang cố gắng hết sức làm sao cho bàn thánh trở nên điểm trung tâm và nổi bật giữa ngôi nhà thờ. Trong phần mở đầu cảu Nghi thức thánh hiến nhà thờ (ĐGH Phaolo VI phê chuẩn năm 1977) giáo hội yêu cầu bàn thờ phải đặt cách xa bức tường đủ để linh mục có thể dễ dàng đi chung quanh, và nằm ở trung tâm thu hút sự chú ý của tất cả cộng đoàn. Trong bất cứ nhà thờ nào mới xây dựng, không được để các ảnh tượng, hình ảnh các thánh, xương thánh trên mặt bàn thờ hay cao hơn bàn thờ.
Nói cách khác, bàn thờ được cung hiến cho Thiên Chúa và cần phải làm cho giáo dân ghi nhờ ý nghĩa của việc cung hiến bàn thờ cho Thiên Chúa để tỏ lòng tôn kính các vị thánh.
Huấn thị cho phép tiếp tục tuân giữ truyền thống để xương các thánh tử đạo hay các thánh khác “trong” bàn thờ, miễn là tuân theo các điều kiện sau:
- Xương thánh dùng để đặt trong bàn thờ phải có kích thước đủ lớn để người ta có thể nhận ra đó là những phần của cơ thể con người. Không nên dùng xương thánh quá nhỏ của một hay nhiều vị thánh.
- Phải bảo đảm cẩn thận xác thực của xương thánh. Một bàn thờ được cung hiến dù không có xương thánh vẫn tốt hơn là có xương thánh mà bị nghi ngờ là không xác thực.
- Không được đặt hòm thánh tích trên bàn thờ hay trong một mặt bàn thờ (giống như tảng đá bàn thờ thường đặt trong bàn thờ). Phải đặt ở phía dưới bàn thờ, tương xứng với cách trang hoàng bàn thờ.
Giáo luật khoảng 1237 qui định rằng nên dành việc đặt xương thánh cho những bàn thờ cố định, tức là những bàn thờ gắn liền với nền cung thánh, không di chuyển được.
- Những đòi hỏi trong nhạc phụng vụ
Hỏi: Các linh mục trong giáo xứ bảo chúng con không được hát và đàn một vài bản nhạc mà mấy năm nay vẫn thường dùng. Các ngài bảo vì không đúng với phụng vụ. Con nghĩ nếu đàn hát những bài nhạc đó mà làm cho cộng đoàn dân Chúa vui sướng thì đâu có gì sai trái. Sao các linh mục lại cấm đoán như thế? Chúng con còn đàn hát được loại nhạc nào?
Đáp: Để trả lời cho bạn một cách thật thỏa đáng, phải cần 1 bài dài đến chóng mặt, và vượt ngoài khuôn khổ của linh mục này. Tuy nhiên, điều bạn thắc mắc quan trọng đến nỗi không thể trả lời qua loa đại khái được.
Phản ứng đầu tiên của tôi khi đọc thư của bạn (dài hơn đoạn tôi trích dẫn ở trên rất nhiều) là cảm thấy giáo xứ của bạn quả là may mắn vì có được những linh mục như thế! Trong lúc các lời phê phán luôn chĩa vào âm nhạc, xem ra các ngài biết mình đang làm gì.
Cho dù 1 tác phẩm có vẻ êm tai và làm cho dân Chúa (ca đoàn hay cộng đoàn) vui thích, thì sự việc ấy không tự nó làm cho bản nhạc đó trên nên nhạc thánh được. Cách đây 2 năm, ĐGH Gioan Phao-lô II đã nói: “Không phải tất cả các bản nhạc được đưa vào phụng vụ ắt sẽ trở nên thánh nhạc cả đâu”.
Giáo hội đưa ra những tiêu chuẩn hiển nhiên và rõ ràng để minh định loại nhạc nào có thể dùng trong phụng vụ và phải sử dụng thế nào. Hiện nay, những tiêu chuẩn ấy được trình bày trong chương 6 bàn về thánh nhạc của Hiến Chế về Phụng vụ thánh của công đồng Vaticano II, và trong nhiều tài liệu khác của các giám mục Hoa kỳ cũng như của các giám mục khác.
Tắt một lời, bất cứ loại nhạc nào muốn dùng trong thánh lễ và phụng vụ chính thức khác thì phải đáp ứng 3 nhu cầu:
1- Thứ nhất là nghệ thuật: về cơ bản, phải là nhạc phẩm có tính nghệ thuật cao về mặt sáng tác cũng như trình bày.
Theo nhận xét của tội, trong 3 yêu cầu thì đây là một yêu cầu thường sai phạm nhất trong nhiều giáo xứ. Dù cổ điển hay tân thời, dùng dương cầm hay guitar, bằng hợp xướng hay tốp ca, âm nhạc không thể trở thành thánh nhạc phụng vụ chỉ vì các nốt nhạc liên kết với nhau và người sáng tác hay người trình bày có tâm hồn ngay chính là đủ đâu.
2- Thứ đến, âm nhạc phải theo đúng phụng vụ, nghĩa là cũng với các hoạt động khác, âm nhạc phải ăn khớp với mùa phụng vụ và ngày lễ, đồng thời tạo cơ hội cho toàn thể cộng đoàn tham dự vào các phần của thánh lễ. Ví dụ: Kinh lạy Cha mà hát đơn ca, hay câu đáp “thánh- thánh- thánh” mà chỉ do 1 tốp ca hát là vi phạm yêu cầu trên.
3- Thứ ba, âm nhạc phải thích hợp với mục vụ. Không có nghĩ là chỉ hát những bản nhạc cha xứ thích, mà âm nhạc phải hỗ trợ cộng đoàn địa phương ấy cùng nhau cầu nguyện và thờ phượng Thiên Chúa trong chính thời gian đặc thù ấy. Ở đâu lại xuất hiện nhiều vấn đề: kinh nghiệm và cả khả năng âm nhạc của cộng đoàn Dân Chúa, những ưu tư về đời sống kinh tế, xã hội, gia đình mà họ mang theo khi dự lễ…
Hiển nhiên, ít có giáo xứ có thể tuân thủ trọn vẹn tất cả những nguyên tắc trên trong mọi lúc, hay một cách thường xuyên.
Nhưng thánh Augustino có lần lưu ý về nhạc phụng vụ (1600 năm về trước – chẳng phải là vấn đề mới): “Đừng dễ dàng nổi giận vì điều bất toàn trong khi bạn đang nỗ lực đạt đến sự hoàn hảo”.
Bạn có thể làm gì được ư? Nếu bạn thật sự quan tâm đến âm nhạc, hay mua cuốn “Âm nhạc trong phụng tự công giáo” do Ủy ban phụng tự của Hội đồng giám mục Hoa kỳ ấn hành. Tài liệu ấy rất dễ đọc và có thể đủ cung cấp những kiến thức tối thiểu cho bất cứ nhạc sĩ hay nhạc trưởng công giáo nào đang làm nhiệm vụ.
Có thể mua tại nhà xuất bản USCC, 1312 Massachusetts Ave, NW, Washington DC 20005.
- Tư thế trong khi cử hành phụng vụ thánh thể
Hỏi: Thói quen ngồi trong nhà thờ có từ bao giờ? Chúng con đoán rằng, những vị khách quý được ngồi lâu hơn những người bình thường.
Đáp: Tôi không hiểu bạn muốn nói điều gì cả, nhưng bạn đã đụng đến một trong những chiều kích rất lý thú của lịch sử giáo hội. Điều nên để ý là thói quen đứng, ngồi, quỳ trong giáo hội phản ánh tình trạng suy thịnh về đường lối và thần học trong đời sống giáo hội.
Về câu hỏi của bạn, tôi xin trả lời rằng, trong giáo hội sơ khai, dương như Dân Chúa thường ngồi nghe Lời Chúa (người Do thái cũng vậy). Tuy nhiên, ngay cả lúc ấy người ta cũng có thói quen đứng cầu nguyện. Vì các nhà thờ và đại thánh đường xây cất ngày càng rộng lớn, và số giáo dân dự lễ ngày càng đông nên đứng là tư thế thông thường trong phụng vụ.
Ngồi trong nhà thờ trở nên quen thuộc hơn trong những thế kỷ gần đây, nhất là thời gian có phong trào cải cách. Từ đó, ghế dài có dựa được đưa vào trong lối kiến trúc nhà thờ, có lẽ do ảnh hưởng của truyền thống cải cách nhấn mạnh đến Lời Chúa, mà trong khi nghe, dân Chúa ngồi.
Như bạn nói ở trên, các chức sắc dân sự và tôn giáo đã dùng ghế ngồi trong 1 thời gian sớm hơn nhiều. Linh mục hay giám mục chủ tế luôn luôn ngồi ở những lúc thích hợp trong phụng vụ.
Tư thế quỳ cầu nguyện du nhập vào phụng vụ rất muộn, chính là để phản ứng lại một vài lạc giáo chối bỏ sự hiện diện đích thực của Đức Giê-su trong Thánh Thể. Chính những lạc giáo ấy và phản ứng của công giáo là nguyên do đem đến nhiều thay đổi trong thánh lễ đểm làm nổi bậc sự hiện diện của Đức Ki-tô trong bí tích.
Tuy vậy, trong khoản hơn vài trăm năm không hề có quỳ và bái gối trong phụng vụ Thánh lễ. Trước đây, quỳ là dấu hiệu ăn năn thống hối. Do vậy, vào những thời nào đó người ta cho là không thích hợp. Trong lịch sử giáo hội, có thời ngồi hay quỳ đều bị cấm, và bắt buộc phải đứng trong phụng vụ ngày chủ nhật và Phục sinh.
- Cúi đầu hay bái gối?
Hỏi: Mới đây đã 2 lần con thấy nhiều người trong đó có 1 linh mục – cúi đầu bái bàn thờ và Mình Thánh Chúa thay vì bái gối. Cha vui lòng cho con biết tại sao họ làm thế không? Nếu tin thật Đức Giê-su hiện diện trong bí tích Thánh Thể, lẽ nào lại không nên bái gối?
Đáp: Bái gối, bằng cách gập 1 hay 2 chân là 1 cử chỉ tôn kính, trở thành cử chỉ tôn kính của người công giáo ngày nay và người nông thôn thì quen bái gối hơn cả.
Nhưng cúi mình thật sâu và kính cẩn, hoàn toàn có thể là một sự tôn kính. Có lẽ trước đây 300 năm, cúi đầu là một cách thông thường để tỏ lòng tôn kính Thánh Thể hay Thánh Giá. Thực thế, cử chỉ cúi đầu trước Mình Thánh Chúa hoàn toàn thích hợp cho thiếu nữ. Thói quen bái gối bắt nguồn từ chính phong tục của đế quốc Roma, và các triều đình ở Châu Âu.
- ại sao linh mục hôn bàn thờ?
Hỏi: Chúng con có một câu hỏi về việc hôn kính bàn thờ. Vì sao linh mục hôn bàn thờ? Một vài linh mục hôn bàn thờ sau khi ban phép lành, và một số khác thì không. Tại sao thế?
Đáp: Đối với người công giáo chúng ta, bàn thờ không chỉ là một món đồ trang trí, nhưng bàn thờ còn là chất chứa mọi loại biểu tượng quý báu.
Cũng với tòa giảng là nơi công bố Lời Chúa, Bàn thờ là trung tâm điểm của cuộc gặp gỡ của chúng ta và Thiên Chúa Cha trong và nhờ Đức Giê-su Ki-tô. Nếu phụng vụ Thánh thể là biến cố trung tâm điểm chúng ta đến cùng Cha, “nhờ Ngài (Đức Ki-tô), với Ngài và trong Ngài”, thì bàn thờ nơi diễn ra biến cố ấy, đối với chúng ta giữ 1 vị trí vinh dự và cao trọng ưu tiên.
Huấn thị tổng quát của sách lễ Roma giải thích rằng: “Bàn thờ, nơi hy tế thập giá hiện diện dưới những dấu chỉ bí tích, là bàn tiệc của Chúa, là cho dân Chúa được mời đến tham dự trong thánh lễ. Do đó, bàn thờ cũng là trung tâm tạ ơn, việc tạ ơn đó được trở nên hoàn hảo nhờ lễ tế tạ ơn” (số 259).
Giáo hội còn quảng diễn tư tưởng đó một cách rộng rãi hơn bằng cách ngụ ý rằng bàn thờ không những là nơi tái diễn hiến tế của Đức Giê-su, nhưng còn là chính bản thân Ngài. Ngài là “bàn thờ”, nơi thực hiện sự hiến tế giao ước mới và cử hành liên tục hiến tế ấy, cho đến tận thế.
Kinh tiền tụng chủ nhật 5 Phục sinh công bố: “Vì Ngài đã hiến bản thân trong tay Cha vì phần rỗi chúng con, nên Ngài chứng tỏ là tư tế, bàn thờ và chiên hiến tế”.
Đó là lý do tại sao Giáo hội xem bàn thờ (chứ không phải thánh giá, hoặc nhà tạm cất giữ Mình Thánh Chúa, đặt cách xa bàn thờ) như là trung tâm điểm của cung thánh, nơi chúng ta quây quần cử hành thánh lễ. Đó cũng là lý do tại sao truyền thống đòi buộc giám mục, linh mục, phó tế, phải tôn kính bàn thờ, thông thường bằng cách hôn bàn thờ trước khi dâng thánh lễ.
Huấn thị về thánh lễ nói rõ việc linh mục và những thừa tác viên có chức thánh hôn bàn thờ khi bước vào cung thánh để bắt đầu cử hành lễ (Huấn thị tổng quát của sách lễ Roma, số 27, 85).
Huấn thị không đề cập gì đến việc hôn bàn thờ lúc cuối lễ (số 57), hay đòi buộc “một cách thường lệ” (141). Hiển nhiên, linh mục tự do hành động tùy theo hoàn cảnh.
- Tôn kính Tin mừng
Hỏi: Trước khi công bố Tin mừng, linh mục ghi dấu thánh giá lên trán, miệng và ngực. Sau đó, đa số giáo dân cũng làm như thế. Làm vậy có ý nghĩa gì?
Đáp: Linh mục và cộng đoàn dân Chúa (phải) làm dấu thánh giá trên trán, môi và ngực. Hành vi này là một lời cầu nguyện xin cho Tin mừng mà họ sắp nghe ở mãi trong tâm trí, trên môi miệng và trong cõi lòng họ.
- Nghe hay đọc kinh thánh?
Hỏi: Giáo xứ chúng con có nhiều tập sách nhỏ dùng trong thánh lễ. Trước đây, trong những tập sách ấy có in những bài đọc các ngày chủ nhật. Nay không còn nữa.
Đáp: Đối với những người trong chúng ta lâu nay có quan niệm xem việc dùng sách lễ và theo dõi linh mục cử hành thánh lễ là lý tưởng, thì quả là bối rối khi nghe bảo rằng chúng ta không nên đọc trong khi dự lễ, ngay cả những bài đọc trích từ Kinh thánh.
Lý do chính gây nên bối rối là vì chúng ta quên rằng nghe Lời Chúa là 1 hành vi phụng vụ, 1 hành vi thờ phượng công khai. Khi thánh lễ còn cử hành bằng La ngữ, tất nhiên không thể hiểu trọn vẹn Lời Chúa. Bởi đó, sau khi được phép chuyển dịch Thánh lễ sang tiếng địa phương, chúng ta lại trở về với thói quen cũ là đọc bản dịch tiếng địa phương để theo dõi những lời linh mục đọc.
Khi thừa tác viên đọc sách (người đọc bài đọc hay linh mục) công bố Lời Chúa khi cử hành thánh lễ, người ấy thực hiện 1 hành vi thờ phượng và chúng ta cũng thực hiện hành vi ấy khi lắng nghe Lời Chúa cách chăm chú và với tâm tình cầu nguyện. Bởi vậy, khi có thể, các chỉ thị của giáo hội ngăn cấm in ấn các bản văn Kinh thánh trong các thánh lễ.
Hiển nhiên, điều đó không có nghĩa việc đọc Kinh thánh riêng tư là không quan trọng hay bị cấm cản, nhưng chỉ muốn nói rằng lúc trang trọng công bố Lời Chúa trong thánh lễ không phải là lúc dành cho việc đọc Kinh thánh riêng lẻ.
Một cách khách quan, tôi tin rằng trước khi thu hồi các bản văn Kinh thánh khỏi tay người tín hữu, cần phải chuẩn bị hai việc:
- Trước hết giáo hội phải công khai tổ chức các lớp giáo lý về vấn đề đó một cách thích đáng.
- Thứ đến, phải huấn luyện cho người đọc sách thánh, biết đọc cách rõ ràng và thông minh cho mọi người có thể dễ dàng hiểu được. Bao lâu chưa đáp ứng được hai điều kiện trên, có lẽ tốt hơn nên có bản văn trong tay. Nhưng dẫu sao, khi có thể được thì nên đừng đọc để nghe.
- Phụ nữ đọc bài đọc được không?
Hỏi: Có phải hiện này phụ nữ cũng được phép đọc bài đọc không? Nếu thế, tại sao ở nhiều nhà thờ đặc ân này chỉ dành cho người nam? Chúng con ở trong 1 giáo xứ nhỏ, và có một vài người nữ đọc sách. Tuy nhiên, thỉnh thoảng du khách từ nơi khác đến không hài lòng khi thấy làm như thế, họ nói rằng chỉ có người nam mới được phép vào cung thánh.
Đáp: Theo những qui định hiện thời về phụng vụ, ngoại trừ chức vụ dành riêng cho linh mục và phó tế, thì phụ nữ hầu như có quyền thi hành các thừa tác vụ như người nam. Quyền đó gồm việc điều khiển hát lễ, dẫn lễ, diễn giải, đọc bài đọc và cho rước lễ như là thừa tác viên ngoại lệ. Chỉ có 1 luật trừ là không được giúp việc bàn thờ như là thừa tác viên giúp lễ.
Sắc lệnh của Thánh bộ phụng tự yêu cầu những người nam cũng như nữ phải có đủ tư cách trong đời sống đạo đức… sắc lệnh cũng yêu cầu người nữ phải đọc Kinh thánh tại một nơi đọc sách khác, làm thế nào để có thể dành riêng 1 nơi để độc các bài đọc Kinh thánh. Nói cách khác, không còn qui định cấm người phụ nữ vào cung thánh như trước đây nữa. Tuy nhiên, dù làm gì đi nữa, thì phụ nữ cũng nên làm ở nơi thích hợp nhất.
Năm 1971, các giám mục Hoa kỳ cũng nhấn mạnh điều đó trong 1 công bố về phụng vụ: “Trong việc cử hành phụng vụ cũng như trong các mặt khác của đời sống giáo hội, không có phân biệt hay công khai phân biệt đối với phụ nữ”.
Việc người nữ thi hành thừa tác vụ đọc sách được qui định trong lễ quy (1969), trong Huấn thị của Thánh bộ phụng tự năm 1971 và trong chỉ thị của Ủy ban phụng vụ hội đồng Giám mục Hoa kỳ như đã nói trên, và trong nhiều tài liệu khác.
- Dấu thánh giá
Hỏi: Rất ít linh mục làm dấu thánh giá trước và sau khi giảng. Con nhớ rằng, trước đây người ta vẫn làm dấu luôn luôn. Tại sao thay đổi thế?
Đáp: Đối với vài người, câu hỏi đó xem ra quá tầm thường nhưng bất cứ một sự thay đổi nào cũng có lý do có thể giúp chúng ta hiểu được phần đó trong thánh lễ.
Trong những thập kỷ và thế kỷ qua, người ta thường xem bài giảng như một loại diễn thuyết hay giảng huấn riêng biệt được lồng ghép vào giữa thánh lễ. Nhiều khi nó chẳng liên hệ gì với các bài đọc Kinh thánh ngày hôm ấy cả.
Ngày nay Giáo hội nhấn mạnh tính liên tục rõ rệt giữa phần các bài đọc, tuyên xưng đức tin hay lời nguyện giáo dân với kinh nguyện Thánh Thể. Những gì không phản ảnh sự liên tục ấy – như làm dấu thánh giá, hay nói những lời ngụ ý bắt đầu làm một điều gì mới – đều bị ngăn cấm. Dấu thánh giá mà linh mục làm để khởi sự thánh lễ và xưng tụng vinh quang Ba Ngôi bào trùm toàn thể cuộc cử hành, trong đó có bài giảng.
- Khó khăn trong việc giảng lễ
Hỏi: Có người nói với 1 linh mục công giáo rằng bài giảng của ngài chán như cơm nguội là thế nào vậy? Có cần phải nói cho cộng đoàn người lớn rằng Thư gởi tín hữu Philip là dduowcj viết cho dân Philip không? Có cần trưng bày quả táo hay quả chuối để gây sự chú ý không? Trong nhiều chủ nhật, chúng tôi lại được xem thấy 1 chiếc mũ đàn ông, 1 chiếc đèn hình, hình ảnh một con chiên “được xem là chiên hiến tế” và tiền tệ Hoa kỳ (tiền mã).
Đáp: Phản ứng đầu tiên của đa số các linh mục khi đọc được điều đó là: giảng cũng khổ mà không giản cũng khó! Tôi không dám được 10 đô-la đấy nếu tôi nói sai.
Tôi biết bạn muốn nói gì rồi, bởi trong đời tôi đã từng chịu đựng vài ba chuyện đàm tiếu nhục mạ và trẻ con kinh khủng. Nhưng với tất cả nỗi đau lòng vì các bài giảng hiện nay thiếu chất lượng do không soạn trước, tôi nghĩ ít ra bạn phải nhìn nhận sự cố gắng của vị linh mục ấy.
Là một cha sở, tôi muốn đáp ứng những ưu tư và ước vọng muôn màu sắc của toàn thể dân Chúa trong ngày chủ nhật, nên tôi quả quyết với bạn rằng bất cứ linh mục nào dồn thì giờ và trí lực vào bài giảng như cha sở của bạn, ắt sẽ nhiệt liệt đón nhận bất cứ lời phê phán hay góp ý nào của bạn.
Thiết nghĩ, tôi cũng như phần lớn các linh mục khác, chúng tôi đánh giá cáo các phản ứng như thế nào của giáo dân. Góp ý về bài giảng là một trong những điều mà linh mục cần rất nhiều, nhưng lại nhận được rất ít. Đôi khi vì lý do này hay lý do khác, khó có thể làm theo các góp ý ấy, nhưng dù sao chúng tôi cũng rất biết ơn. Do đó, hãy nói cho linh mục biết cảm nghĩ của bạn. Ngài có thể, hay không thể làm điều bạn đề nghị, nhưng tôi chắc rằng ngài biết ơn bạn.
- Kinh tin kính cần thiết không?
Hỏi: Một linh mục trẻ trong vùng chúng tôi đã 5 năm nay không đọc kinh tin kính, dì là Kinh tin kính của các tông đồ hay của công đồng Nicee. Chúng tôi hỏi tại sao ngài không đọc, dù ngày chủ nhật cũng không thì ngài trả lời kinh tin kính chỉ dành cho những lễ đặc biệt. Thế nhưng, trong dịp lễ Giáng sinh và cả Phục sinh cũng chẳng thấy ngài đọc. Là người công giáo, tôi cảm thấy như chưa chu toàn luật dự lễ chủ nhật nếu không thực hiện thánh lễ trọn vẹn. Xin cha vui lòng giải thích cho.
Đáp: Việc đọc kinh tin kính hay không chẳng phải là yếu tố xác định 1 người đã tham dự thánh lễ đúng luật hay không. Kinh tuyên xưng đức tin không phải là một phần chính yếu của thánh lễ ngày chủ nhật hay bất cứ 1 thánh lễ nào khác.
Tuy nhiên, những huấn thị chính thức về thánh lễ qui định rằng linh mục và giáo dân đọc kinh tin kính ít nhất là vào ngày chủ nhật, và các ngày lễ đặc biệt. Không có một nền tảng phụng vụ nào cho phép loại trừ phần đó ra ngoài thánh lễ, vốn nằm trong nền tảng hợp pháp của thánh lễ.
- Tạo thành hay tạo hóa
Hỏi: Tại sao thay đổi từ “tạo hóa” ở Kinh tin kính đọc trong thánh lễ, thánh “tạo thành”? Từ “tạo thành” bao hàm một ý nghĩa hạn hẹp và không đúng đối với việc khởi đầu của thế giới. Tại sao có sự thay đổi ấy ở bản tuyên tín Công đồng Nicee?
Đáp: Sở dĩ có sự sửa đổi đó, vì từ “tạo thành” chuyển dịch chính xác hơn từ gốc ở trong bản tuyên tín của công đồng Nicee, cả trong nguyên bản Hy lạp cũng như bản dịch La ngữ.
Kinh tin kính bắt nguồn từ công đồng chung thứ I Nicee bên Tiểu Á, đã dùng từ “poietes” tiếng Hy lạp. Bản dịch La ngữ dùng từ “factor”, cả hai đều có nghĩa là tạo thành hơn là tạo hóa.
Bao lâu còn đề cập đến vấn đề từ ngữ, thì đó là lý do giải thích tại sao nhiều phần trong thánh lễ đã thay đổi từ ngữ trong suốt 20, 30 năm qua. Từ ngữ mới dùng chỉ là một cách dịch cho chính xác hơn mà thôi.
Ví dụ, tôi nhận được vài câu hỏi thắc mắc tại sao cũng trong kinh tin kính, ấy mà ở bản xưa của thánh lễ bằng La ngữ thì đọc là “credo” (tôi tin) còn nay chúng ta đọc “chúng tôi tin”. Lý do là vì đa số các bản văn đích thực của công đồng Nicee bằng tiếng Hy lạp cũng như La ngữ đều dùng ở số nhiều. Bởi vậy, dịch là “chúng tôi tin” thì chính xác hơn là “tôi tin”.
- Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa
Hỏi: Trong kinh tin kính, tại sao chúng ta đọc rằng chúng tôi tin “Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa”. Trong khi tước hiệu “Chúa” luôn dành riêng cho Đức Ki-tô, thì dùng ở đây có ý nghĩa gì? Có những kinh tin kính hay sách phụng vụ nào khác gọi Thánh Thần là Chúa không?
Đáp: Trong truyền thống giáo hội, tước hiệu “Chúa” (tiếng Hy lạp là Kyrios) rất thường quy về Đức Ki-tô, nhưng không phải luôn luôn đâu. Đức Ki-tô thích dùng tước hiệu thích hợp hơn cả là Con Người, trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và tạo vật, vì thế Ngài là Chúa thế giới.
Tuy nhiên, tước hiệu đó cũng được dành cho Chúa Thánh Thần, vì Ngài chia sẻ bản tính Thiên Chúa với Chúa Cha và Chúa Con. Do đó, Ngài có tất cả những đặc ân và thuộc tính mà Chúa Cha và Chúa Con có trong tư cách là Thiên Chúa.
Giáo hội ở Đông Phương (Constantinople), với thuyết thần bí quy hướng về Thánh Thần đã nói nhiều về Thánh Thần như là Chúa (Kyrios) hơn bên Tây phương, và thường dùng tước hiệu ấy khi trình bày công việc của Ngôi Ba như là Đấng Ban Ơn, Đấng Sinh Thành Sự Sống. Vài công thức tuyên xưng đức tin của các tông đồ tại giáo hội sơ khai bên Đông phương cũng như công thức của công đồng Nicee mà ngày nay chúng ta dùng trong thánh lễ minh họa cho truyền thống ấy. Lời khẳng định Thánh Thần là Chúa không có trong bản tuyên tín nguyên thủy của Công đồng Nicee, nửa thế kỷ sau đó mới được công đồng Constantinople thêm vào.
- Lời của Đức Giê-su trong thánh lễ
Hỏi: Lời truyền phép trong thánh lễ “mới” khác với lời truyền phép trong sách lễ cũ. Sao vậy? Lời truyền phép chẳng giả thuyết là bao hàm những lời nói của Đức Giê-su trong bữa Tiệc ly hay sao?
Đáp: Dĩ nhiên, Đức Giê-su không nói tiếng Anh hoặc tiếng Việt, do đó bất cứ lời nào mà chúng ta có hiện nay đều là bản dịch, nghĩa là chuyển đạt ý nghĩa của Lời Ngài nói sang một ngôn ngữ khác.
Nếu đọc kỹ những bài tường thuật về bữa Tiệc ly trong các sách Tin mừng và trong thư thánh Phao-lô gởi tín hữu Corinto, bạn sẽ thấy rằng dù ngôn ngữ có khác nhau, nhưng những bài tường thuật ấy đều xem Đức Giê-su là người đã thiết lập hiến lễ tạ ơn. Bởi lẽ, đối với các tác giả sách Tin mừng, những lời chính xác của Đức Giê-su không quan trọng, có thể các ngài đã phản ảnh những ngôn từ được dùng trong phụng vụ tạ ơn vào lúc và vào nơi mà đoạn văn Tân ước ấy được viết.
Ngày nay cũng thế, kinh nguyện Thánh thể như tên gọi hàm ý, chính là lời nguyện cảm tạ và tưởng niệm, trong đó điều quan trọng là ngôn từ chuyển đạt ý nghĩa mà Đức Giê-su muốn nói, cũng như ý nghĩa đó đã được truyền đạt lại cho chúng ta qua Kinh thánh.
- Đổ máu cho tất cả hay cho nhiều người?
Hỏi: Trong công thức truyền phép Thánh thể bằng Anh ngữ đọc trong các nhà thờ có câu: Đức Ki-tô “đổ máu ra cho tất cả mọi người được ơn tha tội”. Làm sao có thể viết như vậy được? Trong khi Tin mừng Mattheu lại kể rằng trong bữa tiệc ly, Đức Giê-su truyền cho tất cả hay uống máu Ngài, “Máu đó sẽ đổ ra cho nhiều người được ơn tha tội”. Con muốn biết ai đã gây ra lỗi lầm kinh khủng ấy khi thay thế chữ “nhiều” trong Tin mừng bằng chữ “tất cả”?
Đáp: Tôi có thể giúp bạn hiểu rõ hơn. Ngay cả bản văn thánh lễ bằng La ngữ hiện nay cũng dùng chữ “pro multis”, nghĩa là “cho nhiều người”, nhưng trong bản dịch Anh ngữ lại dùng chữ “cho tất cả mọi người”.
Qua thư từ tôi nhận được, tôi biết có nhiều người vì không thích có sự thay đổi trong giáo hội nên hay phàn nàn, đôi khi họ cũng được các linh mục hay những người không am hiểu đồng tình hỗ trợ.
Bản dịch Anh ngữ là bản dịch chính xác, vì nó rõ ràng (nếu không ý nói là đơn giản) hơn nguyên bản phức tạp.
Trong những cầu tường thuật về bữa Tiệc ly, Tin mừng Marco và Luca bằng tiếng Hy lạp dùng chữ “hyper pollon” (cho nhiều người). Trong đoạn văn bạn trích dẫn Tin mừng của Mattheu, ngài lại dùng một giới từ khác, song ý nghĩa cũng thế thôi.
Tuy nhiên, nhờ phương pháp phân tích bản văn, chúng ta biết rằng ở những đoạn ấy có nhiều kiểu nói Sê-mit – nghĩa là tư tưởng Tin mừng tuy được diễn tả bằng tiếng Hy lạp, nhưng lại dựa trên những bản văn có trước bằng ngôn ngữ Sê-mit, trong trường hợp này là tiếng Aram hay Do thái cổ.
Một yếu tố quan trọng là tiếng Do thái và Aram không có chữ “tất cả”. Từ rabbin trong tiếng Do thái cổ có nghĩa là “nhiều”, nhưng đôi lúc cũng có nghĩa là tất cả - nhiều người tạo thành toàn thể. Có nhiều ví dụ như thế nằm rải rác trong Kinh thánh, Cựu ước cũng như Tân ước. Chỉ xin trích dẫn 1 ví dụ trong Mt 20,28: “Đức Giê-su phán: Ngài hy sinh mạng sống để làm giá chuộc cho nhiều người”, rõ ràng có nghĩa là Ngài hy sinh cho tất cả nhân loại chứ không chỉ cho một số người mà thôi.
Hơn nữa, chúng ta biết các Ki-tô hữu tiên khởi hiểu rất rõ chữ “nhiều” bao hàm cả ý tưởng “tất cả”. Chẳng hạn, Tin mừng Gioan, trong lúc dành 5 chương tường thuật những sự kiện tại bữa Tiệc ly, nhưng lại không hề miêu tả việc Đức Giê-su lập bí tích Thánh Thể đêm ấy, nhưng các sách Tin mừng khác. Bản văn chính của Gioan về Thánh Thể nằm ở chương 6, trong đó Đức Giê-su báo trước Ngài sẽ ban cho các môn đệ thịt Ngài để làm của ăn, và máu Ngài làm của uống. Ở đó, trong 1 câu quan trọng, Ngài tuyên bố Bánh Ngài sẽ ban chính là thịt Ngài “để cho thế gian được sống (Ga 6,51).
Xin nói thêm: lỗi dịch “cho tất cả” không được áp dụng trong các bản văn tiếng Tây Ban Nha, Ý, Pháp và những tiếng khác. Do vậy, nhưng lời trong Thánh lễ bằng Anh ngữ, chẳng những không có gì tác hại, mà lại là bản dịch chính xác nhất của đoạn văn quan trọng mà các chuyên viên Kinh thánh có thể cung cấp cho chúng ta.
- Epiklesis là gì?
Hỏi: Con có 1 cuốn sách lễ mới, và nhận thấy nó giúp con hiểu được nhiều chuyện trong thánh lễ ở giáo xứ. Song có nhiều danh từ con không sao hiểu nổi. Epiklesis là gì? Nó xuất hiện nhiều lần, nhưng không bao giờ có một lời cắt nghĩa.
Đáp: Tôi phỏng đoán bạn tìm thấy danh từ ấy trong phần giải nghĩa về kinh nguyện Thánh thể, hay có lẽ ở trong chính phần giải nghĩa song song với kinh nguyện Thánh thể 4.
Epiklesis, từ Hy lạp, có nghĩa là khẩn cầu, chính xác hơn là gọi ai đó xuống. Đó là tên gọi đặt cho một phần trong kinh nguyện Thánh Thể, trong đó giáo hội khẩn cầu Thiên Chúa Cha gởi Thánh Thần ngự xuống trên bánh và rượu đặt trên bàn thờ để trở nên Mình và Máu Chúa, sinh hiệu quả thiêng liêng cho những người dâng lễ sắp lãnh nhận.
Từ thời xa xưa, những kinh nguyện tạ ơn long trọng mà chúng ta gọi 1 là kinh Tiền tụng và lễ quy (đây là trung tâm của phụng vụ tạ ơn) đã có một lời khẩn nguyện mang tên gọi ấy.
- Vinh tụng ca hay Amen
Hỏi: Con đi đây đi đó nhiều và thấy ở một vài nơi, cộng đoàn cùng đọc với linh mục kinh “Chính nhờ Người, với Người…” khi kết thúc kinh nguyện Thánh Thể, có nơi lại không. Con muốn hỏi cộng đoàn có được đọc như thế không?
Đáp: Giáo dân tham dự thánh lễ không được đọc lời kinh mà bạn nói trên, lời kinh ấy thường quen gọi là Vinh tụng ca – nghĩa đen là lời nguyện ca ngợi - ở cuối kinh nguyện Thánh Thể, nhưng chỉ một mình linh mục đọc thôi, phần giáo dân trang trọng thưa: “Amen”. Thông thường thì nên hát hay ít ra toàn thể mọi người hiện diện phải thưa một cách trang trọng.
Trong khi người ta xem việc cùng nhau đọc câu Vinh tụng ca là một tiến bộ, thì nó bộc lộ cho thấy sự kém hiểu biết đáng buồn về vẻ uy nghi của lời nguyện cao cả “Amen”.
Danh từ ấy đã có hàng thế kỷ nay, ngay cả trong kinh nguyện của người Do thái ở kỷ nguyên tiền Ki-tô giáo. Danh từ ấy có nghĩa: “chúng tôi tin tất cả điều ấy là đúng”. Nói cách khác, đó là lời khẳng định trang trọng phát xuất từ cõi lòng về tất cả những điều linh mục vừa mới nói và làm. Như vậy, đó là 1 lời kết uy nghi mà toàn thể những người cùng hiệp thông dâng thánh lễ đồng thanh đáp để kết thúc kinh nguyện Thánh Thể.
Trong sách Khải huyền 3,14 chính Đức Giê-su được gọi là “Amen”, “chứng nhân trung tín” của Cha, là Đấng phản ảnh và chứng thực một cách trọn vẹn tất cả ý muốn của Cha là gì, và muốn nói gì với nhân loại.
Nhìn xem cung cách miễn cưỡng và ngại ngùng của đa số cộng đoàn khi hát hay thưa Amen trong thánh lễ, chúng ta dễ hiểu tại sao nhiều người có cảm nghỉ rằng, tất cả cộng đoàn phải đọc Vinh tụng ca để làm cho cái giây phút trang trọng ấy bớt tẻ nhạt. Nhưng đó không phải là cách thức để đọc Vinh tụng ca.
- Nắm tay nhau khi đọc kinh Lạy Cha
Hỏi: Trong vài thánh lễ, chúng con nắm tay nhau khi đọc Kinh Lạy Cha. Hiện nay, có người bảo điều đó đã bị cấm cách đây nhiều năm. Đúng thế không, Cha?
Đáp: Theo tôi thì không đúng đâu. Năm 1975, người ta hỏi Thánh bộ phụng tự có được phép nắm tay nhau khi đọc kinh của Chúa thay vì chúc bình an không, - Thánh bộ trả lời dứt khoát không. “Chúc bình an có tràn đầy ý nghĩa, niềm nở và linh ứng Ki-tô giáo, không chấp nhận sự thay thế nào”. Điều muốn ngụ ý là cử chỉ nắm tay trong phụng vụ không có trong luật chữ đỏ của thánh lễ. Nhưng câu hỏi cũng như câu trả lời lại nhắm đến việc thay thế cử chỉ chúc bình an (Ghi chú 11,1975,266).
- Hôn bình an
Hỏi: Thói quen hôn bình an hay bắt tay trong thánh lễ nguyên thủy được thực hiện ra làm sao? Tại sao? Cha có nghĩ rằng khi Chúa chúng ta phán cùng các tông đồ “Thầy để lại bình an cho các con” thì Ngài đã bắt tay các vị không? Những người không quen làm thế có còn cách khác không?
Đáp: Hôn bình an thuộc về nghi thức rất cổ xưa liên hệ đến thánh lễ. Ít là 5 lần, Tân ước nói đến việc các Ki-tô hữu hôn nhau bằng “cái hôn thánh thiện” hay “cái hôn của tình yêu”. Có lẽ nghi thức ấy là thành phần của phụng vụ. Chúng ta biết chắc chắn khoảng năm 150, nụ hôn như là biểu hiện sự hiệp nhất và bình an giữa các Ki-tô hữu, là một phần của phụng vụ tạ ơn.
Trong nhiều thế kỷ, sự bình an (pax) như người ta vẫn quen gọi, được mọi người trao cho nhau trong thánh lễ. Khoảng cuối thời Trung cổ , chỉ có hàng giáo sĩ tham dự thánh lễ còn giữ thói quen đó, và cái hôn trên má cũng thường được thay thế bằng những cử chỉ khác (ôm choàng)… Cứ thế cho đến ngày nay, khi giáo hội một lần nữa lại qui định về việc hôn bình an hay chúc bình an áp dụng cách nào đó cho các tín hữu. Lễ qui chính thức của giáo hội qui định rằng ngay trước khi bẻ bánh chuẩn bị rước lễ, “mọi người trao cho nhau dấu bình an và thương yêu, tùy theo phong tục địa phương”.
Do vậy, mặc cho bạn e ngại hay nghi ngờ, thì dấu chỉ bình an vẫn có nguồn gốc sâu xa như là diễn tả bên ngoài và thích hợp cho ý nghĩa Ki-tô giáo của thánh lễ và hiệp lễ. Lúc đầu, nghi lễ ấy nằm ở đầu thánh lễ, nhưng chẳng bao lâu sau lại đưa vào phần Hiệp lễ, là bí tích mà chúng ta còn xem như là “dấu hiệu hiệp nhất và khế ước tình yêu”. Nếu chúng ta thực sự tin rằng qua việc lãnh nhần mình Thánh Chúa, chúng ta đồng bàn và chia sẽ bữa ăn mà Đức Giê-su dọn ra để biểu lộ và xây dựng sự hiệp nhất trong gia đình gồm các anh chị em của Ngài (và là anh chị em với nhau), thì chẳng kỳ lạ sao khi có ai đó ngại ngùng và không dám chìa tay ra để chạm vào bàn tay kẻ khác trong một chử chỉ bác ái hiệp nhất, ngay trước khi cùng với người ấy bước lên cung thánh để rước lễ?
Qua việc giáo hội đã gắn bó lâu dài với nụ hôn bình an như là một yếu tố quan trọng trong thánh lễ, người ta có thể nhận định một cách hợp lý rằng nếu ai cảm thấy khó chịu khi chúc bình an, thì người ấy chắc còn thiếu một vài điều cơ bản trong nhận thức về thánh lễ.
- Chúc bình an có khó chịu không?
Hỏi: Cách đây ít lâu, trong mục của cha có nêu vấn đề làm thế nào để giúp những người cảm thấy khó chịu khi bắt tay chúc bình an, có thể tránh được cử chỉ ấy.
Cha đã không trả lời. Vài người chúng con cũng cảm thấy khó chịu khi bắt tay. Việc chúng con không thích cử chỉ ấy chẳng dính dáng gì đến việc hiểu hay không hiểu thánh lễ. Nếu việc chúc bìn an đã bắt rễ sâu trong phụng vụ, thì tại sao mãi đến năm 1965 giáo hội Hoa kỳ mới khám phá được?
Đáp: Tôi hoàn toàn không đồng ý với bạn. Không thích và không làm cử chỉ chúc bình an trong thánh lễ chắc chắn có tương quan mật thiết với việc hiểu biết về thánh lễ. Nhiều người có thể hỏi rằng, trong nước chúng ta bắt tay hay hôn mới là dấu hiệu thích hợp nhất để bày tỏ cái tình bạn và tình yêu. (Còn chúng ta thấy thế nào?) Nhưng bất cứ ai ý thức rằng Thánh thể là dấu chỉ khế ước hợp nhất chúng ta lại như là môn đệ Chúa Ki-tô, thì họ cũng phải chấp nhận có một vài biểu hiệu bên ngoài thích hợp để tỏ thiện cảm và hiệp nhất vào lúc nào đó trong thánh lễ.
Tôi không dám phê phán lương tâm của bất cứ ai về vấn đề này hay vấn đề nào khác. Sau cùng, nhiều người trong chúng ta lớn lên trong một bầu khí, chỉ nhìn thấy thánh lễ như là một việc cầu nguyện hoàn toàn riêng tư giữa cá nhân với Thiên Chúa. Chúng ta không dễ dàng vượt qua được lối huấn luyện đó.
Tuy nhiên, so với quan niệm đúng đắn, thì quan niệm về thánh lễ như thế quả là vô cùng thiếu sót. Chính là để giúp chúng ta mở rộng kiến thức về thánh lễ trong đời sống người công giáo chúng ta, nên giáo hội đã đưa vào (hay lại đưa vào) đó những yếu tố của phụng vụ tạ ơn, nhằm giúp chúng ta nhớ rằng thánh lễ trước hết và trên hết là sự thờ phượng của cộng đoàn. Sự thờ phượng của cộng đoàn dân Chúa cùng nhau tụ họp chính họ là anh chị em của Đức Giê-su, và vì thế là anh chị em của nhau.
Một cái bắt tay, một vòng tay ôm hay nụ hôn có thể chưa phải là 1 dấu hiệu tốt nhất của việc chúc bình an. Tuy vậy, dù chưa hoàn hảo, chúng cũng có thể chuyên chở 1 sứ điệp mà chúng ta cần hiểu, nếu chúng ta phải cùng nhau cử hành thánh lễ như Đức Ki-tô muốn.
- Cái bắt tay đau buốt
Hỏi: Liên quan đến câu trả lời của cha về việc người ta không chịu chúc bình an, con tự hỏi không biết có linh mục nào lưu tâm đến hàng ngàn người bị viêm khớp, hay mắc các chứng bệnh về tay không. Con mắc một chứng bệnh trầm trọng, 2 ngón đã bị cắt cụt và sau này có thể bị cắt cả ngón thứ 3 nữa. Nhiều người trong chúng con có thể rất đau đớn và giả như có ông nào đó xiết tay qua mạnh, thì có thể đau đớn cả hai tiếng đồng hồ. Chúng con trong có vẻ khỏe mạnh, nhưng nếu chúng con cúi gầm mặt xuống khi linh mục mời gọi chúc bình an, thì đó là lý do.
Đáp: Vấn đề của bạn thật hữu ích và tất cả chúng ta nên ghi nhận. Mỗi người phải bén nhậy và thận trọng trong trường hợp đó chúng ta có thể bày tỏ lời chúc bình an bằng 1 nụ cười hay 1 lời nói thân ái là đủ.
- Những hình thức chúc bình an được phép
Hỏi: Trong nhiều nhà thờ, các cha xứ không cho phép làm bất cách thức chúc bình an nào khác, và chúng con chỉ có thể chúc bình an theo cách khác khi có 1 linh mục khách đến dâng lễ, mà không được cha xứ căn dặn trước. Làm sao để điều ấy hòa hợp với quan niệm cộng đoàn dân Chúa và tuân phục quyền bính, mà theo con hiểu, đó là lý do của việc chúc bình an?
Đáp: Nếu đọc kỹ sách hướng dẫn cử hành phụng vụ, người ta thấy giáo hội không đòi hỏi phải làm một cử chỉ chúc bình an đặc biệt nào cả. Sách chỉ nan chính thức về nghi thức thánh lễ qui định rằng, sau khi linh mục chúc “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em” và cộng đoàn đáp lại “và ở cùng cha”, thì linh mục có thể nói thêm “chúng ta hãy chúc bình an cho nhau”. Mọi người trao cho nhau dấu hiệu bình an và tình thường, tuy theo phong tục địa phương.
Tuy nhiên, đó chưa phải toàn bộ câu trả lời cho vấn đề của bạn. Ủy ban phụng vụ của hội đồng giám mục Hoa kỳ lưu ý về việc chúc bình an như sau: “Việc tái nhập hình thức hôn bình an vào thánh lễ có lẽ chưa hề được chuẩn bị bằng việc dạy giáo lý đầy đủ về lịch sử, ý nghĩ và cách thức thực hiện cử chỉ ấy”. Chúng ta còn phải chịu đựng sự thiếu hiểu biết ấy cả trong hàng ngũ linh mục lẫn giáo dân. Sẽ không giúp ích được gì cả do sự suy thoái đánh giá vị trị biểu tượng trong nghi lễ phụng vụ, vì nhiều lý do, sự suy thoái ấy đã xảy ra từ hơn vài trăm năm trước.
Trong khi dự lễ, nhiều linh mục và giáo dân còn e ngại trong tiếp xúc thân tình với những người khác. Họ cảm thấy lời nói an toàn hơn, còn những hành vi biểu lộ lời nói ấy thì không. Do đó, họ không thoải mái khi phải trao đổi với người khác một dấu hiệu hay một cái hôn bình an, cho dù đó chỉ là một cố gắng biểu lộ ra bên ngoài điều sẽ xảy ra trong chốc lát sau đó, khi mọi người cùng chia sẻ Mình Thánh Đức Ki-tô.
Do đó, dù không đòi hỏi một cách tuyệt đối nhưng việc chúc bình an trong thánh lễ không phải là một phần phụ thuộc hay tùy thích. Lời khẳng định sau đây của các giám mục có thể giúp chúng ta hiểu lý do tại sao:
“Việc canh tân phụng vụ nhìn nhận giá trị của cộng đoàn và quyền được tham dự một cách tích cực vào phụng vụ. Hiến chế về phụng vụ của Công đồng Vaticano II, khi đề cập đến những cách thức hiện diện khác nhau của Đức Ki-tô, đã nhấn mạnh đến sự hiện diện của Đức Ki-tô trong chính cộng đoàn.
Vì lý do tái thẩm định theo thiên ý giá trị của cộng đoàn phụng vụ, nên thật chính đáng… quả quyết cách chắc chắn rằng vào lúc linh mục mời gọi giáo dân chúc bính an, mọi người cùng trao cho nhau dấu hiệu bình an tùy theo phong tục địa phương. Đó không phải là sự bình an từ bàn thánh ban xuống, cũng không phải là sự bình an của giáo sĩ, nhưng là sự bình an của cộng đoàn được trao đổi giữa những người mà Chúa Ki-tô thực sự hiện diện ở giữa họ”.
- Tại sao đấm ngực?
Hỏi: Tại sao trong thánh lễ có vài người đấm ngực lúc đọc kinh “Lạy Chiên Thiên Chúa”. Làm thế có ý nghĩa gì? Còn thực hành không?
Đáp: Dùng tay hay có khi dùng cả hòn đá để đấm vào ngực là 1 biểu tượng xa xưa của lòng hối hận và đau đớn. Có lẽ vì lý do sau đây: trong nền văn hóa của chúng ta, tim được xem là trung tâm tình cảm, nên đấm vào tim nghĩa là đau buồn (tim tan vỡ) vì những việc đã làm. Thực thế, từ ngữ “ăn năn” trong ngôn ngữ chúng ta bắt nguồn từ chứ “contritus corde” bên La ngữ, có nghĩa là “dày nát con tim” hay “tan vỡ con tim”.
Đấm ngực như là biểu thị 1 cõi lòng muốn được Thiên Chúa tha thứ, còn có thể là 1 hành vi quan trọng có tính bí tích. Chẳng hạn trong nghi thức thống hối đầu lễ, lễ quy hiện nay qui định rằng khi đọc kinh “Tôi thú nhận” đến câu “lỗi tại tôi” thì mọi người đấm ngực.
- Vòng tay khi rước lễ
Hỏi: Xin cha vui lòng giải thích sự việc con vừa chứng kiến tại 2 nhà thờ: lúc rước lễ, vài người vừa vòng tay vừa tiến lên bàn thờ rước lễ, linh mục không trao Mình Thánh Chúa cho họ nhưng đọc 1 lời nguyện. Tất cả điều ấy có ý nghĩa gì?
Đáp: Tập quán bạn mô tả ở trên, ngày nay còn lưu hành trong một số giáo xứ. Bất cứ người công giáo nào không rước lễ, trẻ em và tín đồ thuộc giáo phái khác nếu muốn tham gia, tiến lên bàn rước lễ cùng với cộng đoàn. Đến nơi, họ vòng tay trước ngực như là 1 dấu hiệu không muốn rước lễ. Linh mục hay thừa tác viên cho rước lễ đặt tay trên đầu hay vai người ấy, đồng thời đọc một lời chúc lành hay 1 lời nguyện ngắn. Đó là những người đơn sơ, không theo khuôn mẫu nào cả. Chẳng hạn: “Ước gì Đức Giê-su Đấng cứu chuộc chúng ta, hằng giữ bạn trong tình yêu của Ngài, Amen”. Linh mục và giáo dân, một khi làm tốt công việc này, thường tìm thấy nhiều điểm tích cực nên đã yêu cầu cứ tiếp tục. Điểm tích cực hơn cả có lẽ là tạo cơ hội cho những Ki-tô hữu thuộc các tôn giáo khác, vì không thể đương nhiên rước lễ một cách bình thường khi tham dự thánh lễ của người công giáo, được tham gia một cách nào đó vào phần hiệp lễ.
Mỗi chủ nhật có nhiều người ngoài công giáo hiện diện trong một số nhà thờ. Có người đi một mình, có người đi với hôn phu hoặc hôn thê, và có số người khác có thể là chồng hoặc vợ của người công giáo. Phần lớn tham dự thánh lễ một cách trọn vẹn bằng những cách thức khác, như đáp thưa, chúc bình an…
Trong khi chúng ta không thể mời gọi họ tham dự vào chính bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta có thể làm cho họ cái gì đó hơn là bỏ quên họ trong quãng thời gian sau khi kết thúc kinh nguyện Thánh Thể, bằng cách cho phép họ được tham gia vào vài cách thức diễn tả thân thiện giữa chúng ta và cảm tình chung của người Ki-tô hữu, trong phần thân mật ấy của thánh lễ.
Những người khác chỉ cho ta thấy đó có thể là một cách thức trân trọng và khiêm tốn để nhìn nhận những chia rẽ trong Ki-tô giáo, và để cầu xin Chúa Thánh Thần hàn gắn những rạn nứt trong gia đình của Đức Ki-tô trên trái đất.
Nó cũng cho phép trẻ em chưa rước lễ lần đầu, được chia sẻ giây phút ấy một cách gần gũi hơn cũng với gia đình. Tôi nhận thấy rằng điều đó kích thích sự thích thú và lòng khao khát muốn tham dự thánh lễ một cách trọn vẹn khi chúng đến tuổi khôn.
Theo tôi biết, có hai lý do khiến người ta chống lại việc làm trên. Có người cho rằng nếu để những người ấy nhận phép lành Thánh Thể thì dễ lẫn lộn với dấu chỉ phụng vụ rước lễ, và như thế là thu hẹp tầm quan trọng của việc rước Mình Thánh Chúa.
Lý do phản đối trên đây có vẻ hợp lý, nhưng kinh nghiệm từ nhiều năm qua trong giáo xứ chúng tôi cho thấy đã chẳng xảy ra như thế. Thiết tưởng, nó càng gia tăng sự ý thức về đặc ân và thực tại cao cả của việc rước lễ nơi những cá nhân dù là trẻ em hay người lớn, đang chuẩn bị nhập đạo, hoặc nơi những người không thể rước lễ vì 1 lý do nào đó. Tôi có trao đổi về vấn đề này với các chuyên viên phụng vụ, họ không thấy có lý do gì để chống lại thói quen ấy cả.
Một lý do khác cụ thể hơn, là những người quen thuộc với cách thực hành ấy trong 1 giáo xứ, sẽ bị bối rối, lúng túng khi họ xin được chúc lành Thánh Thể nơi một nhà thờ khác mà không được đáp ứng.
Hiển nhiên đó là nỗi băn khoăn dây dứt với bất cứ cha xứ nào thận trọng. Nhưng dù sự bất lợi có trầm trọng hay không, thì sự thuận lợi ấy dĩ nhiên là 1 vấn đề mục vụ thuộc thẩm quyền thẩm định của cha xứ hay các thẩm quyền khác về phụng vụ.
Cũng vậy, người ta cần nhờ nhiều người công giáo theo nghi lễ Đông Phương có thói quen vòng tay như thế khi lên rước lễ, điều ấy có thể gây ra một chút hiểu lầm ở một vài nơi trên nước Mỹ.
- Bình thánh
Hỏi: Trong kỳ nghỉ cuối tuần vừa qua, con có dịp dự lễ tại nhà thờ giáo xứ của gia đình 1 người thân. Gần cuối lễ, thay vì tự mình lau chén thánh và đĩa thánh, linh mục lại để cho thừa tác viên giúp lễ mang sang bàn bên cạnh để lau. Đối với con, điều đó quả là mới mẻ. Không phải linh mục mới là người duy nhất được phép lau chén dĩa hay sao?
Đáp: Về việc lau chén thánh và các bình thánh khác sau khi phân phát Mình Thánh Chúa, Huấn thị tổng quát của sách lễ Roma viết: “Sau phần rước lễ, thừa tác viên giúp lễ linh mục và phó tế lau và sắp xếp các bình thánh. Nếu không có thầy phó tế, thầy giúp lễ sẽ mang các đồ thánh tới bàn phụ, lau tráng và sắp xếp các bình thánh tại đó” (số 147). Trong khi điều đó trực tiếp nói đến những người được trạch cử chính thức vào chức vụ thừa tác viên giúp lễ, huấn thị cũng còn định rằng, nam giáo dân, dù không lãnh nhận chức vụ thừa tác viên, cũng có thể thi hành phần việc thuộc riêng thầy phó tế” (số 70).
Những người phụ trách các bình thánh ít nữa cần phải thận trọng, và phải được huấn luyện kỹ lưỡng để có thể thi hành phận vụ ấy cách xứng đáng và đúng phép.
Ngay cả khi linh mục hay thầy phó tế lau các bình thánh ấy sau khi rước lễ, nếu có thể thì nên làm việc ấy ở bàn thờ phụ trong cung thánh, hoặc sau đó sẽ lau trong phòng thánh” (số 120). Thông thường, linh mục hay thầy phó tế không nên lau chén thánh và các bình thánh khác khi còn đứng tại trung tâm bàn thờ.
- Nên rung chuông trong thánh lễ không?
Hỏi: Xin cha cho chúng con biết có nên dùng chuông trong thánh lễ không? Cha xứ trước của chúng con đã bỏ, và chúng con tin chắc cha xứ mới sẽ dùng lại. Nhưng ngài nói chúng ta không cần dùng chuông nữa. Nếu trong quá khứ, chuông là vật quan trọng và đáng chuộng, thì tại sao ngày nay lại không dùng nhỉ?
Đáp: Ít nữa là qua thừ từ và tiếp xúc, tôi nhận thấy rung chuông ở trong thánh lễ rõ ràng đang dần bị loại bỏ. Thế cũng thật lạ:
Huấn thị cũ về thánh lễ do ĐGH Pio V ban hành, tháng 7/1570 (sau đó được các Đức Giáo hoàng khác duyệt lại) không nói gì về rung chuông cả. Tuy vậy, trong thế kỷ ấy, người công giáo thường xem rung chuông như là một phần chính yếu của thánh lễ. Mặt khác, huấn thị hiện thời (từ năm 1970) cho phép rung chuông một vài lúc nào đó trong thánh lễ. Bởi đó, ngày nay càng ngày càng ít nghe rung chuông.
Để trả lời cho bạn, thì phải tìm những lý do đích thực đằng sau sự thay đổi, nhưng từ đó mà lôi những lý lẽ ấy ra đâu phải là chuyện dễ. Đối với các phong tục của các dân tộc cũng thế.
Việc rung chuông trong thánh lễ bắt đầu xuất hiện trong các Đan viện ở thời Trung cổ. Chỉ có các đan sĩ ca sĩ, tham dự thánh lễ trong đan viện vào khoảng 9 giờ sáng. Những người khác ở ngoài đồng theo dõi thánh lễ qua tiếng chuông nhà nguyện.
Khoảng năm 1200, một sự kiện chợt xảy đến khuyến khích dùng chuông nhiều hơn, đó là có việc giơ cao (elevation) Mình Thánh Chúa để thờ lạy sau khi truyền phép. Việc giơ cao nầy được xem (ngay cả bây giờ) như là phần chính yếu của Thánh lễ. Một số tín hữu đạo đức còn chạy từ nhà thờ này qua nhà thờ khác chỉ để thờ lạy Mình Thánh Chúa được giơ cao. Chuông rung để biểu lộ sự vui mừng và loan báo cho mọi người biết “Đức Giê-su đang ở đây và mọi người hiện diện đều có thể thấy Ngài”.
Năm 1972, Thánh bộ phụng tự nối kết việc rung chuông với trình độ giáo dục phụng vụ trong giáo xứ. Thánh bộ lưu ý rằng nơi nào đã có sự giáo dục phụng vụ thích đáng nơi ấy không cần sử dụng chuông nữa. Nếu trong thực tế chưa giáo huấn đầy đủ về phụng vụ thì cần phải rung chuông ít nhất vào hai lần giơ cao Mình Máu Chúa để biểu lộ niềm vui và sự chú ý (xem Ghi chú, năm 1972, số 343).
Như tôi đã trình bày ở trên, trong một thời gian lâu dài, lý do để rung chuông khi người giáo dân hoàn toàn thụ động xem lễ, là để biểu lộ niềm vui về việc Chúa hiện diện. Cộng đoàn phải cầm trí và kính cẩn thinh lặng.
Ít nhất cả hai yếu tố đã làm thay đổi tập quán ấy. Ngày nay chúng ta ý thức sâu sắc hơn những tín hữu thời ấy rằng, khi Đức Giê-su hiện diện với chúng ta dưới hình thức bánh rượu trong Thánh thể, thì không phải đến lúc ấy Ngài mới hiện diện. Vì khi chúng ta tụ họp để dâng lễ, chúng ta là thân mình của Đức Ki-tô, có nghĩa là Thân Mình Đức Ki-tô đã hiện diện ở đó rất lâu, trước khi Ngài hiện diện như là của ăn của uống cho chúng ta và như là hiến lễ để chúng ta dâng lên Cha.
Cũng thế, ngày nay chúng ta biểu lộ niềm vui khi Chúa hiện diện ở trong Thánh Thể bằng chính tiếng nói của chúng ta, nhất là bằng lời tung hô sau truyền phép và bằng lời thưa trang trọng “Amen” ở cuối kinh nguyện Thánh Thể. Cũng như trong nhiều mặt khác của phụng vụ, chính chúng ta làm những gì mà trước đây chúng ta chỉ có thể nhìn, hay nghe người khác làm.


