Thứ Sáu, 06 Tháng Hai, 2026

Những câu hỏi đáp về Giáo Hội

                                                                      GIÁO HỘI

  1. Dân Thiên Chúa

Hỏi: Tại sao, ngày nay trong Giáo hội công giáo, người ta nói nhiều về ‘Dân Thiên Chúa’ như vậy? Con đoán cách nói này có nghĩa bao hàm cả chúng ta. Nó có cùng nghĩa với “Giáo hội” không? Nếu thế, tại sao không gọi chính xác như vậy?

Đáp: Từ “Dân Thiên Chúa” được Vatica II dùng cách thật nổi bật – là một tên gọi có nghĩa rộng hơn “Giáo hội” nhiều, cách đặc biệt nếu chúng ta hiểu nó trong nghĩa rất giới hạn của Giáo hội công giáo Roma.

Cách nói có nguồn gốc Cựu ước trong đó dân Israen thường được gọi là dân của Chúa; đó là một nhóm được Thiên Chúa tách riêng ra như những người đón nhận phúc lành đặc biệt từ Người.

Trong Tân ước, sự tử nạn phục sinh của Đức Giê-su và việc công bố biến cố vĩ đại này qua lời rao giảng Tin mừng làm xuất hiện một “Dân của Thiên Chúa” mới, tập họp lại không phải bằng sáng kiến của họ, nhưng bởi chính hành vi của Thiên Chúa. (Từ Hy lạp chỉ Giáo hội, “Ecclesia” có nghĩa từng chữ là một nhóm được gọi ra hoặc gọi riêng).

Giáo hội, theo nghĩa là những người tiếp nhận hành vi cứu độ của Thiên Chúa trong thế giới ngang qua Đức Ki-tô, rõ ràng có thể được nhìn dưới nhiều góc độ. Như một mầu nhiệm, không một diễn tả hay định nghĩa nào có thể thông đạt ý nghĩa trọn vẹn. Ví dụ cách nói “Thân thể mầu nhiệm của Đức Ki-tô” như được hiểu cách phổ quát tập trung vào những đòi hỏi biệt loại hơn mà một cá nhân nào đó có thể có nhờ sự hiệp thông với Đức Giê-su như Phép rửa, tính cách thành viên trong Giáo hội “có tổ chức”, xác tín minh nhiên vào một số tín điều,…

“Dân Thiên Chúa” chú trọng đến những đòi hỏi tổng quát hơn, làm cho nhân loại được quyền hưởng lòng thương xót của Thiên Chúa và những phúc lành khác – sự Nhập thể, Tử nạn Phục sinh của Đức Giê-su. Điều này dường như là lý do để ngày nay sử dụng từ này nhiều hơn, đặc biệt từ Vatican II, công đồng rõ ràng thích “Dân Thiên Chúa” hơn những tên gọi khác, như “Thân thể mầu nhiệm Đức Ki-tô”.

  1. “Giáo hội duy nhất, chân thật?”

Hỏi: Là những người công giáo chúng ta còn có thể nói rằng Giáo hội công giáo Roma là Giáo hội duy nhất, chân thật, công giáo và tông truyền không? Chỉ riêng chúng ta có sự thật mà thôi sao?

Đáp: Hiểu những đặc tính nầy theo đướng lối minh định rõ ràng như Giáo hội hiểu, câu trả lời sẽ là đúng. Tuy nhiên, tôi sợ rằng, trong nghĩa mà bạn hiểu (và như một số người công giáo và phần lớn Tin lành có thể nghĩ Giáo hội hiểu) câu trả lời sẽ là không đúng.

Khi chúng ta gọi Giáo hội công giáo “chân thật”, điều đó chắc chắn không có nghĩa là chúng ta nghĩ rằng chỉ một mình chúng ta có chân lý. Thần học công giáo không chỉ nhận rằng những giáo hội khác có thể tuyên tin và giảng dạy sự thật, nhưng còn nhận rằng Thánh Thần đang làm việc giữa họ theo cách nào đó thực với ánh sáng và tình thương của Người. Cách đặc biệt, đó là thật trong những giáo hội Ki-tô, nhưng cũng có thể thật từ những tôn giáo khác cách thật chắc chắn và rõ ràng từ niềm tin Do thái, niềm tin này chia sẻ nhiều truyền thống cốt yếu với Ki-tô giáo.

Một tín hữu công giáo thành tâm nghĩ rằng trong Giáo hội công giáo có một số con đường của sự thật, ân sủng và sự thân tình với Đức Giê-su bình thường không có trong các truyền thống phụng vụ và đời sống của các giáo hội khác. Nếu họ không nghĩ như vậy, người ta xem họ thuộc về một giáo hội nào khác hoặc chẳng thuộc một giáo hội nào. Tư tưởng này cũng thật đối với một tín hữu thành tâm thuộc giáo phái Methodist, Baptiste hoặc Luther vì cũng do những lý lẽ trên.

Những xác tín của chúng ta trong vấn đề này đã được công bố thật rõ và thường xuyên ở Công đồng Vatican II. Chúng ta nghĩ rằng “Một tôn giáo duy nhất, chân thật tồn tại trong giáo hội công giáo và tông truyền, chân lý đặt ra những đòi hỏi của nó trên lương tri con người”. Do sức mạnh của chính chân lý chứ không do cưỡng ép, và quà tặng chân lý của Chúa Thánh Thần phải được trân trọng khi nó được tìm thấy. (xem Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo khoản 1, được trích dẫn ở đây và những điều nói về Hiệp nhất khoản 2 và về Giáo hội, Ánh sáng muôn dân, LG 15).

  1. Chấp nhận những đổi thay

Hỏi: Con đã trở lại đức tin công giáo khoảng 35 năm nay. Từ đó, nhiều điều con đã đồng hóa với giáo hội thời đó đã thay đổi. Thật nặng nề, không chỉ cho con nhưng còn cho một số bạn bè công giáo từ lúc mới sinh. Chúng ta phải giữ thăng bằng thế nào trong tất cả những sự thay đổi này, nhất là các khác biệt trong giáo huấn công giáo, và học cách hiểu biết các vấn đề như thế nào?

Đáp: Vấn nạn này là một trong những vấn nạn thông thường nhất mà tôi nhận được và là một câu hỏi khó nhất. Vì có một điều, câu trả lời phải là một câu trả lời hoàn toàn cá nhân. Phần lớn tùy thuộc tâm tính và niềm tin của mình.

Đòi hỏi thứ nhất là một thái độ tích cực và lạc quan về những tiến trình cách mạng đang lên chung quanh chúng ta. Dường như rõ ràng nhân loại đang đứng trước ngưỡng của một thế hệ mới; đời sống của nó trên quả đất, về những phương diện xã hội, chính trị, kinh tế và cả tôn giáo nữa, sẽ bị thay đổi cách mạnh mẽ từ điều chúng ta đã biết. Một thời buổi trong lịch sử luôn mang lại sự ngộ nhận, những bước đầu sai lầm, những hi vọng thử nghiệm và nhiều hụt hẫng, cũng nhiều như những cái nhìn xung đột rộng khắp về việc làm thế nào hướng về tương lai này cách sáng tạo mà không mất điều gì tốt từ quá khứ.

Điều không làm cho chúng ta ngạc nhiên, những Ki-tô hữu kể cả giáo hội công giáo của chúng ta chia sẻ sự giao động và thử thách này. Thực tế nó chỉ có thể là lý do để báo động, nếu giáo hội (và điều đó có nghĩa là bạn và tôi) tiếp tục con đường riêng mình cách yên lành, không bị lôi cuốn và thương tổn vì những nỗi đau và sợ hãi hôm nay xâu xé những con tim của bao người.

Mặc dù đau khổ và biến động đi kèm theo, tiến trình của sự đổi thay và sự sinh ra mới này đã là một kinh nghiệm tích cực và biểu lộ cách lạ thường cho giáo hội, và nó cũng có thể là một kinh nghiệm đẹp và mang lại phần thưởng cho chúng ta nữa, nếu chúng ta để nó tiếp diễn.

Những sự khác biệt mà bạn ghi nhận là chắc chắn có. Sự khác biệt giữa cách thức mà những công đồng trước đây (ví dụ Công đồng Tridentino trong thế kỷ 16, hoặc Vatican I trong thế kỷ 19) nói về những vấn đề như Giáo hội, Thiên Chúa, con người, tính cách thần thiêng của con người và ý nghĩa sự Nhập thể của Lời Thiên Chúa với cách thức mà Công đồng Vatican II tranh luận về chúng thì trước đây không có trong giáo hội. Sự tiến triển này đã đánh dấu một đường hướng tiếp cận, cách rộng rãi, phong phú, với lời cầu nguyện, đức tin, hy vọng và tình mến đối với Thiên Chúa và thế giới.

Những biến cố này trong thần học và trong những bình diện khác của đời sống công giáo không là một phủ nhận điều đã nói trong quá khứ; chúng phản ánh đúng hơn, một sự hiểu biết tiến triển rằng có một chỗ cho nhiều sự khác biệt nữa để tiếp cận những mầu nhiệm lớn về Thiên Chúa và con người mà xưa kia chúng ta đã suy tư. Đời sống của Giáo hội cũng như của cuộc sống nào khác, không đơn thuần là một chuyển giáo của những chân lý và thực hành bị cột chặt cách khéo léo. Nó là sự tiếp diễn phiêu lưu mở lên chân lý như những biến cố của lịch sử và ơn sủng của Thánh Thần mặc khải nó cho chúng ta. Có nguy cơ trong tất cả những điều đó, lẽ dĩ nhiên, và đó là nơi đức tin người ta đi vào. Nó trở nên, cách thẳng thắn, một vấn nạn: người ta có còn thực sự tin nơi Thiên Chúa – một Thiên Chúa (và Giáo hội) cao cả như thế nào… Chúng ta, những Ki-tô hữu hiểu rằng, nhờ việc Người đến như con người, Đức Giê-su thương yêu quả đất đáng thương này và mọi tạo vật, trong đó có những con người, những sự cố và những tiến triển của ngày hôm nay. Chúng ta tin rằng, bằng sự sống lại và tôn vinh của Cha, Người hiện diện cách sống động – hôm nay cũng như trong quá khứ như người chữa lành và cứu thế, Người sẵn sàng đứng cuối lịch sử như Chúa và Vua-Chiến thắng cho mọi thần dân của mình. Đó là trung tâm của vấn đề.

Đối với tôi, dường như Chúa được tôn thờ do chúng ta giữ đôi mắt và công việc của mình hướng vào điều kỳ diệu của uy quyền Chúa, hơn là chúng ta mất mát và sợ hãi mỗi sự thay đổi (hoặc mỗi tư tưởng mới xa lạ, đối với vấn đề này) báo hiệu sự sụp đổ gần kề của Giáo hội hay ảnh hưởng của Chúa trong thế giới.

Giải thích dài dòng một vấn nạn hóc búa có va chạm vừa rồi, tôi không biết ý của bạn thế nào, nhưng Chúa của tôi không chịu nép mình ở góc nào đó – Giáo hội của tôi cũng thế.

Tôi hi vọng điều đó đem lại một câu trả lời hữu ích cho vấn nạn của bạn. Làm việc khổ nhọc cho những việc này, chúng ta, những Ki-tô hữu bảo vệ sự công chính, chân lý và tình yêu hạ cố trần gian đối với Thiên Chúa và người bạn của chúng ta. Tôi có cảm nghĩ cách này hay cách khác đó là điều mà Đức Giê-su đang làm, vậy tại sao chúng ta không làm?

  1. Công đồng Vaticano II là công đồng thứ nhất?

Hỏi: Con vừa đọc lời ghi chú của một tác giả có uy tín: công đồng Vatincano II hiện là công đồng thứ nhất thực sự có tính toàn thể. Con hiểu đã có nhiều công đồng trước công đồng này. Tác giả có ý gì?

Đáp: Đúng, đã có nhiều công đồng chung (toàn thể) trước Vaticano II. Cũng đúng nếu người ta ước mong đúng nghĩa theo địa dư và con số, các công đồng (trước đây) đã thực ra không chung – nghĩa là toàn thế giới. Có thể công đồng có ý nghĩa nhất trong thời hiện đại ít nhất trong ảnh hưởng sâu rộng trên đời sống và niềm tin công giáo, là Công đồng Trendentino. Công đồng bắt đầu năm 1545, sau 8 năm làm việc chuẩn bị khắc khoải với chỉ 25 giám mục và 4 hồng y tại Thánh lễ khai mạc. Kéo dài trong 19 năm, với 25 khóa họp cách quãng, do những nguyên nhân chính trị và tôn giáo khác nhau, công đồng không bao giờ có được sự hiện diện của hơn một thiểu số những người được tuyển chọn tham dự.

Gần đây hơn, công đồng Vaticano I khai mạc năm 1869 với chứng 700 giám mục từ khoảng 1.050 giám mục được chọn và 500 vị đến từ Châu âu. Tại một số khóa họp, chỉ có khoảng 100 giám mục hiện diện.

Trong khi đó, suốt công đồng Vaticano II, có khoảng 2.900 giám mục và chức sắc trong giáo hội được mời. Trên 2.500 vị tham dự buổi khai mạc năm 1961 và 2.400 vị buổi bế mạc năm 1965. Căn cứ trên những con số và địa dư của thế giới tham dự, nó đã thật là công đồng chung nhất trong lịch sử.

Nó không chỉ hời hợt là những con số hay địa dư làm thành một công đồng chung. Những công đồng khác đã là chung vì những hoạt động của chúng đã được ít là đón nhận và chấp thuận của Giám mục Roma và được áp dụng cho toàn thể Giáo hội.

  1. Có công đồng chung sắp tới nữa không?

Hỏi: Công đồng chung cuối cùng trước Công đồng Vaticano II đã xảy ra khi nào? Lúc nào sẽ có Công đồng mới nữa, và cha có nghĩ rằng nó sẽ tạo ra nhiều thay đổi như Công đồng vừa qua không?

Đáp: Công đồng chung cuối cùng trước Vaticano II (1962-1965) là Vaticano I (1869-1870). Từ lâu, những công đồng này chỉ được triệu tập khi nhu cầu phát sinh, công đồng tới có thể diễn ra 10 năm hoặc 100 năm nữa.

Về sự đổi thay, Công đồng mới sẽ có thể giống như hầu hết các công đồng chung trước đây; bao nhiêu sẽ tùy sự chuẩn bị và đổi mới xảy ra trước công đồng, cũng như trong công đồng. Các công đồng chung không được hiểu bởi hậu quả ổn định của chúng trên đời sống giáo hội, ít ra ở phạm vi nhỏ hẹp. Thường các công đồng quan tâm tới những thách đố của lịch sử đặt ra cho dân công giáo, như vậy chúng ta không chờ đợi ở các công đồng tính an tĩnh và thiếu tranh luận.

  1. Thần học hay giáo điều

Hỏi: Câu lạc bộ học hỏi của chúng tôi có sự bất đồng trên một số điểm trong cuốn sách mà chúng tôi đang thảo luận – một qui chiếu về “Thần học của thánh Phao-lô”. Một số người trong chúng tôi không có vấn đề tới những từ, nhưng một số khác cho rằng diễn giải sai lầm. Nói tóm, chỉ có một thần học là chân thật, có không, ít nhất là một mà chúng tôi, những người công giáo có thể chấp nhận được?

Đáp: Tôi nghĩ các bạn đang nhận được thần học pha trộn với giáo điều. Chúng là hai thứ rất khác nhau.

Thần học, có thể hiểu là một triển khai hoặc suy luận trên những tư tưởng có liên quan tới Thiên Chúa. Cách chuyên biệt hơn, cách nào đó, nó là một hệ thống có tổ chức của tư tưởng cố gắng tổng hợp những chân lý mà chúng ta có được về Thiên Chúa từ lý luận hay mặc khải. Cách đơn giản nó là những cái nhìn của cá nhân hoặc tập thể và những tín điều khác nhau của Ki-tô giáo chẳng hạn, nối kết với nhau cách thế nào, làm sao chúng hòa hợp được với những khía cạnh khác của đời sống và hiểu biết của nhân loại…

Theo nghĩa này, có nhiều “thần học” hoàn toàn được kính trọng và chấp nhận trong truyền thống công giáo, ngay cả chúng có thể bất đồng cách sâu sắc với thần học khác. Ví dụ, thánh Augustino triển khai một hệ thống thần học mà thánh Aquino, cơ bản thường bất đồng trong chính thần học của người 800 năm sau. Ngày nay, 800 năm sau thánh Toma, các hệ thống thần học thường lấy cách cơ bản những con đường khác nhau để diễn giải ý nghĩa của những chân lý Ki-tô mà thánh nhân đã làm.

Thánh Phao-lô là một người của đức tin và thông biết lạ lùng, người triển khai thần học của mình bằng tập hợp những lời rao giảng mà người nhận được từ Đức Ki-tô và bằng làm cho phong phú lời rao giảng của người và sự hiểu biết của chúng ta.

Ở những thời khác nhau trong lịch sử Ki-tô giáo, các “trường phái” thần học khác đã đặt những tầm quan trọng hoàn toàn khác với thánh Phao-lô. Một thí dụ tốt là chỗ Phao-lô cho sự Phục sinh như biến cố trung tâm chứng minh Đức Giê-su như Con Thiên Chúa với quyền năng của Đấng Cứu thế. Có lẽ nhiều thế kỷ sau Phao-lô, xu thế thần học đồng hóa biến cố cốt yếu này như chính sự Nhập thể đúng hơn là sự Sống lại.

Những sự khác biệt này có thể như lý thuyết, nhưng chúng hàm ý theo chiều hướng của đường thiêng liêng, và niềm tin Ki-tô giáo. Những “khó khăn” đối với thần học hiện đại chẳng hạn là do từ sự kiện nó nghiêng nhiều về tầm quan trọng Phục sinh của thánh Phao-lô – Nó cách nào đó làm phong phú vô cùng sự hiểu biết của chúng ta về ý nghĩa đích thực của sự Nhập thể của Con Thiên Chúa.

  1. Các nhà thần học đang làm gì?

Hỏi: Nếu có thể, cha vui lòng nói cho con biết những nhà thần học đang làm gì, phá Giáo hội không? Trong mức độ mà con có thể thấy được, tất cả những gì họ đang làm bào mòn đức tin của những người thiện chí?

Đáp: Câu hỏi hết sức ngắn này đã có nhiều câu hỏi khác rõ ràng có tính hùng biện bao hàm những diễn tiến đang xảy ra trong Giáo hội. Có lẽ chú giải cuối cùng ngày thật không có nghĩa đã trả lời rồi. Nhưng tinh thần của nó thì hiển nhiên thường trong những lá thư đến bàn giấy của tôi.

Thần học là một khoa học rất chuyên biệt và phức tạp và các nhà thần học không là gì cả nhưng là những chuyên viên trong lãnh vực này. Trải qua các thời đại, Giáo hội đã tùy thuộc nhiều vào sự nghiên cứu và những bài viết của các chuyên viên được huấn luyện trong khoa học này. Những thần học gia như thánh Gieronimo, thánh Toma Aquino, thánh Anphong Ligori và hàng ngàn ánh sáng lớn nhỏ khác. Đa số trong họ, cách bất ưng, đã là “những ngôn sứ không vinh dự” trong phần lớn đời mình.

Khi tôi nói Giáo hội tùy thuộc họ, tôi cũng hàm ý các giám mục và giáo hoàng. Trong lúc các vị là thành phần chính thức giảng dạy trong gia đình của Đức Ki-tô, các giám mục họa hiếm là các thần học gia với nền học vấn cao, đặc biệt trong những lãnh vực hết sức quan trọng của thần học kinh thánh, tín lý hoặc trong bình diện chuyên môn đặc biệt của luân lý.

Tự bản chất, thần học là một khoa học thuần lý, mở - đóng. Một phần vụ của nó là ở chỗ lưỡi dao sắc của tư tưởng công giáo như sự hiểu biết của Giáo hội về Đức Giê-su và sứ vụ của Người tiến triển qua các thế hệ. Cũng như những người mẹ, những người cha, hoặc linh mục có những người có khả năng và ít khả năng. Một thần học gia có thể đúng hoặc sai hoặc ở giữa cả hai. Chuyên môn của ông có thể ở lãnh vực này hơn lãnh vực khác. Trên tất cả, những lý thuyết và ý kiến của ông chỉ tốt hoặc xấu như những lý luận của ông về chúng.

Khi một người lên án hay chế giễu “những nhà thần học” tôi không thể không nghi ngờ rằng người ấy chưa nghiêm túc tìm hiểu điều những nhà thần học chuyên biệt nói về một vấn đề gì, hoặc người ấy đang tìm một ai để chê bai về những điều mà người ấy không hiểu hoặc tán đồng. Có thể cả hai.

Màn chỉ trích của cha mẹ, những trẻ vị thành niên, những nhà trí thức hoặc của những nhà thần học về sự băn khoăn và những khủng hoảng của chúng ta là một tự thú và hiếm khi đóng góp điều gì cho sự hiểu biết của chúng ta hoặc tìm kiếm chân lý.

  1. Đó là một giáo hội “mới” không?

Hỏi: Cha đã trả lời cho một bài bình luận về những thay đổi trong Giáo hội công giáo.

Giáo hội hiện nay được điều hành bởi những giáo sĩ tự do. Không Công đồng Vatican không đòi hỏi những đổi thay này, chỉ có một nhóm giám mục tự do đòi hỏi thôi. Ngày nay các Giáo hội của chúng ta là những bản sao chép tốt của những giáo hội Tin lành. Thánh lễ là một sự khủng khiếp. Không gì có thể thay thế cho Thánh lễ của Tridentino và không nhóm giáo sĩ tự do nào có thể thay đổi được não trạng của tôi.

Những người tự do đã tạo nên một Thánh lễ của sự lý luận hời hợt để bênh vực cho những sự thay đổi không cần thiết của họ. Trong cái nhìn của sắc lệnh do Đức thánh cha Pio V ban: Thánh lễ của Công đồng Tridentino không bao giờ bị bớt đi hay sửa đổi cách hợp pháp, làm thế nào người ta nhận ra được tính thành sự của luật mới?

Tôi ở lại và luôn muốn ở lại công giáo như tôi đã nói. Tôi không chấp nhận lý luận cho những thay đổi không cần thiết. Cha và những linh mục khác luôn ở tư thế bảo vệ cho điều đó.

Đáp: Trước hết, điều mà ông thấy như sự phòng vệ về phía một số linh mục, theo tôi nghĩ hơn là một sự mất mát sâu sắc. Một trách nhiệm lớn của các linh mục (và của những thừa tác viên mục vụ khác) trong những năm gần đây là giúp cho dân chúng bắt nhịp với những chuyển tiếp đang đặt ra cho họ hôm nay. Chúng tôi nhận trách nhiệm này cách nghiêm túc. Thấy dân chúng tự kép kín trí lòng với những thời cơ to lớn, Giáo hội ngày nay tặng họ cho sự trung thành và thánh thiện lớn hơn, không phải là điều mà chúng tôi xem nhẹ được.

Tôi phấn khởi được đưa về trong “Giáo hội cổ” và chúng tôi, các linh mục phải xuyên suốt qua cũng một tiến trình như vậy về học hỏi, cầu nguyện và (tôi hy vọng thế) cởi mở cho Chúa Thánh Thần như những người công giáo khác đã làm để hiểu Thần khí đang hướng dẫn chúng ta như dân của Đức Giê-su Ki-tô về đâu. Tôi hiểu rõ như người công giáo bên cạnh hoặc người Ki-tô hữu khác rằng, bị ai đó chất vấn, kể cả Thiên Chúa, nhổ neo hay di chuyển đến nơi đâu mà chúng tôi chưa từng ở trước đây là nặng nề. Nhưng sự thể là Chúa Thánh Thần đã làm chính điều đó với Maria và các thánh và Người đang làm điều ấy với chúng tôi.

Sự chửi rủa có thể giúp chúng tôi cảm thấy dễ chịu nhưng nó không là vật thay thế cho sự suy tư minh bạch hay các dữ kiện được. Hiểu biết chút ít lịch sử là một sự trợ giúp lớn. Nhiều giáo hoàng liên tiếp ban sắc lệnh thay đổi trong điều được gọi là Thánh lễ công đồng Tridentino đúng với thế hệ của chúng ta thôi, dẫn đến Thánh lễ mà chúng ta có trước công đồng Vaticano II (xem những câu hỏi về vấn đề này trong chương kế).

Thực tế, Thánh lễ “mới” mà chúng ta có ngày nay còn xa với truyền thống Giáo hội hơn Thánh lễ tiền công đồng Vaticano II.

Ông nói ông sẽ luôn là người công giáo như ông đã nói. Ông đã học trong loại giáo lý nào mà theo đó giáo hoàng có thể được chấp nhận khi loại bỏ những giáo hoàng khác? Nói những văn kiện là “không thể đảo ngược” là lẽ thường trong những tài liệu chính thức của Giáo hội. Giáo hoàng Pio V đã thay đổi những văn kiện không thể đảo ngược của những vị giáo hoàng tiền nhiệm như người có quyền và trách nhiệm để làm như người thấy cần thiết cho giáo hội. Ta có nói được như đầu thế kỷ này rằng dgs đã phản bội lời hứa Người sẽ ở lại luôn mãi với Giáo hội của Người và ban cho Giáo hội sự hướng dẫn của Thánh Thần không? Nếu không, trong trường hợp này, chúng ta phải nghĩ rằng Gioan XXIII, Phaolo VI, Gioan Phaolo I và Gioan Phaolo II và các giám mục với các vị đáng cho chúng ta kính trọng và vâng phục trong mọi chi tiết như với bất cứ một giáo hoàng nào đã hướng dẫn và phục vụ giáo hội trong quá khứ. Tôi nghĩ rằng Giáo hội công giáo và hầu hết các Ki-tô hữu khác đang hoạt động với niềm tin và can đảm lớn lao – và chân lý trong một thời đại của những thách đố ghê gớm. Các Thượng hội đồng vừa qua và các biến cố khác trong Hội thánh chúng tỏ Đức Thánh Cha của chúng ta và đa số các giám mục của Hội thánh cũng suy nghĩ như nhau và tin rằng Vaticano II đã tạo nên sự thúc đẩy lớn nhất cho phong trào này.

Tôi biết có nhiều đau khổ, vấp ngã và bị đè bẹp trên đường. Nhưng thật tình tôi cảm thấy buồn cho những ai không có khả năng hoặc không muốn lên đường.

  1. Quyền giáo huấn là gì?

Hỏi: Con vừa trở lại đức tin công giáo, nhưng con đã bỏ qua một từ trong giấy tờ công giáo của chúng con mà con chưa từng nghe khi học giáo lý. “Quyền giáo huấn” là gì hoặc là ai?

Đáp: Từ “Quyền giáo huấn” (Magisterium) đền từ một từ latinh khác “magister” (thầy dạy), nó có nghĩa là quyền, hoặc phận vụ giảng dạy và lãnh đạo.

Trước khi Chúa chúng ta chết, Người hứa với những ai theo Người, Thánh thần Người sẽ gửi tới sẽ mang đến cho tâm trí họ tất cả những điều mà Người đã nói cùng họ. Quyền giáo huấn là từ chúng ta dùng để chỉ quyền bính và trách nhiệm mà Hội thánh có để hoàn tất lời hứa này của Đức Ki-tô, trách nhiệm và quyền năng đoàn sủng để trở nên người giải thích trung tín Lời chúa cho nhân loại. Đó là nói cách khác, dụng cụ nhân loại mà Đức Giê-su dùng để giữ cho dân Người khỏi sai lầm nghiêm trọng và nguy hiểm trong sự hiểu biết Chúa và cứu rỗi nhân loại.

Trách nhiệm này được nhân hóa và tập trung nơi Đức thánh cha và những giám mục trên thế giới hiệp thông với người – một truyền thống mà chúng tôi, những tín hữu công giáo tin, tiếp tục kiểu thức mà Đức Giê-su đặt ra khi Người định quyền bính có trách nhiệm nơi Phê-rô và những vị tông đồ khác cùng hiệp thông với Phê-rô. Bởi vì theo cách thức ấy, các vị là những người chú giải và gìn giữ cách chính thức những chân lý mạc khải, người ta cũng thường qui chiếu về các giám mục và giáo hoàng như quyền giáo huấn của Hội thánh.

Bổn phận này chắc chắn không được áp dụng cách vô ích. Như giáo hoàng Phaolo VI nhận xét vài năm trước đây, quyền giáo huấn không mạc khải những chân lý mới, nhưng là trở nên “tiếng vọng niềm tin” của Lời chúa và của Kinh thánh. Trong việc này, giáo hoàng và các giám mục cần sức mạnh, sự hỗ trợ và giúp đỡ của tất cả những người khác trong hội thánh. Họ bao hàm giáo dân và giáo sĩ – họ nhờ chứng từ của đời sống hằng ngày giúp hiểu sâu sắc hơn nhưng giáo huấn của Đức Giê-su – những nhà thần học, những thầy dạy khác…

Quyền giáo huấn là một cách thức luôn sống động mà Chúa chúng ta thực hiện lời hứa của Người với những ai theo Người “giữ họ trong sự thật”.

  1. Khi nào giáo hoàng nói cách bất khả ngộ?

Hỏi: Theo giáo huấn công giáo, khi nào Giáo hoàng nói bất khả ngộ? Trong thông điệp hoặc nơi nào? Xin cho một ví dụ về giáo huấn loại này?

Đáp: Khi còn ở trần thế với các môn đệ, Đức Giê-su đã nói với những ai theo Người rằng Người sẽ luôn ở với họ và rằng Thánh Thần Người sẽ gửi tới sẽ luôn giữ họ trong sự thật.

Đây là niềm tin công giáo của chúng ta. Lời hứa nầy được thực hiện một phần với một vài điều kiện, Đức Thánh Cha như điểm qui chiếu của sự duy nhất và đức tin công giáo được đặt vào một thể thức đặc biệt cách cá thể với lời hứa này của Đức Giê-su để gìn giữ Hội thánh khỏi sai lầm.

Sự xác thực duy nhất của chân lý – tính bất khả ngộ - là hiện thực, chúng ta tin, khi giáo hoàng nói cách minh nhiên như thủ lãnh chủ chăn và thấy của Hội thánh về những vấn đề đức tin và luân lý thần linh và cách rõ ràng có chủ ý dùng đầy đủ quyền hành của phận vụ mình trong Hội thánh cách long trọng, chúng ta tin đó là phần hành mà người được gọi đến để phục vụ cho những anh em công giáo của mình như thủ lãnh các giám mục trong hội thánh.

Bản chất bất khả ngộ của giáo huấn không tùy thuộc vào loại văn kiện, nhưng vào ý hướng của đức thánh cha được làm sáng tỏ trong chính phần trình bày. Trên lý thuyết nó có thể ở phần cuối của văn kiện.

Tín điều cuối cùng được xem như giáo huấn có tính bất khả ngộ này là tín điều về Lên trời của Đức Maria, công bố bởi đức Giáo hoàng Pio XII năm 1950. Tín điều trước tín điều này, năm 1854 liên quan đến sự trinh thai của Đức Bà.

Gần cuối của thông điệp dài (Munifioentisaimus Dues) phân tích lịch sử lâu dài của tín điều về lên trời qua các thế kỷ, giáo hoàng Pio định tín giáo huấn với những lời long trọng:

“Chúng tôi đã dâng lời khẩn cầu liên lỉ lên Chúa và đã kêu khấn Thần Chân lý. Giờ đây vì vinh quang Thiên Chúa tối cao, Đấng rộng rãi yêu thương đặc biệt Đức Trinh nữ Maria, vì danh dự Con của Người, vị Vua bất tử của ngàn muôn thế hệ và Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết, vì rạng danh người mẹ đáng kính và vì niềm vui và nỗi mừng của toàn thể hội thánh: Bằng quyền của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, của thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô, và bởi quyền riêng của chúng tôi, chúng tôi loan báo, tuyên bố và định tín điều ấy như tín điều được Chúa mạc khải rằng Mẹ Vô nhiễm của Thiên Chúa: Đức Maria trọn đời khiết trinh sau khi đã hoàn tất cuộc đời trần thế đã được đưa cả xác và hồn lên vinh quang trên trời”.

  1. Những giáo huấn bất khả ngộ

Hỏi: Trong một cuộc tranh luận về những niềm tin công giáo, chúng con có nghĩ đến vài giáo huấn bất khả ngộ của Đức Thánh Cha, nhưng không nghĩ được điều nào ngoài một điều mà cha đã nêu ra. Cha có thể giúp?

Đáp: Tôi không sợ - ít ra là không sợ lắm. Với tất cả mọi cuộc đối thoại và tranh luận về tính bất khả ngộ của giáo hoàng, người ta chờ chia sẻ cho một danh sách dài. Thực tế, nói chung, người ta đồng ý những giáo thuyết công giáo được định tín, nó là như vậy vì tất cả các văn kiện giáo hoàng đúng nghĩa bất khả ngộ - hãy tin như thế hoặc không, chỉ có hai. Cả hai liên quan đến mẹ Đức Giê-su: Định tín về sự thụ thai vô nhiễm của Maria do giáo hoàng Pio IX năm 1854 và về ơn lên trời của Người sau cuộc sống ở trần gian này do giáo hoàng Pio XII năm 1950 (Có thể văn kiện của Pio XII liên quan tới chất thể và mô thức của Bí tích truyền chức thánh ở trong thể loại này).

Cả hai chân lý nầy kỳ thực đã được cử hành và chấp thuận trong Ki-tô giáo hàng ngàn năm trước những thời điểm này.

  1. Giáo hoàng nói thay cho mọi Ki-tô hữu?

Hỏi: Một thời gian sau chuyến viếng thăm của giáo hoàng năm 1987 tại Hoa kỳ, một người bạn cho con xem tờ báo trích lời của một giám mục tin lành nói rằng: đức thánh cha “nói thay cho tất cả chúng ta trong sứ điệp luân lý gửi cho thế giới”.

Ngài muốn nói gì? Chắc chắn ngài không nói giáo phái của ngài chấp nhận giáo hoàng như thủ lĩnh của giáo hội.

Đáp: Trong 34 năm làm linh mục tôi đã đọc nhiều và tham dự nhiều cuộc đối thoại với hàng giáo sĩ và những nhà lãnh đạo khác của các giáo hội Ki-tô.

Tôi có một ấn tượng rằng sự gia tăng số người cho hai phía Ki-tô hữu không công giáo và Ki-tô hữu công giáo, đòi hỏi cần có một người ít ra trong những điểm chính yếu có thể nói nhân danh cộng đồng Ki-tô giáo thế giới.

Những người như thế nghĩ rằng khi chúng ta có những khác biệt nội bộ như là Ki-tô hữu, những khác biệt này tương đối không đáng kể trước những sự dữ trong vũ trụ đe dọa xã hội loài người – sự đói kém của hàng khối người, nạn khủng bố tập thể và sự dửng dưng khác đối với sự sống con người, sự đe dọa tàn phá sự sống của bom hạt nhân trên trái đất… Sứ điệp Ki-tô cho phần còn lại của thế giới và cho ngay cả chúng ta cực kỳ què quặt vì sự phân hóa và cãi vã giữa những Ki-tô hữu.

Nhiều nhà lãnh đạo tin lành không bao giờ xem việc gọi Đức thánh cha là “Đầu Hội Thánh”, vẫn nói tới người như một nhân vật trước mắt họ có thể nói cho phần còn lại của nhân loại như một nhà lãnh đạo của các tin hữu Ki-tô. Theo nghĩa này, người có thể là và trong thực tế thường được xem như một phát ngôn viên về luân lý ngay cả cho nhiều người không công giáo. Nói người được nhìn nhận cách chính thức như vậy không có nghĩa là cứ mãi như thế trong tương lai đâu.

  1. Các Giáo hoàng được dân chúng bầu?

Hỏi: Cuốn sách mà câu lạc bộ học hỏi của chúng con dùng có một phần nói về các Giáo hoàng. Phần chú giải viết rằng các vị ngày xưa được dân chúng bầu. Cha có thể soi sáng cho chúng con không? Chúng con tất cả đã nghĩ các giáo hoàng đã được các giám mục hoặc hàng giáo sĩ chọn trước khi các hồng y chọn.

Đáp: Sách của các bạn đúng. Trong phần lớn của lịch sử hội thánh, hầu hết các giám mục, kể cả giám mục Roma đều đã được bầu cách nào đó bởi dân chúng.

Trong 10 thế kỷ đầu, sự chọn lựa được thực hiện bằng một thể thức được tất cả chấp nhận bao gồm hàng giáo sĩ và giáo dân của từng giáo phận. Các nhà lãnh đạo dân sự đã có bàn tay càng lúc càng dài trong sự chọn lựa, đôi khi cách đơn giản bằng chọn lựa một người mà họ cảm thấy sẽ thích hợp cho chính trị riêng mình. Thế nên hoàng đế của thánh đế quốc Roma trong nhiều thế kỷ là tác nhân mạnh nhất trong việc chọn giáo hoàng.

Chỉ trong năm 1059 giáo hoàng Nicola II mới đặt sự chọn lựa giáo hoàng trong tay các hồng y (Các hồng y, như chúng ta biết, thực tế không nhiều trong giáo hội trước thời điểm này).

Công đồng Laterano III (1179) ấn định một cuộc bầu của 2/3 hồng y đủ cho sự đắc cử giáo hoàng. Giáo hoàng Gregorio X, để giảm hơn nữa những ảnh hưởng chính trị trên các cuộc bầu cử giáo hoàng đã ra luật 1271 rằng các vị hồng y được cách ly bằng cửa có khóa trong suốt thời gian diễn tiến bầu cử. Một điều cần thiết, - nhưng không được biết trong những cuộc bầu cử trước đây.

Năm 1945, giáo hoàng Pio XII duyệt lại các thể thức đòi một đa số 2/3 cộng thêm một phiếu, thì mới đắc cử.

Năm 1975, giáo hoàng Phaolo VI duyệt lại một lần nữa các thể thức một ít, nhưng không thay đổi về cơ bản thể thức những cuộc bầu cử giáo hoàng hiện nay.

  1. Tiên đoán về các giáo hoàng

Hỏi: Hội thánh công giáo có tin lời nói các nhà bói toán hoặc các nhà tiên tri liên quan tới người sẽ được bầu làm giáo hoàng và giáo hoàng sống bao lâu không?

Một bài trong tờ báo của chúng con nói rằng các tiên tri tiên báo một giáo hoàng sẽ chết rất sớm sau khi được bầu (Gioan Phaolo I) và tên của giáo hoàng tiếp theo có vần “V” (theo tiếng Balan, tên của giáo hoàng hiện nay được phát âm có chữ “V”, Vojtyla).

Một tiên tri nói, chúng ta có ba giáo hoàng sau Gioan Phaolo I, vị khác nói có 4. Những lời tiên tri này đúng đến mức độ nào?

Đáp: Những lời tiên tri như thế của Nostradamus và St Malachi đã bị mất tín nhiệm từ lâu rồi. Ít ra chúng đã được viết ra lâu năm sau các giáo hoàng mà họ đã nói rằng đã tiên đoán. Ban đầu những tiên đoán tương đối rõ ràng. Nhưng những tiên báo về sau mù mờ. Như dự báo thời tiết hằng ngày trên báo, chúng ra có thể đọc điều gì chúng ta muốn.

  1. Lời tiên tri của Malachy

Hỏi: Lời tiên tri của Malachy là gì? Giả sử nó tiên báo một thởi khủng khiếp cho Hội thánh trong phần cuối thế kỷ này. Giả thiết ấy có trở nên thật không, thưa cha?

Đáp: Người ta có cám dỗ nói rằng bất cứ ai đều có thể nói tiên tri về một “thời khủng khiếp” cho Hội thánh trong hầu hết mọi thời và có thể họ đúng… Xin lỗi làm ông thất vọng. Lời tiên tri nổi tiếng của thánh Malachy hầu như có thể xem là lợi cho Giáo hội.

Lời tiên tri là do thánh giám mục Malachy của Ái-nhĩ-lan viết, ông chết năm 1148. Nó có ý phác họa 111 người kế vị giáo hoàng Celestin II, người sống đồng thời với St Malachy. Những người này không được gọi tên, nhưng bằng những “câu thơ” ngắn nói lên đặc tính của người hoặc thời làm giáo hoàng của các vị. 60 vị đầu thì rõ ràng và mang sự tương hợp đáng kể với những vị giáo hoàng mà chúng ám chỉ. Nhưng sau đó, nhưng câu thơ tiên tri trở nên rất tổng quát, đa số có thể ám chỉ hầu như bất cứ người nào, ở bất cứ thời nào.

Với một câu latinh ngắn tuyên bố đặc điểm của mỗi giáo hoàng hoặc triều đại của người. Những lời tiên tri có thể đoán chừng đến tận thế. Những câu nói vô cùng bí hiểm, nó đòi rất nhiều tưởng tượng để rút ra ý nghĩa cho hầu hết các giáo hoàng.

Theo những tiên đoán viện dẫn chỉ còn lại hai giáo hoàng sau giáo hoàng hiện tại, kết thức với Phero-Roma (Petrus-Romanus), người cai trị trên sự tàn phá của thành Roma và kết thúc của thế kỷ hiện nay.

Toàn bộ lời tiên tri, thực tế là một tài liệu giả, phức tạp và tưởng tượng. Thánh Malachy là giám mục ở Armagh, Ái-nhĩ-lan, thật sự đã sống và có một đời hoạt động sáng chói. Tuy nhiên người chết hơn 400 năm trước lời tiên tri giả thiết của người xuất hiện lần đầu ở Âu châu.

Tác giả phải có một chút khôi hài khi sáng tác sự hiếu kỳ có tính lịch sử và văn học hấp dẫn. Nhưng nó là một sự lừa dối.

Tài liệu có giả hay không, nhưng nó hình như được “tái khám phá” trong vòng 10 hay 20 năm nay.

  1. Những giáo huấn bí mật?

Hỏi: Trong câu trả lời của cha về tính bất khả ngộ của đức giáo hoàng, cha lưu ý rằng, tín điều được nói đến gần đây nhất với tính bất khả ngộ là sự Lên trời của Maria tuyên bố năm 1950.

Khi tĩnh tâm, cách đây 1 năm, người giảng phòng có nói với chúng con rằng, giáo hoàng đã định tín giáo thuyết Gioan Tẩy giả sinh ra vô nhiễm nguyên tội. Điều đó xảy ra chừng 6, 7 năm rồi và nó được Roma giữ kín. Điều ấy có thật không?

Đáp: Không, không thật. Tôi chắc anh hiểu sai người giảng tĩnh tâm.

Thư từ liên lạc của tôi chỉ cho thấy một tư tưởng sai lầm rất lớn của nhiều người công giáo về vai trò giáo huấn của đức giáo hoàng và của các giám mục, điều mà có lẽ chúng ta sẽ phải trở lại.

Nói thẳng điều mà anh nêu lên, không có lý do gì mà một tín điều quan trọng của giáo hội bị giữ kín. Mục đích chính của việc công bố một niềm tin nào, dù với tính cách bất khả ngộ hay không là làm cho nó được biết trên toàn thế giới và đặc biệt trên toàn thể tín hữu công giáo.

Trong Tin mừng theo thánh Luca (1,44) chúng ta đọc trước sự hiện diện của Maria, trẻ (Gioan Tẩy giả) trong lowfng của Elisabeth “nhảy mừng”. Căn cứ trên đoạn này, đã từ lâu có một niềm tin đạo đức giữa những tín hữu Ki-tô rằng Gioan Tẩy giả đã nhận được ơn thánh hóa trước khi sinh ra. Tuy nhiên đó không là, và đã không bao giờ là giáo huấn của Hội thánh.

  1. Một nữ giáo hoàng?

Hỏi: Một người bạn của con được giáo dục như một người công giáo nhưng không dự thánh lễ hoặc làm việc gì cho Hội thánh. Anh đã nói với con rằng một phụ nữ thời xưa đã được tuyên bố làm giáo hoàng của Hội thánh. Tên bà là Catarina.

Con biết một người phụ nữ không thể làm linh mục, càng không thể làm giáo hoàng, ít ra là không hợp pháp. Nhưng một phụ nữ có thể được chỉ định làm giáo hoàng cách bất hợp pháp không? Điều ấy có xảy ra không?

Đáp: Huyền thoại của giáo hoàng Gioanna (không phải Catarina) thường xuất hiện đặc biệt trong những miền nào đó chống công giáo. Họ thường nói như đã khám phá được điều gì mới lạ. Có lẽ bạn của anh gặp một trong những trường hợp này.

Câu truyện về giáo hoàng Gioanna là một truyện ngộ nghĩnh xuất hiện lần đầu vào thế kỷ thứ 13, gồm 300 hoặc 400 năm sau khi bà chết, theo giả thuyết. Bà hóa trang, cứ thế câu chuyện tiếp tục, thành công đến nỗi bà trở thành linh mục, hồng y của giáo triều Roma và cuối cùng làm giáo hoàng. Người ta nói bà cai trị trong hai năm rưỡi lấy tên là giáo hoàng Gioan Angelico, trong khoảng giữa những năm 800 và 1100.

Giới tính của bà bị khám phá khi bà sinh một em bé trong một cuộc rước kiệu giáo hoàng gần quảng trường Colosse. “Truyền thuyết này không có cơ sở đáng tin nào nơi các sử gia”.

  1. Có giáo hoàng kết hôn không?

Hỏi: Một cuốn sách mà chúng con đang tranh luận nói tới sự kiện một số giáo hoàng đã kết hôn, nhưng không đi vào chi tiết. Điều này thật không? Chúng ta đã có những giáo hoàng kết hôn không?

Đáp: Đúng thật, chúng ta đã có những giáo hoàng kết hôn, bắt đầu với thánh Phê-rô, dù vậy chúng ta cũng không nghe biết gì về vợ của người sau những qui chiếu về bà nhạc gia của người trong các sách Tin mừng (ví dụ: Mc 1,30).

Cũng thật với một số giáo hoàng khác. Tài liệu ít, bởi vậy chúng ta biết ít về đời sống gia đình của các vị trước hoặc sau khi các vị đã trở nên thủ lãnh của hội thánh. Chúng ta biết được một giáo hoàng kết hôn, thánh Hormidas (514-523), là cha của một giáo hoàng khác, cũng là thánh: thánh Sylverius (536-538).

Theo sự hiểu biết của tôi, giáo hoàng cuối cùng kết hôn là Adriano II (867-872). Ít ra trong một thời gian sau khi được chỉ định làm giáo hoàng, cách công khai, người sống với vợ và gia đình tại đền Laterano, Roma, dù vậy hàng giáo sĩ không kết hôn vào thời ấy còn ít phổ biến trong hội thánh Phương tây.

Có thể đó là một phần đúng của chủ nghĩa “tự do” mà người đã chứng tỏ trong những đường lối khác có ý nghĩa trong triều đại giáo hoàng ngắn ngủi của mình. Ví dụ: chống lại sự phản kháng của những người công giáo muốn giữ lại tiếng Latinh và những tập tục, người chấp thuận bản dịch phụng vụ tiếng Slave mới mà hai thánh Cyrylo và Methodo vừa sáng tác để sử dụng trong một số quốc gia Slave.

  1. Có ngụy giáo hoàng không?

Hỏi: Con đã đọc một bài báo nói đến một người có thể là ngụy giáo hoàng và hàm ý rằng, người này không phải là người đầu tiên trong lịch sử. Thực tế đã có những ngụy giáo hoàng không? Con nghĩ chỉ có thể có một giáo hoàng trong một thời điểm thôi chứ?

Đáp: Đã hơn một lần, nhiều chức sắc chính trị hoặc tôn giáo trong giáo hội không ưa thích người được chọn làm giáo hoàng hoặc có thể nghi vị nầy đã được chọn cách bất hợp pháp – và như thế đã chọn người của mình và gọi là giáo hoàng.

Đó là những vụ thường là phức tạp và khó mà gỡ rối. Trong lúc theo nguyên tắc, chỉ có một giáo hoàng mà thôi. Cách sử gia đôi khi có sự phân loại chặt chẽ theo tính cách của sự cố.

Một ví dụ cổ điển là trong thời căng thẳng cho giáo hội ở thế kỷ thứ ba khi giáo hoàng Calixto và ngụy giáo hoàng Hypolyto rất nổi tiếng đã dùng phần lớn cuộc đời của mình để lên án lẫn nhau. Nhưng cả hai ngày nay đều được tôn kính như tử đạo và thánh. Đã không có ngụy giáo hoàng như thế suốt hơn 500 năm qua.

  1. Tại sao giáo hoàng sống tại Ý

Hỏi: Tại sao Giáo hội công giáo có đức Giáo hoàng sống tại Ý? Chúng ta không thể có một lãnh đạo sống tại Hoa kỳ hoặc Trung quốc sao?

Đáp: Không có gì ngăn trở một người không là người Ý làm giáo hoàng, hoặc không có gì để nói giáo hoàng phải ở Ý. Nhưng bạn phải biết đã có những giáo hoàng của nhiều quốc tịch khác nhau. Và trong thời gian gần 100 năm, các vị giáo hoàng đã sống ở Pháp.

Tuy nhiên vấn đề không phải người là ai hoặc sống ở đâu, Đức Giáo hoàng ở Roma vì người là giám mục của Roma.

Để bàn luận đầy đủ đề tài như thế cần phải viết nhiều cuốn sách. Nói tóm lại, giám mục Roma đã giữ vị trí ưu tiên giữa các giám mục khác trong Hội thánh từ những năm xa xưa nhất, tfw khi đây là nơi thánh Phê-rô (mà ta xem như giáo hoàng đầu tiên), trải qua phần cuối đời và chết nơi đây.

Chúng ta có những bức thư và những chỉ dẫn khác. Ngay cả trước khi vị tông đồ cuối cùng trong số 12 chết, giám mục Roma được nhìn nhận có quyền bính trên tất cả những lãnh thổ khác của Hội thánh. Bức thư có ý nghĩa và nổi tiếng nhất là thư của thánh Clemente, vị giáo hoàng thứ ba sau Phê-rô, gửi cho Hội thánh Corinto, nước Hylap năm 95.

Tuy nhiên những đặc quyền khác về lãnh đạo và giáo huấn mà chúng ta gán cho địa vị đức thánh cha sẽ phát triển trong giáo thuyết công giáo và thực hành trong những thế kỷ sau.

  1. Các giám mục là thần thánh không?

Hỏi: Chồng tôi nói rằng khi các giám mục được thánh hiến, các vị nhận lãnh thiên tính làm cho những ý kiến và quyết định của các ngài cùng một ý với Đức Ki-tô. Điều này có đúng không? Anh ấy cũng nói khi giám mục sau lầm trong những quyết định xét theo con người, người cũng vẫn đúng dưới mắt Thiên Chúa. Các giám mục có tin điều đó không?

Đáp: Không, các giám mục không trở nên thần linh. Thực tế, Thiên Chúa hình như hạnh phúc hơn người nào không là giám mục.

  1. Phải chăng các Ki-tô hữu đã có linh mục từ ban đầu?

Hỏi: Trong một nhóm tranh luận Kinh thánh mới đây, chúng tôi bàn đến chức vụ linh mục. Có người nói cô ấy nghĩ rằng Thánh kinh không nói gì về các linh mục – theo nghĩa như chúng ta hiểu trong hội thánh của chúng ta.

Điều ấy có đúng không? Các Ki-tô hữu không có linh mục từ đầu phải không?

Đáp: Tân ước nói đến ba thừa tác vụ chính trong Hội thánh: các giám mục, phó tế và trưởng lão (đầu mục). Phận vụ chính xác của những thừa tác vụ này đặc biệt của các trưởng lão không hoàn toàn rõ ràng, dù vậy các giám mục rõ ràng có trách nhiệm giám sát chủ yếu.

Tiếng hy lạp chỉ linh mục, “Hiereus” không thấy được dùng trong Tân ước để chỉ phận vụ trong hội thánh. Nó được áp dụng cho chính Đức Giê-su trong thư gởi những tín hữu Do thái. Trong những nơi khác nó qui chiếu về các Ki-tô hữu nói chúng để mô tả đặc tính của họ như dân Thiên Chúa.

Có điều đúng là các trưởng lão đã làm một vài phận vụ của chức linh mục, dẫu rằng sự liên hệ thừa tác vụ của họ với hội thánh thật kém rõ ràng hơn các giám mục và phó tế.

Từ “Hiereus”, linh mục, chỉ được sử dụng  trong Hội thánh Ki-tô khoảng 150 năm sau khi Đức Giê-su tử nạn phục sinh như Bí tích Thánh thể càng ngày càng được nhìn nhận như một tái diễn của hy tế Calvario, cũng tốt lành như một bữa ăn. Trong truyền thống tôn giáo của thời này, một hiến tế phải được hiến dâng bởi một linh mục. Như vậy các Ki-tô hữu bắt đầu qui danh hiệu này cho thừa tác viên của mình, vị chủ sự Thánh lễ.

Bài viết khác