Các hầm mộ (hang toại đạo) ở Roma
Tại Roma, vào thời các Kitô hữu đầu tiên, dân Chúa tụ tập trong độ ẩm mát mẻ của các hầm mộ, nơi chôn cất, tưởng nhớ người chết và, theo truyền thuyết, là nơi ẩn náu của các thánh tử đạo đầu tiên ở Roma, từ thế kỷ II, thời điểm của những công trình kiến trúc cổ nhất. Những cái tên vang vọng trong ký ức chúng ta: Thánh Sebastiano, Thánh Callisto, Priscilla, Domitilla, trong số những khu chôn cất dưới lòng đất nổi tiếng nhất của Roma, thành phố có hơn sáu mươi hầm mộ, trải dài hàng trăm kilomet và chứa hàng nghìn ngôi mộ Kitô giáo cũng như Do Thái và ngoại giáo.
Chúng vừa là nhà xương vừa là những phác thảo khuôn mặt Đấng Hằng Hữu qua những hình ảnh gián tiếp và tượng trưng đầu tiên về Chúa Kitô trong thời kỳ bách hại của Roma: con cá, bánh mì, mục tử nhân từ, chim bồ câu với cành ô liu, cho đến những bức bích họa rõ ràng về Cựu Ước và Tân Ước từ khi chiếu chỉ của Constantino I ban cho các Kitô hữu tự do vào năm 313.
Giữa lịch sử và truyền thuyết, giữa hành hương và du lịch, các hầm mộ hé lộ một bài ca của bóng tối không để ai thờ ơ.
TỪ LỊCH SỬ ĐẾN TRUYỀN THUYẾT
Từ tiếng Latin catacumbae, có nghĩa là "nơi chôn cất dưới lòng đất", lần đầu tiên được gán cho hầm mộ Thánh Sebastiano nằm trên một mỏ đá dọc đường via Appia, theo tục lệ Roma chôn người chết bên ngoài thành phố. Sau đó, từ này được gán cho các nghĩa trang khác. Vì các Kitô hữu muốn thấy người chết của họ được chôn cất gần các thánh tử đạo - số lượng nhiều từ cuộc bách hại thế kỷ II cho đến Constantino I -, họ có thói quen đến cầu nguyện trong các hầm mộ dưới ánh sáng đèn trong bóng tối của các lỗ thông hơi. Kiến trúc phức tạp của chúng tập hợp, xung quanh những hành lang hẹp, các hầm mộ của những tử đạo nổi tiếng như mười sáu giáo hoàng ở Thánh Callisto (được coi là nghĩa trang đầu tiên của Giáo Hội); các phòng mai táng có nhiều hốc nơi an nghỉ người chết; và đôi khi có những bàn thờ nhỏ. Chính phong trào lãng mạn và những sử thi Kitô giáo vĩ đại của thế kỷ XIX, như Quo vadis? hay Les Martyrs của François-René de Chateaubriand, đã phổ biến hình ảnh hiện nay bị tranh cãi về các cuộc họp bí mật trong hầm mộ của các Kitô hữu trốn tránh kẻ bách hại.
GIỮA HÀNH HƯƠNG VÀ DU LỊCH, BÀI CA CỦA BÓNG TỐI
Ngày nay, mọi chuyến đi, mọi cuộc hành hương đến thành phố vĩnh cửu đều bao gồm việc thăm các hầm mộ. Nếu đối với một số người niềm vui là về lịch sử, kiến trúc hay văn học, thì đối với những người khác, nó mang tính tâm linh vô hạn, cho phép chạm đến nguồn gốc của Kitô giáo giữa những tử đạo nổi tiếng hoặc vô danh đầu tiên, trải nghiệm này không để ai nguyên vẹn như cũ, vì thế giới của đêm tối này hé lộ bí ẩn về mối quan hệ của con người với sự siêu việt qua cái chết. Một số tên tuổi quen thuộc với chúng ta, như thánh Cecilia, người đã biết giữ gìn đồng trinh trong hôn nhân và cải đạo chồng mình sang Kitô giáo. Bà là bản mệnh các nhạc sĩ và thi sĩ, vì bà không ngừng ca ngợi vinh quang Thiên Chúa cho đến khi bị hành quyết bằng cách chặt đầu. Tất cả những tiếng nói và lời cầu nguyện của quá khứ như vậy vọng lên từ lòng đất, như lời cầu nguyện đầy cảm động của Ignacio xứ Antioch, người trên đường đến nơi hành quyết tại Roma, vào thế kỷ II, đã kêu lên trong Thư gửi các Giáo Hội: "Tôi là lúa mì của Thiên Chúa, và tôi bị xay bởi nanh răng của các thú dữ." (Pierre-Thomas Camelot, Paris, Cerf, coll. "Sources Chrétiennes" 10 bis, 1975, tr. 47.)
Nathalie Nabert, giáo dân và mẹ gia đình, là nhà thơ, viện trưởng danh dự khoa văn chương Viện Công giáo Paris, giáo sư văn học trung cổ, người sáng lập CRESC, "Trung tâm nghiên cứu và học tập tâm linh Carthusian",
và bộ sách "Tâm linh Carthusian" tại nhà xuất bản Beauchesne.



