Chủ Nhật, 18 Tháng Mười, 2026

Các Thừa sai HIẾN SĨ bên bờ sông MÊ KÔNG

Các Thừa sai HIẾN SĨ bên bờ sông MÊ KÔNG
 
Hạt Truyền giáo Bắc Lào, được trao cho Dòng Thừa Sai Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm từ năm 1935 đến năm 1975, đã trải qua một lịch sử đầy biến động, giống như chính đất nước này. Thật vậy, nước Lào bước vào chiến tranh từ đầu Thế Chiến thứ hai, và chỉ thoát ra, mà thoát ra trong hoàn cảnh nào, vào năm 1975. Chiến tranh với Nhật, chiến tranh Đông Dương với Pháp, rồi với Mỹ: suốt gần bốn mươi năm, cả nước chìm trong những cuộc tranh giành khốc liệt giữa các phe phái, càng thêm nặng nề vì sức ép không thể kiểm soát của địa chính trị thế giới.
 
Đất nước
Một đất nước không có đường ra biển, bị kẹp giữa Trung Hoa ở phía bắc, Việt Nam ở phía đông, Cam-pu-chia ở phía nam và vương quốc Xiêm ở phía tây. Vào cuối thế kỷ trước, Lào chỉ nhờ chế độ bảo hộ của Pháp mới không rơi vào gót giày của những người láng giềng đầy tham vọng ở phía đông và phía tây. Nghịch lý thay, Thế Chiến thứ hai sẽ trả lại cho Lào, cùng với một sự thống nhất khá giả tạo, một nền độc lập mà Lào sẽ vất vả lắm mới sử dụng được, để rồi cuối cùng rơi vào ách của chủ nghĩa cộng sản toàn thắng năm 1975.

Lào là một bức khảm gồm nhiều dân tộc, trong đó người Lào chiếm ưu thế. Dân số, vào giữa thế kỷ, chưa tới ba triệu người, hoàn toàn thiếu sự thống nhất, dù là về sắc tộc, chính trị, văn hóa hay tôn giáo. Mối dây nối kết chính giữa các tỉnh miền Bắc và miền Nam, cách nhau hơn một nghìn cây số, là sông Mê Kông. Người Lào định cư dọc hai bờ dòng sông hùng vĩ này và trong các thung lũng thấp của những phụ lưu của nó. Người nông dân Lào dựng nhà sàn ở đó và trồng lúa nếp trong những ruộng ngập nước. Cũng dọc theo dòng sông mà các thành phố quan trọng nhất được hình thành: từ bắc xuống nam là Luang Prabang, kinh đô hoàng gia, nơi lưu giữ tượng Phật nhỏ Prabang, bảo vật hộ quốc của Vương quốc; Viêng Chăn, thành phố chính và thủ đô hành chính; xa hơn về phía nam là Savannakhet và Pakse. Trên vùng núi miền Bắc và các cao nguyên miền Nam là các dân tộc bản địa, hoặc, nhất là ở miền Bắc, nhiều bộ tộc khác nhau có nguồn gốc Hán-Tạng. Các bộ tộc này tiến dần xuống phía nam theo nhịp phá rừng để làm nương rẫy theo lối đốt nương truyền thống: lúa, bắp, và nguồn thu nhập chính là cây thuốc phiện. Mỗi dân tộc có ngôn ngữ riêng; chỉ một số ít đàn ông biết đủ tiếng Lào để buôn bán và giao thiệp, vốn khá lỏng lẻo, với chính quyền.
 

Bản đồ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào với các tỉnh.
 
Về mặt tôn giáo, trong khi người Lào theo Phật giáo và xã hội làng xã xưa được xây dựng quanh ngôi chùa và cộng đoàn các nhà sư, thì các dân tộc miền núi vẫn gắn bó với tín ngưỡng truyền thống của mình và không dễ chấp nhận việc dựng chùa trong làng. Dù tôn giáo của người Lào vẫn còn thấm đậm những tín ngưỡng và tập tục cổ xưa mà Phật giáo đã khéo léo không phá bỏ, thì Phật giáo vẫn là quốc giáo, ít nhất cho đến khi chế độ quân chủ sụp đổ. Khẩu hiệu, được nhắc đi nhắc lại ở trường học cũng như trong các bài diễn văn chính trị, khẳng định: "một dân tộc, một tôn giáo, một vị Vua".

Nước Lào Kitô giáo
Việc rao giảng Tin Mừng muộn màng được giải thích vừa bởi vị trí xa xôi của đất nước, khó tiếp cận, bởi điều kiện khí hậu và văn hóa, vừa bởi lịch sử chung của công cuộc truyền giáo. Đã có những cố gắng thâm nhập từ thế kỷ XVII: từ Xiêm, vào thời mà cả hai bờ sông Mê Kông còn thuộc về Lào; từ Cam-pu-chia bằng cách ngược dòng sông; hoặc từ Bắc Kỳ. Một trong những cố gắng ấy đã cho phép một linh mục Dòng Tên người Ý, Cha de Leria, lưu lại Viêng Chăn năm năm, từ 1642 đến 1647, dưới triều vua Soulignavongsa, vị "Vua Mặt Trời" của Lào, nhưng không thành công. Các linh mục Hội Thừa Sai Paris, đến Xiêm từ năm 1662, cũng đã gửi các thừa sai đến đất nước này, vốn thuộc quyền tài phán của các ngài; cũng thất bại. Rồi đến việc giải tán Dòng Tên, và những năm đen tối đối với công cuộc truyền giáo của cuộc Cách mạng Pháp.

Phải đợi đến làn sóng truyền giáo lớn của nửa sau thế kỷ XIX, một nỗ lực rao giảng Tin Mừng nghiêm túc mới có thể được tái khởi động. Mà cũng phải sau năm 1880, các thừa sai mới đặt chân được vào đất nước này: xuất phát từ Băng Cốc và đến được sông Mê Kông, các linh mục Hội Thừa Sai Paris đã thành lập Hạt Truyền giáo Lào, bao gồm các vùng đất giáp hai bờ sông. Ở phía đông bắc, vùng Thượng Lào hay Chao-Lào được tiếp cận từ Việt Nam, và hạt truyền giáo này vẫn trực thuộc Hạt Đại diện Tông tòa Thanh Hóa cho đến năm 1958. Việc truyền giáo tiến triển chậm chạp; miền Bắc đất nước chỉ thỉnh thoảng mới được thừa sai đến thăm.
Chính để khắc phục tình trạng ấy mà các linh mục Hội Thừa Sai Paris đã xin một Hội dòng khác đảm nhận một vùng lãnh thổ tách ra từ Hạt Truyền giáo Lào, bao gồm toàn bộ miền Bắc đất nước. Nhiều Hội dòng đã từ chối, và cuối cùng chính các Hiến sĩ đã nhận lời vào năm 1933. Cũng cần lưu ý rằng đây là hạt truyền giáo đầu tiên của Hội dòng tại một nước thuộc quyền cai trị thực dân Pháp.
 

Các thừa sai Hiến sĩ đầu tiên và dân địa phương trong cuộc rước Thánh Thể.

Các Hiến sĩ tại Lào
Tháng Giêng năm 1935, nhóm Hiến sĩ đầu tiên đến Lào; gồm ba linh mục: Bề trên Jean Mazoyer, một cựu thừa sai với hai mươi năm truyền giáo tại Tích Lan, và hai linh mục trẻ: Étienne Loosdregt, người Pháp, và Jean-Paul Brouillette, người Ca-na-đa. Người ta kể rằng trong một chuyến đi thăm dò trước đó một năm, Cha Mazoyer đã khóc khi khám phá những khó khăn đang chờ đợi người thừa sai ở đất nước này... và ngài không thể đoán trước những gì mà hoàn cảnh chiến tranh và sự độc ác của con người còn thêm vào những trở ngại tự nhiên ấy!

Trên vùng lãnh thổ mở ra cho hoạt động tông đồ của các ngài, chỉ mới có hai khu vực được thiết lập khá vững chắc: khu vực nông thôn Paksane, trong đó có làng Ban-Keng-Sadok bên bờ sông Mê Kông, là cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên của Bắc Lào; và cộng đoàn Kitô hữu thành thị Viêng Chăn, hầu như hoàn toàn gồm người Việt, mà thời ấy người ta gọi là người An Nam. Vậy phải lập tức bắt tay vào việc học các ngôn ngữ.
May mắn thay, nhóm thừa sai nhanh chóng được tăng cường: một linh mục giáo phận, Cha Thomas Nantha, được thụ phong ngay từ năm 1935; các thừa sai từ Pháp, Ca-na-đa và Bỉ lần lượt đến. Năm 1938, Hạt Truyền giáo đã phát triển đủ để được nâng lên thành Phủ doãn Tông tòa, đơn vị giáo hội đầu tiên hoàn toàn thuộc Lào. Đức ông Mazoyer làm Phủ doãn; từ nay ngài có 14 linh mục, trong đó 13 là Hiến sĩ, và một thầy, Thầy Paul Mary, đến năm 1937. Nỗ lực đáng kể của Hội dòng không chỉ giúp giữ được các điểm truyền giáo đã có, mà nhất là mở thêm những điểm khác với thừa sai thường trú, đặc biệt tại Luang Prabang và Xiêng Khoảng. Hơn nữa, các linh mục còn dấn thân vào vùng rừng núi, nơi có những tiếp xúc đầy hứa hẹn, như tại Phak-Beuak, cách Paksane ba ngày đi thuyền và đường mòn, và tại Nong-Het, phía đông Xiêng Khoảng.
 

Một ngôi làng điển hình trong rừng.

Hậu quả của chiến tranh
Tất cả đà phát triển ấy bị chặn đứng khi chiến tranh bùng nổ. Chiến tranh làm rối loạn Hạt Truyền giáo và khiến hạt không nhận được thêm nhân sự nào cho đến năm 1947, trong khi việc cắt đứt mọi liên lạc với châu Âu gây ra những khó khăn tài chính nghiêm trọng. Ngay khi chiến tranh bắt đầu, nhiều linh mục người Pháp bị động viên. Cuộc chiến với Xiêm năm 1940 không gây hậu quả bi thảm như tại Hạt Truyền giáo miền Nam, nằm trên cả hai bờ sông Mê Kông: tháng 12 năm 1940, cuộc bách hại bên bờ phía Xiêm đã dẫn bảy vị Chân phước Song-Khone đến cái chết tử đạo. Tại chính nước Lào, sự chiếm đóng của Nhật hạn chế rất nhiều việc đi lại và hoạt động của các thừa sai. Từ năm 1943, hai linh mục Ca-na-đa bị quản thúc tại Việt Nam, một sự quản thúc nhẹ nhàng trong một tu viện của các cha Dòng Chúa Cứu Thế ở Huế, nhưng điều đó cũng làm giảm bớt nhân sự hoạt động của Hạt Truyền giáo. Dù vậy, vào thời điểm này, chính quyền Pháp, trên danh nghĩa trực thuộc chính phủ Vichy, vốn lệ thuộc phe Trục, vẫn còn bảo vệ được phần nào các công dân Pháp.

Người Nhật
Mọi sự thay đổi từ ngày 9 tháng 3 năm 1945, khi cuộc đảo chính của Nhật cho phép quân đội Nhật nắm toàn quyền. Hậu quả là tất cả các thừa sai người Pháp bị bắt, trừ những vị đã kịp trốn vào rừng. Đức ông Mazoyer, lúc ấy đang ở Xiêng Khoảng, bị giải đến nhà tù ở Vinh cùng với các linh mục trong khu vực. Những vị khác bị quản thúc tại Viêng Chăn. Nhân sự của Hạt Truyền giáo khi ấy chỉ còn lại hai linh mục người Lào, vì Cha Vien, em của Cha Nantha, đã được thụ phong năm 1943. Một lần nữa, Hạt Truyền giáo của các Hiến sĩ bị ảnh hưởng ít hơn Hạt miền Nam, nơi hai giám mục người Pháp, vị Đại diện Tông tòa và vị tiền nhiệm, cùng hai linh mục đã bị quân Nhật sát hại (tháng 3 đến tháng 8 năm 1945).
Giai đoạn hỗn loạn này kéo dài cả sau khi Nhật đầu hàng (15 tháng 8 năm 1945), vì Việt Minh cộng sản đã nhân cơ hội tuyên bố độc lập cho Việt Nam, và chẳng bao lâu được bắt chước bởi bản sao nhạt nhòa của họ bên Lào, bắt đầu được biết đến dưới tên "Pathet Lào" (= "Đất nước Lào") hay "Lào Issara" (= "Lào tự do"). Rồi đến cuộc tái chiếm chậm chạp đất nước của quân đội Pháp ngược theo thung lũng sông Mê Kông. Tình hình rất rối ren, với sự chiếm đóng của quân Trung Hoa tại các tỉnh miền Bắc, và phải lâu mới trở lại bình thường. Vị Phủ doãn Tông tòa chỉ trở về sau nhiều tháng, trong khi các thừa sai ở lại trong nước phải chịu đủ mọi gian truân, ngay cả sau khi được thả khỏi nhà tù Nhật. Một số vị phải sang Thái Lan (tên mới của Xiêm từ năm 1939); một linh mục ở Paksane phải đối diện với lời buộc tội phản quốc hoàn toàn bịa đặt và có nguy cơ bị đưa ra tòa án quân sự Pháp; từ Luang Prabang, Cha Georges Kolbach đi bộ đến Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam của Trung Hoa. Ngài mang về từ chuyến đi ấy những thương tật khiến ngài phải xa Lào hơn mười năm và bị tàn tật nặng suốt quãng đời còn lại.

Chiến tranh với Pháp
Ít ra thì chiến tranh, cuối cùng đã chấm dứt ở châu Âu, có vẻ cũng sắp kết thúc ở châu Á, và những nhân sự truyền giáo mới sẽ có thể đem lại sức sống cho một Hạt Truyền giáo non trẻ bị những biến động của chính trị quốc tế giáng xuống quá sớm. Nhưng đó chỉ là vẻ bề ngoài, vì ngay từ năm 1946, dù đã có những hiệp định được ký kết giữa Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản Việt Nam, và chính phủ Pháp, một giai đoạn hỗn loạn mới lại mở ra, mà lịch sử gọi là chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất hay chiến tranh với Pháp. Tuy vậy, Hạt Truyền giáo lại khởi sắc với một đà mới, nhờ sự đến của mười lăm Hiến sĩ, trong đó có một thầy, từ năm 1947 đến 1952. Những bước phát triển đáng kể nhất liên quan đến Tiểu Chủng viện Paksane, được mở ngay từ năm 1942, giữa thời chiến, dưới tên "Học viện De Mazenod". Chỉ là một mái tranh đơn sơ để che chở các chủng sinh, trong khi các linh mục tạm trú bằng cách nào đó trong ngôi nhà truyền giáo cũ; chủng viện còn phải cầm cự thêm vài năm trước khi nhường chỗ cho một công trình kiên cố từ năm 1956. Những bước phát triển ấy cũng liên quan đến những khởi đầu khó khăn, nhưng hứa hẹn một sự phát triển chắc chắn, của công cuộc truyền giáo giữa các dân tộc thiểu số: trước hết là với người H'Mông, với Cha Yves Bertrais, nhất là trong khu vực Luang Prabang; rồi với người Khơ Mú, những người nghèo nhất trong số người nghèo, ở rìa Cánh Đồng Chum (Xiêng Khoảng), với các Cha Louis Morin, rồi Jean Subra.

Với những tiến bộ của Hạt Truyền giáo trong những năm ấy, không có gì ngạc nhiên khi chẳng bao lâu người ta bàn đến việc thành lập một Hạt Đại diện Tông tòa: điều này được thực hiện vào tháng 3 năm 1952. Vị tiên phong, Đức ông Jean Mazoyer, đã 70 tuổi, rút lui, và Cha Étienne Loosdregt được bổ nhiệm làm giám mục đầu tiên tại Lào. Khẩu hiệu được vị tân giám mục chọn diễn tả vừa một xác tín sâu xa vừa một ước nguyện: xác tín là niềm tin chắc chắn rằng hòa bình thật chỉ có thể đến từ Thiên Chúa, và ước nguyện là hòa bình ấy cuối cùng sẽ đến trên một đất nước chưa hưởng được một ngày bình yên nào từ 13 năm nay. Đó là ý nghĩa của câu: "Pax a Deo" (Bình an từ Thiên Chúa). Ước nguyện ấy, dưới hình thức một lời cầu nguyện, có được nhậm lời chăng? Tình hình có vẻ ngày càng bấp bênh khi những cuộc tấn công sâu của cộng sản từ Bắc Việt Nam đe dọa Luang Prabang, rồi Xiêng Khoảng. Tuy nhiên, chiến thắng không thể chối cãi tại Điện Biên Phủ sẽ chấm dứt cuộc chiến thứ nhất này; ít nhất đó là một khoảng trời quang mà các hiệp định Genève (tháng 7 năm 1954) giữa Pháp và Việt Minh cho phép thấp thoáng nhìn thấy.

Cả các Hiến sĩ người Ý
Rồi đến những năm có thể xem là đẹp nhất của Hạt Truyền giáo Hiến sĩ tại Lào. Hạt Đại diện Tông tòa được mở rộng thêm tỉnh Sầm Nưa ở biên giới Việt Nam, sau khi những người cộng sản trao trả tỉnh này cho cộng đồng quốc gia; chủng viện cho ra những hoa trái đầu mùa với việc truyền chức cho hai linh mục đầu tiên được đào tạo tại chỗ, vào tháng 12 năm 1958. Một thử nghiệm đại chủng viện, có lẽ còn quá sớm, đáng tiếc đã không thành, và các đại chủng sinh sẽ tiếp tục việc đào tạo tại Việt Nam hoặc châu Âu. Một khu vực truyền giáo mới được thiết lập tại Nam-Tha, giáp biên giới Trung Hoa. Chính để đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng mà Dòng Hiến Sĩ quyết định gửi các thừa sai người Ý đến Lào. Nguồn lực mới dồi dào này, từ tháng 11 năm 1957, cho phép một sự phát triển nhanh chóng ở phần phía bắc của Hạt Truyền giáo, được thể hiện rõ qua việc thành lập năm 1963 Hạt Đại diện Tông tòa Luang Prabang, mà Đức cha Leonello Berti là giám mục đầu tiên. Tuy nhiên, vào thời điểm ấy, Giáo hội tại Lào đã trải qua những thời kỳ bi thảm, mà ở đây cần tóm lược nguồn gốc.

Phong trào cộng sản tại Lào
Dù gắn bó chặt chẽ với phong trào Việt Nam, mà ngay từ đầu nó đã dựa vào, phong trào cộng sản Lào có một lịch sử hoàn toàn khác. Tại Việt Nam, đó là một phong trào cứng rắn, từ chối mọi thỏa hiệp, được tổ chức chặt chẽ quanh một đảng công khai xác nhận lập trường của mình, mà người lãnh đạo ai cũng biết. Căn cứ lãnh thổ của nó được xác định rõ, vì đó là một Nhà nước được quốc tế công nhận, không hề che giấu mục tiêu tối hậu: thống nhất cả nước dưới quyền lãnh đạo duy nhất của mình. Không có gì như thế ở phía Lào: ở đây mọi sự đều mù mờ, ít nhất là bề ngoài. Người ta tiến lên dưới mặt nạ: phong trào không nói ra tên thật của mình, các lãnh tụ thật không được biết đến. Chữ "cộng sản" không bao giờ xuất hiện: nếu cái tên cũ "Lào Issara" còn được nghe đôi chút, như trong buổi đầu của phong trào, thì cái tên chiếm ưu thế là tên của tấm bình phong chính trị, "Neo Lao Hak Sat" hay "Mặt trận Lào Yêu nước", phục vụ cho một đảng hoàn toàn bí mật, chỉ xuất hiện công khai khi việc nắm quyền đã hoàn toàn chắc chắn.
 

Nhà ở của người Lào trên vùng núi.

Cánh vũ trang thường được gọi là "Pathet Lào", nhưng nhiều người thích gọi là "Lào-Việt" để nhấn mạnh rằng các đội quân này hoạt động phối hợp với người Việt, hoặc thậm chí dưới quyền chỉ huy của họ. Chính họ tự giới thiệu là "Anh em" ("Ai Nong"), nhất là khi họ đột nhập vào các làng để tuyên truyền hay thu lương thực. Mặt khác, các nhịp cầu không bao giờ bị cắt đứt với chính phủ chính thức đoàn kết dân tộc được thành lập năm 1962: dù ngay từ năm sau, các bộ trưởng của Mặt trận đã quay lại con đường ly khai, người ta vẫn duy trì cái vỏ đoàn kết dân tộc và không bổ nhiệm ai vào những chức vụ mà các bộ trưởng ấy để trống.
Một dấu hiệu tượng trưng cho tình trạng nghịch lý này là quân Pathet Lào thường trực duy trì tại Viêng Chăn, trụ sở của chính phủ mà họ đang chiến đấu chống lại trong rừng, một đơn vị không bao giờ bị quấy nhiễu, ngay cả trong những cuộc đảo chính định kỳ làm rung chuyển các phe cánh hữu. Và chính phủ đoàn kết dân tộc ấy được mọi nước công nhận, đến nỗi tại Viêng Chăn người ta gặp các đại sứ của cả hai phe: đại sứ Hoa Kỳ, người có vẻ hành xử như một vị thống đốc thực thụ, và đại sứ Nam Việt Nam, cũng như các đại sứ Bắc Việt Nam, Trung Hoa và Liên Xô. Ai nấy dường như đều thấy thoải mái và rút ra được lợi ích nào đó: người ta nói rằng chính tại Viêng Chăn đã diễn ra những cuộc trao đổi sơ bộ mở đường cho Hội nghị Paris về Việt Nam.

Nhưng đồng thời, và từ rất sớm, ngay từ năm 1959, áp lực quân sự không ngừng gia tăng, và vùng do quân Pathet Lào kiểm soát không ngừng mở rộng, trong khi vùng mà chính quyền trung ương thực sự cai quản cứ thu hẹp lại như miếng da lừa. Tuy nhiên, rất khó vạch một ranh giới phân chia. Chính tại Lào, ít nhất cũng như tại Nam Việt Nam, mà cách nói "da báo" thịnh hành thời ấy là thích hợp.

Thái độ của dân chúng trước phong trào cộng sản
Không nên quên rằng vào cuối thập niên 50, chúng ta đang ở trong một nước nghèo, thiếu đường giao thông, trước cuộc cách mạng thực sự là sự xuất hiện của máy thu thanh bán dẫn, mà tuyên truyền cộng sản sẽ biết tận dụng tối đa. Ngoài một bộ phận nhỏ dân thành thị, chủ yếu là sinh viên, người dân Lào, căn bản là nông dân, rất ít quan tâm chính trị. Họ chỉ khao khát một điều: được yên ổn. Thế mà du kích chiến lại đem đến hoàn toàn ngược lại: con trai bị bắt đi lính, đường sá và đường mòn mất an ninh, cả làng phải bỏ đi. Người Lào không có chút thiện cảm nào với người Việt và hoàn toàn không mong muốn một chế độ cứng rắn như chế độ Hà Nội. Họ thừa nhận rằng không phải mọi điều trong tuyên truyền đều sai, vì tuyên truyền dễ dàng tấn công sự tham nhũng của chính phủ và của các phe cánh hữu nói chung; và khi một nhóm "Pathet Lào" xông vào một làng, nông dân dù muốn hay không cũng phải nộp gạo và gà. Nhưng rốt cuộc, vốn là những người Lào khá lạc quan bẩm sinh, họ hy vọng rằng một ngày nào đó mọi sự sẽ ổn thỏa nhờ một sự thỏa thuận giữa hai hoàng thân anh em cùng cha khác mẹ: Hoàng thân Souvanna Phouma, vị Thủ tướng không ai thay thế được, và Hoàng thân Souphanouvong, được coi là một trong những lãnh tụ của phe đối lập.

Nỗi lo sợ của các Kitô hữu
Các Kitô hữu, dù chia sẻ cả những lo âu lẫn những hy vọng của đồng bào mình, vẫn có những lý do để mang những nỗi lo sợ riêng: họ biết điều đã xảy ra tại Trung Hoa khi chế độ cộng sản được thiết lập. Tất cả các thừa sai ngoại quốc đã phải rời khỏi đất nước, và rất nhanh, thậm chí không đợi đến cuộc đại cách mạng văn hóa, một cuộc bách hại thực sự đã được thực hiện. Họ cũng biết cuộc di cư của hàng trăm nghìn người Công giáo Việt Nam đã chạy khỏi chế độ miền Bắc năm 1954 để bảo vệ đức tin của mình. Chính họ hẳn không thể trốn thoát theo cách ấy.
 

Người Công giáo H'Mông.

Một cách khách quan, những lý do để lo sợ là hoàn toàn có thật, vì người ta biết rõ những người cộng sản nghĩ gì về tôn giáo nói chung và về Công giáo nói riêng. Dù trong các buổi tuyên truyền, họ tuyên bố tôn trọng niềm tin của dân chúng, họ vẫn không ngừng tấn công những niềm tin mà họ gọi là mê tín, mà thực ra là muốn bao trùm mọi điều không nằm đúng đường lối của chủ nghĩa Mác-Lênin được tuyên bố là khoa học. Một cách tấn công dễ dàng khác là nhắm vào tôn giáo của người ngoại quốc, hơn nữa lại là thực dân: ngoài ra, theo Công giáo thì còn có "trái tim Lào" nữa không?
 

Trường học ở đâu trên thế giới cũng vẫn thế.

Thế nhưng, linh mục Công giáo đầu tiên bị những người cộng sản giết tại Lào lại chính là một người Lào đích thực, thuộc dân tộc Thái Đỏ: ngày 2 tháng 6 năm 1954, vài tuần sau trận Điện Biên Phủ, Cha Joseph Tiên, linh mục giáo phận duy nhất quê ở Sầm Nưa, bị bắt, bị bỏ vào bao và bị đánh bằng gậy cho đến chết. Trong bốn năm trước khi tỉnh này tạm thời trở về với cộng đồng quốc gia, các Kitô hữu vẫn có thể tiếp tục sống theo đức tin của mình, nhưng chính quyền cộng sản cấm họ mọi cuộc tụ họp tại nhà thờ. Đó có phải là bách hại hay không? Ít nhất đó cũng là sự nếm trước điều có thể đe dọa toàn thể cộng đồng Công giáo.
Người ta cũng sẽ tự hỏi thái độ của các thừa sai trong hoàn cảnh ấy ra sao. Không quá lời khi nói đến một sự hăng say thực sự trong những năm 1954-1959, sự hăng say của tuổi trẻ: nhân sự còn trẻ, vị niên trưởng là vị Đại diện Tông tòa chưa đến năm mươi tuổi, mỗi năm lại có thêm thừa sai mới đến, Hạt Truyền giáo đang phát triển. Người ta còn muốn tin vào một nền hòa bình lâu dài, chắc chắn sẽ thuận lợi cho công cuộc rao giảng Tin Mừng.

Khởi đầu những ngày khó khăn
Những đám mây đầu tiên xuất hiện vào những tháng hè năm 1959, khi một tiểu đoàn "Pathet Lào", đã được sáp nhập vào quân đội chính quy theo các hiệp định đã ký, ly khai. Những cuộc giao tranh lẻ tẻ lại nổ ra tại Sầm Nưa, nơi Hạt Truyền giáo mới đặt chân trở lại chưa đầy một năm. Khi ấy người ta biết rằng những ngày khó khăn đang chờ đợi các thừa sai, nhưng chẳng phải đó đã là phần số của họ ngay từ đầu hay sao? Vả lại, không hề hoảng loạn; người ta hiểu rằng từ nay điều chính yếu là chuẩn bị cho các cộng đoàn Kitô hữu sống đức tin trong sự trung thành với bí tích Rửa Tội, ngay cả khi không có sự nâng đỡ của linh mục, và trọng tâm được đặt vào việc đào tạo các giáo lý viên.
Vào thời ấy, chỉ thị của Rôma là trong trường hợp những người cộng sản nắm quyền, người thừa sai phải ở lại tại chỗ, giữa dân của mình. Điều này không được bàn cãi: nhưng người ta có lường trước những hậu quả có thể xảy ra không? Không ai nói đến tử đạo, một chữ lớn lao mà dường như chỉ có thể dùng "sau khi sự việc đã xảy ra"; nhưng mỗi người trung thành chu toàn nhiệm vụ của mình, chấp nhận, trong hoàn cảnh ấy, khả năng bị bắt, rồi bị tù, hoặc còn tệ hơn. Chính khi ghi nhớ điều này mà người ta sẽ hiểu rõ hơn điều đã xảy ra cho những thừa sai thực sự đã phải hiến dâng mạng sống vì Tin Mừng.

Các Hiến sĩ
Ở đây chúng tôi chỉ xét đến trường hợp các Hiến sĩ hoặc một số người cộng tác gần gũi với họ, dù biết rõ rằng những người khác tại Lào cũng đã làm chứng bằng máu như thế. Có sáu vị; đây là tên và tuổi của các ngài lúc qua đời:
• Cha Mario BORZAGA, OMI (28 tuổi)
• Cha Louis LEROY, OMI (38 tuổi)
• Cha Michel COQUELET, OMI (30 tuổi)
• Cha Vincent L'HÉNORET, OMI (40 tuổi)
• Cha Jean WAUTHIER, OMI (40 tuổi)
• Cha Joseph BOISSEL, OMI (60 tuổi)
Không vị nào, ngoại trừ Cha Mario Borzaga, để lại nhật ký riêng; tuy nhiên, vài dòng trong "sổ biên niên" của một điểm truyền giáo, hay những ghi chú ngắn ngủi mà chẳng hạn Cha Jean Wauthier viết vội vào sổ tay, cũng đủ nói lên sự tận tụy của những con người này đối với dân chúng và công việc.

Cha Mario Borzaga, OMI (1932-1960)
Vậy Mario là người trẻ nhất trong sáu vị: sinh tại Trento, trước hết ngài vào chủng viện của thành phố quê hương. Chính tại đó ơn gọi truyền giáo của ngài chín muồi, và như chính ngài viết trong nhật ký, ý nghĩ về tử đạo không vắng bóng. Dòng Hiến Sĩ, đã đón nhận ngài năm 1952, hoàn toàn nhìn nhận ơn gọi này, vì sau khi ngài thụ phong linh mục vào cuối thời gian học tập, đáp ứng ước nguyện của ngài, Hội dòng đã gửi ngài sang Lào cùng với nhóm Hiến sĩ người Ý đầu tiên được dành cho hạt truyền giáo này. Ngài đến nơi vào tháng 11 năm 1957 và dành năm đầu tiên học ngôn ngữ và tập sự đời sống truyền giáo tại Paksane. Tháng 11 năm 1958, ngài đến với các anh em đã làm việc tại khu vực Luang Prabang và nhanh chóng được bổ nhiệm đến điểm truyền giáo Kiu-Kacham.
 

Cha Mario Borzaga, OMI (1932-1960), trung thành với cuốn nhật ký của mình tại Lào.

Mario là một tu sĩ khá nghiêm khắc, và nhất là một thừa sai đầy nhiệt huyết: ngài đã chứng tỏ điều đó ngay từ những tháng đầu tiên ở đất nước này, qua sự hăng say học ngôn ngữ, tìm cách tiếp xúc với dân chúng càng sớm càng tốt, khao khát trao cho họ Lời Chúa ngay khi vừa có khả năng. Ngài còn chứng tỏ điều đó rõ hơn nữa tại điểm truyền giáo mới.
 

Nông dân tụ họp để ép mía.

Người H'Mông
Kiu-Kacham là một làng H'Mông nhỏ, nơi tám năm trước, Cha Yves Bertrais đã khai mở công cuộc truyền giáo giữa người H'Mông. Nền móng đã được đặt vững chắc; còn phải xây dựng và phát triển cộng đoàn. Mario, người đảm nhận hoàn toàn cộng đoàn này trong năm 1959, sau khi người anh em người Pháp đã giúp đỡ ngài trong những tháng đầu khi ngài học ngôn ngữ ra đi, đã đảm đương nhiệm vụ ấy với tất cả tấm lòng. Dạy giáo lý, tập cho người ta cầu nguyện, thăm viếng các gia đình, đón tiếp các bệnh nhân hằng ngày chen chúc trước cửa nhà truyền giáo, nơi có một trạm xá nhỏ: ở đây cũng như tại phần lớn các điểm truyền giáo, Mario dành thời gian và sức lực cho những việc ấy. Ngài cũng muốn đi xa hơn, đến với những người mà Tin Mừng chưa đến được. Nhưng nếu an ninh trong làng được bảo đảm tương đối, thì không phải vậy khi người ta rời xa con đường Astrid, con đường xuất phát từ Luang Prabang, cách đó khoảng tám mươi cây số, rồi chia nhánh về phía đông để đi Hà Nội và về phía nam để đi Viêng Chăn. Các toán "Pathet Lào" đã xâm nhập vào vùng này và đi lại ở đó mà không bị quấy nhiễu.

Một số người H'Mông ở một làng phía nam con đường đã nhiều lần đến xin Cha đến thăm họ, vì họ quan tâm đến tôn giáo, và chắc chắn cũng vì triển vọng được chữa bệnh. Cho đến lúc ấy, Mario chưa thể đáp ứng lời mời của họ, vì quá bận công việc tại chỗ và không muốn để một mình trong làng người anh em Hiến sĩ mới đến đó vài tháng để học ngôn ngữ. Ngày Chúa nhật 24 tháng 4 năm 1960, sau thánh lễ, trong khi Mario đang bận chữa bệnh tại trạm xá, một nhóm nhỏ người H'Mông đến: một lần nữa họ xin Cha đến làng họ. Lần này, Mario thấy đây là một cơ hội tốt cần nắm lấy, vì trong làng có hai linh mục đến nghỉ lễ Phục Sinh, thời gian nghỉ giúp các ngài tạm rời nhiệm vụ dạy học. Dường như sự việc không được bàn bạc lâu; Mario là người quyết đoán: ngài hứa với những người ấy sẽ theo họ ngay ngày hôm sau. Dự định của ngài là thăm nhiều làng trong cùng vùng, và trên đường về sẽ đi ngược về phía tây theo thung lũng sông Mê Kông đến Luang Prabang, một chuyến truyền giáo tốt đẹp trước khi mùa mưa bắt đầu.
 

Chăm sóc cả thân xác: Cha Mario Borzaga, OMI.

Hành trình đến cái chết
Hôm sau, thứ Hai 25 tháng 4, Mario lên đường cùng với giáo lý viên trẻ của ngài là Shiong. Những người có mặt thấy ngài ra đi, ba lô trên lưng, mũ nồi trên đầu, mặc toàn đồ đen như một người H'Mông; chỉ vài trăm mét, ngài khuất sau khúc quanh của con đường để đi sâu vào rừng và xuống phía sông Nam Ming. Khi ra đi, ngài chỉ nói đơn giản: "Mười lăm ngày nữa gặp lại ở Luang Prabang." Thực tế, người ta không bao giờ gặp lại ngài nữa, cũng như người giáo lý viên. Điều gì đã xảy ra? Những cuộc tìm kiếm được tiến hành sau đó, khi sự mất tích đã rõ ràng, không đem lại điều gì chắc chắn. Người ta chỉ biết rằng ngài đã đến được ngôi làng dự định, đã chữa bệnh cho người đau ở đó, rồi lại ra đi cùng người giáo lý viên. Sau đó, mọi dấu vết đều bị xóa sạch. Thỉnh thoảng có tin đồn cho rằng người ta đã thấy ngài, một "farang" (người ngoại quốc) cao lớn đang chữa bệnh cho người đau. Nhưng người ta biết rằng những tin đồn tương tự cũng đã theo sau sự mất tích của các thừa sai trong nhiều trường hợp khác.

Hầu như không còn nghi ngờ gì rằng Mario đã bị giết trong những ngày sau khi ngài ra đi. Điều còn phải xác định là những người đến tìm ngài tại làng có phải là thành phần của một cuộc phục kích thực sự hay không, điều không thể loại trừ, hay ngài đã rơi vào tay một nhóm thù địch đã lợi dụng cơ hội có sẵn. Nhưng dù thế nào, trường hợp của Mario phải được hiểu trong sự liên tục với những gì đã xảy ra trước đó: vụ sát hại Cha René Dubroux, MEP, tại làng của ngài vào tháng 12 năm 1959, và những biến cố tại khu vực Xiêng Khoảng vào tháng 4 và tháng 5 năm 1961, mà chúng tôi sẽ nói đến.

Những biến cố tại Xiêng Khoảng
Giờ đây chúng ta đang ở giữa cuộc nội chiến: một cuộc đảo chính đã châm ngòi nổ ngày 9 tháng 8 năm 1960 tại Viêng Chăn, và đất nước chia thành ba phe, mỗi phe có quân đội riêng. Phe gọi là "trung lập", với Thủ tướng của mình là Hoàng thân Souvanna Phouma, đã bị phe cánh hữu đuổi khỏi Viêng Chăn, phe này vừa thành lập chính phủ riêng; nhưng phe trung lập, đã rút về Xiêng Khoảng và Cánh Đồng Chum, thực ra là con tin của kẻ thứ ba, quân "Pathet Lào" cộng sản.
 

Một giám mục và ba vị tử đạo, Xiêng Khoảng, 1957. Từ trái sang phải: Đức cha Loosdregt, OMI; Cha Michel Coquelet, OMI; Cha Louis Leroy, OMI; Cha Jean Wauthier, OMI.

Quân Pathet Lào đã lợi dụng sự rối loạn sau cuộc đảo chính để chiếm thế: ngay từ tháng 9 năm 1960, họ đã trở thành những người làm chủ duy nhất tại Sầm Nưa, nơi họ sẽ biến thành căn cứ không ai tranh chấp được. Các linh mục có mặt tại tỉnh này (lúc ấy còn bốn vị) đã phải tham dự các lễ mừng "giải phóng", và các ngài chỉ thoát vào phút chót khỏi toán quân đến bắt các ngài. Từ đó, quân Pathet Lào tiến về Cánh Đồng Chum và có mặt tại Xiêng Khoảng cùng với phe trung lập, mà họ kiểm soát mọi hoạt động, trong khi cố gắng mở rộng lợi thế trên thực địa. Vào tháng Giêng năm 1961, quân Pathet Lào đã bắt hai linh mục có mặt trong làng của các ngài, Cha Jean Wauthier, mà chúng ta sẽ gặp lại sau, và Cha Jean-Marie Ollivier; họ buộc tội các ngài làm gián điệp và kết án tử hình, không xét xử. Hai linh mục đã đứng trước đội xử bắn khi được cứu thoát vào phút chót nhờ sự can thiệp bất ngờ của một sĩ quan trung lập.

Chính trong bối cảnh này mà cần đặt vụ sát hại ba thừa sai liên tiếp từ ngày 18 tháng 4 đến ngày 11 tháng 5. Chúng tôi sẽ dừng lại lâu hơn ở trường hợp Cha Louis Leroy, vì nó tiêu biểu cho cách hành động của những kẻ thù của tôn giáo, và cũng là trường hợp có nhiều tài liệu nhất.

Cha Louis Leroy, OMI (1923-1961)
 


Là người vùng Normandie, thuộc giáo phận Coutances, Louis là một nông dân vững chãi đến với đời tu khá muộn, vì ngài vào nhà tập năm hai mươi lăm tuổi. Dường như hoàn cảnh gia đình đã ngăn cản ngài đáp lại sớm hơn một ơn gọi truyền giáo rất rõ rệt. Ngài đã học bù chương trình trung học nhờ lớp ơn gọi muộn của Tiểu chủng viện Pontmain. Được phú cho một trí thông minh thực tiễn vững vàng, ngài không bao giờ nắm vững được tiếng La-tinh, và đó là một trong những nỗi khổ của ngài, nhưng ngài bù đắp dư dật bằng sự nghiêm túc ngài đặt vào mọi việc ngài làm. Tất cả những ai đã biết ngài đều sẵn lòng tán thành lời chứng của một người anh em đã đồng hành với ngài từ lúc bắt đầu học cho đến cuối thời gian học viện:
"Cha Leroy rất nghiêm túc trong mọi sự, rất chuyên cần trong việc học và đời sống thiêng liêng. Ngài rất vui vẻ, rất huynh đệ. Ngài là một người bạn. Ước muốn đi truyền giáo nước ngoài của ngài rất mạnh mẽ. Tôi đã nhiều lần nghe ngài bày tỏ ước muốn được tử đạo."

Louis thế nào trong thời gian đào tạo, thì ngài cũng thế ấy nơi truyền giáo, khi ngài được gửi sang Lào, điều làm ngài hết sức mãn nguyện. Ngài đến nơi vào tháng 11 năm 1955 và lập tức được gửi đến Xiêng Khoảng, nơi hầu như là sân khấu duy nhất của đời tông đồ của ngài. Ngài gặp đôi chút khó khăn trong việc học ngôn ngữ, vì bị điếc sớm. Sau một năm, ngài xin được ở vài tháng tại thung lũng sông Mê Kông để làm quen hơn với tiếng Lào miền đồng bằng.

Trở lại Xiêng Khoảng vào tháng 11 năm 1957, ngài được giao coi sóc làng Ban-Pha, một cộng đoàn người Thái Đen, do Cha Joseph Boissel trao lại. Chính tại đó chúng ta gặp ngài vào tháng 4 năm 1961. Cuốn "sổ biên niên" mà ngài cập nhật tỉ mỉ kể cho chúng ta cả những niềm vui lẫn nỗi khổ của người thừa sai trong một ngôi làng còn tân tòng; ngài cũng để lại trong đó chứng tá của một đức tin không lay chuyển và một sự tận tụy không bờ bến. Có lẽ đơn giản nhất bây giờ là nhường lời cho vị Đại diện Tông tòa thời ấy, người đã thuật lại các biến cố cho các thừa sai, dựa trên lời chứng của một thiếu phụ Kitô hữu trong làng, hoàn toàn đáng tin cậy.
"Ngày 15 tháng 4 năm 1961, khoảng 17 giờ, quân của Kong Lê [= phe trung lập] và quân P[athet] L[ào] tiến vào Ban-Pha, sau hai hoặc ba ngày giao tranh ở vùng lân cận, có pháo kích. Chúa nhật và thứ Hai yên tĩnh. Binh lính đi lại trong làng, quân P.L. bắt đầu tuyên truyền và đặt nhiều câu hỏi về Cha: 'Ông ấy có liên lạc với người Mỹ không? Ông ấy có giúp phe Phoumi [phe cánh hữu], giúp người Mèo [H'Mông] không? Ông ấy có làm tình báo không? Ông ấy có máy phát tin, có vũ khí không?' Một số người đến tò mò nhìn vào nhà truyền giáo, trao đổi vài lời với Cha. Sáng thứ Ba 18 tháng 4, Cha Leroy dâng lễ và ăn sáng như thường lệ. Khoảng 9 giờ 30, quân P.L. bao vây nhà truyền giáo. Họ ra lệnh cho Anna B. đi gọi Cha. Chị tìm thấy ngài trong nhà nguyện. Ngài đi ra và tiến đến gặp các chỉ huy P.L. ở cổng rào. Người ta nói với ngài rằng có lệnh vô tuyến của chính phủ gửi đến, ra lệnh cho Cha trở về trung tâm Hạt Truyền giáo ở Xiêng Khoảng. Cha trả lời rằng ngài không muốn rời bỏ các tín hữu của mình, vì ở Ban-Pha chỉ có một mình ngài lo cho họ, trong khi ở Xiêng Khoảng đã có nhiều linh mục. Quân P.L. bèn yêu cầu ngài nộp khẩu súng lục. Ngài trả lời rằng ngài không có, và chưa bao giờ có, ngài là linh mục. Họ muốn khám người ngài; ngài cởi áo dòng và áo sơ mi mà không cần ai phải nài. Trong túi, họ chỉ tìm thấy tràng hạt và khăn tay, thế thôi. Mặc lại quần áo, ngài trở về nhà cùng với hai lính P.L., họ lập tức chiếm lấy khẩu súng săn của ngài, lục soát nhanh căn phòng để tìm khẩu súng lục nổi tiếng kia; họ nói với nhau bằng tiếng Việt. Anna tự hỏi liệu cái gọi là súng lục ấy có phải đơn giản là cây thánh giá lớn mà Cha đeo ở thắt lưng... Cuối cùng quân P.L. rút đi sau vài lời lịch sự. Cha đến nhà nguyện để cầu nguyện và bảo Anna cũng hãy cầu nguyện thật nhiều.
Chưa đầy nửa giờ sau (11 giờ 30), một toán P.L. đông người đến nhà Cha Leroy. Ít phút sau, Anna, đang chuẩn bị bữa ăn ở nhà mình, thấy mọi người đi ra. Cha đã đóng cửa sổ và cửa ra vào, bỏ chìa khóa vào túi và đi trước năm hay sáu lính P.L.: đầu trần, chân không, mặc áo dòng, thánh giá ở thắt lưng, sách nguyện kẹp dưới cánh tay. Khi đi ngang qua nhà Anna, ngài trả lời một câu hỏi của chị: 'Tôi đi gặp viên chỉ huy, ông ấy muốn gặp tôi.' Những lính P.L. khác ở lại trước nhà và cấm không cho ai đến gần.

Khoảng 14 giờ, vài lính P.L. trở lại; họ cầm chìa khóa, và khi Anna hỏi Cha ở đâu, họ nói: 'Ông ấy đã đi Xiêng Khoảng; chúng tôi đến kiểm kê và cất dọn đồ đạc của ông ấy.'
Ghi chú: Anna B. đã cứu được Mình Thánh Chúa và các bình thánh khi họ kiểm kê nhà thờ.

Khoảng 8 giờ tối, dân làng bị tập trung để dự một buổi 'khosana' [một buổi tuyên truyền]: 'Cha không bị giết, họ nói, mặc dù ông ấy là gián điệp và phản bội. Ông ấy là người xấu; người ta đã đưa ông ấy đến Xiêng Khoảng; sau này một người khác, tốt hơn, sẽ đến thay ông ấy.' Hai hoặc ba ngày sau, quân P.L. cướp phá hoàn toàn nhà truyền giáo; họ xé nát các ảnh thánh, đốt những gì không mang đi được.
Ngày Cha L[eroy] bị bắt, một phụ nữ ở Ban Pha Teu đã thấy Cha đi ngang qua giữa những lính P.L. trên ruộng lúa ở rìa làng. Một lúc sau, bà nghe nhiều tiếng súng nổ và nghĩ rằng người ta đang giết Cha không xa trong rừng. Buổi chiều, một nhóm phụ nữ cùng làng đi kiếm củi đã đụng phải lính P.L. và bị họ xua đuổi. Họ vội vã trở về nhà, sợ hãi. Những ngày sau, họ phát hiện trong rừng, ở đúng chỗ ấy, một ngôi mộ mới mà người ta đã muốn làm cho trông có vẻ cũ bằng cách rải cành khô và lá rụng lên trên. Người ta thì thầm rằng Cha được chôn ở đó, và không ai dám đến gần nữa."

Sau đó, vào đầu tháng 5, Anna B. đã thực sự nhận ra ngôi mộ và đi đến xác tín rằng Cha quả thật được chôn ở đó. Điều này được xác nhận nhiều năm sau, khi một linh mục có thể trở lại nơi ấy.

Tài liệu mà chúng tôi vừa trích dẫn dài này được ghi ngày 15 tháng 6, gần hai tháng sau các sự kiện. Đó là vì cần ngần ấy thời gian mới biết được điều đã xảy ra. Quân Pathet Lào, chưa bao giờ nhìn nhận tội ác của mình, đã tìm mọi cách che giấu sự thật về những hành động của họ. Người ta có thể đọc trong "sổ biên niên" của Xiêng Khoảng lời thuật lại mọi bước mà Cha Bề trên đã thực hiện, vô ích, để có được thông tin về sự mất tích của Cha Louis Leroy và của người anh em của ngài, Cha Michel Coquelet, mà chúng tôi sắp nói đến.
 

Cha Louis Leroy, OMI, và con ngựa trung thành của ngài.

Cha Michel Coquelet, OMI (1931-1961)
 
Gia đình Coquelet, gốc miền bắc nước Pháp, thuộc giáo phận Cambrai, đã chạy về Orléans trong cuộc di tản tháng 5 năm 1940. Một gia đình đông con và nghèo, khiến người mẹ phải đi giúp việc nhà để bù vào đồng lương không đủ của người cha. Dù vậy, Michel vẫn học tại trường trung học Pithiviers, rồi vào nhà tập của Dòng Hiến Sĩ tại La Brosse-Montceaux cùng năm với Louis Leroy. Người anh em mà chúng tôi đã trích lời chứng viết về Michel như sau:
"...Tôi biết ngài từ thời nhà tập. Ngài vừa kín đáo, vừa vui vẻ, đầy óc hài hước. Ngài là một người anh em nghiêm túc, hiền lành và huynh đệ. Chắc chắn ngài rộng lượng và đầy đức tin. Ngài rất dễ mến."

Trẻ hơn Louis Leroy tám tuổi, Michel Coquelet hoàn tất việc học tại học viện muộn hơn hai năm, vì nghĩa vụ quân sự mà ngài thi hành với tư cách y tá. Vậy ngài đến Lào năm 1957, vào khoảng lễ Phục Sinh. Như nhiều người khác, trước hết ngài ở vài tháng tại chủng viện Paksane để giúp dạy học đồng thời học ngôn ngữ. Ngay cuối năm ấy, ngài được gửi đến khu vực Xiêng Khoảng: một bức ảnh in trên bìa tạp chí "Pôle et Tropiques" cho thấy ngài lên đường về làng, chân không, đội mũ rừng, nụ cười rạng rỡ, dắt theo con ngựa thồ. Ngôi làng mà ngài được bổ nhiệm thật nghèo, một làng tân tòng người Khơ Mú, mà vì hoàn cảnh, việc dạy giáo lý không thể tiến hành đều đặn. Những suy nghĩ của Michel về điều này, được ghi trong "sổ biên niên", rất sâu sắc; chúng cho thấy mức độ những nỗi khổ của người thừa sai nơi ngài, nhưng cũng cho thấy tinh thần đức tin lớn lao của ngài, pha chút hài hước mà chúng ta đã biết là một trong những nét dễ mến trong tính cách của ngài.

Một bí ẩn khác
Người ta biết rất ít về hoàn cảnh mất tích của Michel, dù việc ấy xảy ra cùng thời gian và cùng khu vực với Louis Leroy. Làng của hai vị không cách xa nhau lắm: Ban-Pha cách Xiêng Khoảng một ngày đường về phía tây nam; Phôn-Pheng, làng của Michel, ở thẳng phía nam, xa hơn, và trên những con đường mòn khác. Người thứ hai hẳn không biết điều đã xảy ra cho người thứ nhất, trừ khi quân "Pathet Lào" bắt ngài đã cho ngài biết. Đây là điều vị bề trên khu vực viết:

"Ngày 30 tháng 4, tôi nhận được thư của một giáo lý viên ở Sam Tom (một trong những họ lẻ của Michel), báo tin một mặt rằng nhà nguyện ở Sam Tom đã bị một toán quân đi ngang qua cướp phá và phá hủy, và mặt khác rằng Cha Coquelet đã mất tích. Dân ở Nam Pan đã thấy chiếc xe đạp của ngài bị bỏ lại bên đường ở Sop Xieng. Người mang thư nói rõ với chúng tôi rằng mọi người đều nghĩ ngài đã bị một toán Lào-Việt đi ngang qua khu vực hôm ấy bắt đi. Đó là lúc diễn ra các cuộc hành quân đánh Ban Pha.

Thứ Ba 3 tháng 5, giáo lý viên của Ban Nam Pan đến Xiêng Khoảng cùng với một nhóm người Phôn Pheng, trong đó có Samien [thư ký]. Thông tin trên được xác nhận và bổ sung. Một bức thư của giáo lý viên N. cho biết những chi tiết sau: Cha Coquelet rời Phôn Pheng ngày 17 tháng 4 để đi chữa cho một người bệnh (bị thương) ở Ban Nam Pan. Ngày 20 tháng 4, ngài đạp xe trở về nhà thì bị bắt ở Sop Xieng. Ngày 24, N. và Nai Ban [trưởng làng], không thấy Cha về, bèn đi dò hỏi. Binh lính đóng ở Sop Xieng (Trung úy... P.L.) nói với họ rằng Cha đã bị đưa đến Xiêng Khoảng cùng lúc với Cha ở Ban Pha. Dĩ nhiên chiếc xe đạp cũng được mang đi vào ngày hôm sau hoặc ngày kia. Đó là tất cả những gì tôi biết được về Cha Coquelet."

Mọi sự đều khiến người ta nghĩ rằng Michel đã chịu chung số phận với Louis.

Diễn biến những sự kiện này không rõ ràng và mạch lạc như chúng tôi vừa trình bày đối với phần còn lại của Hạt Truyền giáo, vốn chỉ nhận được tin tức từng mẩu và qua những phỏng đoán. Có lẽ cũng đáng nêu ra đây, như một ví dụ, một phản ứng: phản ứng được người ghi "sổ biên niên" của Tiểu Chủng viện Paksane ghi lại ngày 3 tháng 5 năm 1961:

"Buổi sáng, Cha O'Rourke từ Viêng Chăn trở về. Một thư của Đức cha, một thư khác của Cha Bề trên [Cha Paul Sion] cho chúng tôi biết những biến cố nghiêm trọng liên quan đến Hạt Truyền giáo: Cha Coquelet đã mất tích từ ngày 15 tháng 4, người ta đã tìm thấy chiếc xe đạp của ngài dọc con đường giữa Xieng-Khong và Sop Xieng, và rất có thể Cha đã bị một toán P.L. bắt. Đó là nội dung một bức điện tín gửi đến Hạt Truyền giáo tại Viêng Chăn sáng hôm qua. Hai bức điện khác đã đến trước đó vào tuần trước, báo tin Cha Leroy đã bị quân P.L. bắt làm tù binh và bị họ buộc tội làm gián điệp. Cha đã luôn ở lại làng Ban Pha của ngài, ngay cả sau khi quân đội hoàng gia rút đi. Hiện ngài đang bị giam tại Khang Khai [điều người ta vẫn còn muốn tin!], trong tay quân P.L. Có lẽ người ta sẽ có thể đưa ngài ra khỏi đó và ít ra ngài sẽ được an toàn nhờ cuộc ngưng bắn [được loan báo lúc ấy], nhưng Cha Coquelet(?) mất tích như Cha Borzaga một năm trước, còn hy vọng gì nữa? Cầu nguyện, phó thác cho Chúa Quan Phòng; Nước Thiên Chúa được gieo trong nước mắt và bằng hy sinh. Điều bi thảm, khi cuộc chiến diễn ra chống lại chủ nghĩa cộng sản vô thần, là họ tìm cách bóp nghẹt ngay cả chứng tá ấy, bóp méo nó thành một tội phạm chính trị: đó quả là sự đồi bại tồi tệ nhất, dấu ấn của ma quỷ."

Và chuỗi biến cố không dừng lại với Michel Coquelet.


 
Cha Vincent L'Hénoret, OMI (1921-1961)
 
Là người Bretagne, vùng Finistère, miền đất nếu có nơi nào phong phú ơn gọi truyền giáo thì chính là nơi đây, Vincent vào nhà tập Pontmain năm 1940. Tại học viện La Brosse-Montceaux, ngài đã chứng kiến cuộc thảm sát do Đức Quốc xã gây ra, làm chết năm Hiến sĩ: hai linh mục, hai học viên và một thầy. Ngài cùng các anh em bị đày đến trại Compiègne, nhưng sau đó có thể tiếp tục việc học và thụ phong linh mục năm 1946. Năm sau, ngài lên đường đến Hạt Truyền giáo Lào.

Ngài trải qua toàn bộ thời gian lưu trú đầu tiên tại Lào ở khu vực Paksane. Là một mục tử chu đáo, khá nghiêm khắc, ngài được những tín hữu mà người ta gọi là "cựu tòng" yêu mến, vì họ đã là thế hệ thứ ba. Khi trở lại sau kỳ nghỉ phép đầu tiên, vào tháng 11 năm 1956, ngài trở về cùng cánh đồng tông đồ ấy trong một năm. Nhưng vào tháng 11 năm 1957, ngài phải rời thung lũng sông Mê Kông để đến khu vực Xiêng Khoảng.

Ở cuối Cánh Đồng Chum, trên con đường dẫn sang Việt Nam, Ban-Ban là một thị trấn nhỏ chỉ có một nhúm Kitô hữu, nhưng ở vùng lân cận có nhiều làng người Thái Đỏ tị nạn đến từ vùng Sầm Nưa. Công việc mục vụ và truyền giáo ở đó không dễ dàng: những người này đã khốn khổ vì những biến động của cuộc chiến triền miên không buông tha họ từ nhiều năm. Có rất nhiều việc phải làm, đặc biệt là để vực dậy những gia đình tan tác. Vincent can đảm bắt tay vào việc với sự hỗ trợ, từ đầu năm 1959, của Cha Jean-Baptiste Khamphanh, một linh mục giáo phận trẻ mới thụ phong.

Mộ Cha L'Hénoret, OMI.

Chúng ta đã thấy rằng trong những tháng cuối năm 1960, những người cộng sản đã mở rộng sự kiểm soát trên toàn vùng này từ Sầm Nưa. Hệ thống đã được thiết lập với nhịp độ các buổi học tập nhồi sọ và những trở ngại cho việc tự do đi lại. Để đến các họ lẻ, mỗi lần Cha phải có giấy thông hành theo quy định, mà tuy vậy chính quyền cấp không quá khó khăn. Vincent đã cho biết rằng sau những lo sợ lúc đầu, một kiểu "modus vivendi" (thỏa hiệp sống chung) đã hình thành giữa chính quyền mới và các linh mục, và mọi sự diễn ra khá tốt.

Vụ sát hại
Thứ Tư 10 tháng 5, Vincent xin và được cấp giấy thông hành để đi cử hành lễ Thăng Thiên tại một họ lẻ. Đó là trước Công đồng, và lễ Thăng Thiên vẫn còn là lễ buộc, vào ngày thứ Năm, trên toàn cõi Đông Dương. Ngài định trở về trung tâm vào ngày hôm sau. Vậy sáng thứ Năm 11 tháng 5, ngài đạp xe trở về Ban-Ban. Ngài còn cách đích vài cây số thì bị quân "Pathet Lào" chặn lại. Một phụ nữ nông dân đang làm việc ngoài ruộng đã chứng kiến phần đầu của cảnh tượng: Cha lấy ra một tờ giấy, chắc chắn là giấy thông hành, có vẻ làm binh lính hài lòng, vì Cha lại lên xe đạp và tiếp tục lên đường. Người phụ nữ không thấy những gì xảy ra sau đó, nhưng bà nghe ít lâu sau những tiếng súng và nghĩ rằng người ta đã giết Cha. Sợ hãi, lúc ấy bà không dám nói gì, cũng không dám làm gì. Cuối ngày, bà trở lại nơi ấy cùng những người khác và dễ dàng tìm thấy chỗ thi hài được chôn vội. Vài ngày sau, Cha Bề trên ở Xiêng Khoảng, được báo tin, đã có thể đến viếng mộ, sửa sang và cắm một cây thánh giá. Không bao giờ có lời giải thích nào được đưa ra về vụ sát hại này, cũng như về những vụ trước. Quân "Pathet Lào" chối bỏ hoàn toàn, và các đối tác trung lập của họ không đủ can đảm nhìn nhận sự thật, càng không dám quy trách nhiệm cho họ.

Thầy Alexis Guémené, OMI (1924-1961)
Không thể khép lại câu chuyện về chuỗi bất hạnh giáng xuống Hạt Truyền giáo Xiêng Khoảng trong những tuần lễ bi thảm ấy mà không ít nhất nhắc đến điều đã xảy ra cho Thầy Alexis Guémené. Thầy cũng cùng khóa nhà tập với các Cha Louis và Michel. Đến Lào năm 1955, trước hết thầy tham gia tích cực vào việc xây dựng chủng viện mới tại Paksane và đã khấn trọn đời tại đó ngày 1 tháng 5 năm 1956. Từ tháng 3 năm 1957, thầy được bổ nhiệm về trung tâm Xiêng Khoảng, nơi tay nghề, sự tận tụy và lòng tốt của thầy được mọi người quý mến, đặc biệt là các Nữ tu, mà thầy đã xây nhà cho.

Chúa nhật 4 tháng 6 năm 1961, Thầy Alexis Guémené đến bệnh xá quân đội để thăm vài bệnh nhân: một phát súng nổ, không rõ vì sao, và viên đạn trúng ngay tim thầy. Cha Bề trên, người ghi nhận cái chết thứ tư trong bảy tuần lễ, mô tả sự việc là "một tai nạn ngớ ngẩn do sự vô ý thức của một tân binh". Có lẽ vậy! Tuy nhiên, người ta không thể không nghĩ rằng, trong hoàn cảnh ấy, Alexis, cũng như các anh em của thầy, đã sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì Tin Mừng, và thầy đã thực sự hiến dâng nó.

Sự áp bức của cộng sản
Năm tháng trôi qua, và dù một chính phủ đoàn kết dân tộc được thành lập năm 1962, áp lực của cộng sản không hề giảm: từ tháng 5 năm 1963, nó dẫn đến việc loại bỏ mọi lực lượng khác ngoài lực lượng của họ khỏi Xiêng Khoảng và Cánh Đồng Chum. Những vụ thảm sát dân làng đang chạy trốn đã xảy ra trên các đường mòn; khó mà nói có bao nhiêu Kitô hữu đã thiệt mạng trong năm ấy. Những người sống sót định cư tạm bợ trên các ngọn đồi ở rìa Cánh Đồng Chum, nhưng phần lớn không thể bắt tay vào việc đồng áng, vốn đòi hỏi một sự ổn định nhất định. Điều này đặc biệt đúng với các dân tộc Khơ Mú, trong đó có khá đông Kitô hữu. Chính tình hình bất ổn này sẽ là dịp cho một vụ sát hại mới.

Cha Jean Wauthier, OMI (1926-1967)


 
Sinh tại giáo phận Cambrai, miền bắc nước Pháp, Jean Wauthier cũng đã trải qua, thời niên thiếu, những đau khổ của cuộc di tản năm 1940, và đã đến miền tây nam nước Pháp, nơi ngài học tiểu chủng viện. Trở về miền bắc, ngài vào nhà tập Pontmain năm 1944. Với thể chất cường tráng, một sự ngay thẳng đạo đức không gì lay chuyển, không có gì ngạc nhiên khi được gọi đi nghĩa vụ quân sự, ngài đã chọn binh chủng nhảy dù. Trở về học viện Solignac, ngài là một trong những người không ngại lao động chân tay, mà có trời mới biết là nhiều và nặng nhọc đến đâu, trong những năm sửa sang tu viện cổ của thánh Éloi để có chỗ cho khoảng một trăm học viên. Dĩ nhiên ngài xin được đi truyền giáo và có hạnh phúc được gửi sang Lào. Ngài đến đó năm 1952 và lập tức được giao phục vụ công cuộc truyền giáo giữa người Khơ Mú.

Người Khơ Mú
Ngài hầu như luôn sống với dân của cùng một làng, theo họ qua những lần di chuyển. Thật vậy, chính ngài đã khuyến khích họ rời Nam-Mon, nơi họ đã được rửa tội, để đến Khang-Si, một địa điểm tốt hơn, nơi họ có thể làm ruộng nước. Tại đó, Jean đã thực hiện một hệ thống dẫn nước bằng ống tre, làm cho dân làng vô cùng sung sướng vì được giải thoát khỏi việc phải đi lấy nước ở xa. Than ôi, công trình ấy chỉ tồn tại được vài năm: ngay từ năm 1961, cả làng phải rút về rìa Cánh Đồng Chum, trước hết đến Ban-Na, rồi sau đó đến Hin-Tang. Sau cơn báo động tháng Giêng năm 1961, Jean được rút khỏi khu vực này một thời gian. Ngài ở hai năm tại Paksane (tháng 10 năm 1961 đến tháng 12 năm 1963). Người ta có thể tin cậy ngài trong mọi công việc được giao, dù là dạy học, thể thao hay âm nhạc. Mỗi thứ Bảy, ngài rời chủng viện để đi làm mục vụ ngày Chúa nhật tại các làng lân cận. Nhưng rõ ràng ngài chỉ khao khát trở về càng sớm càng tốt với những người Khơ Mú thân yêu của mình.

Lương thực trở nên khan hiếm
Tháng 12 năm 1963, ngài trở lại nhóm tông đồ giữa người Khơ Mú, lúc ấy đã đặt trụ sở tại Viêng Chăn, nơi nhóm làm việc trước hết là đào tạo các giáo lý viên sẽ được gửi đến các làng. Trên núi, giữa tất cả những người tị nạn bị chiến tranh đuổi khỏi nhà mình, cảnh khốn cùng đã bao trùm. Không thể có những mùa màng đều đặn, và khi đã trồng được một đám ruộng lúa, không gì bảo đảm rằng người ta sẽ gặt được: những cuộc tấn công mới, mìn được gài khắp nơi dọc các đường mòn. Tình trạng thiếu thuốc men cũng vậy. Thật vậy, Jean sẽ dành phần lớn những năm cuối đời tại Hin-Tang, và ngài dồn nhiều công sức cho nhiệm vụ khó khăn là phân phát công bằng viện trợ nhân đạo, chìa khóa cho sự sống còn của những người dân này. Và chính ở đó thảm kịch được thắt nút, vì ngay trong cảnh khốn cùng nhất vẫn có kẻ bóc lột và người bị bóc lột. Những người Khơ Mú đáng thương luôn ở phía bị bóc lột. Jean đã cố gắng bênh vực họ, nhưng không thiên vị họ, vì ngài biết phục vụ mọi người. Tuy nhiên, điều đó không làm vừa lòng tất cả: binh lính các lực lượng đặc biệt, tự cho mình quyền kiểm soát việc phân phát, và do đó được phục vụ trước tiên cho chính họ và người của họ, nhìn việc ấy với con mắt rất khó chịu.
 

Nhà của Cha Wauthier ở Hin-Tang.

Cái chết của Cha Jean
Đã có những cuộc tranh cãi, thậm chí những lời đe dọa cụ thể không? Jean dường như không nói gì về điều đó tại Lào. Tuy nhiên, trong kỳ nghỉ phép tại Pháp năm 1967 ấy, ngài được cho là đã nói ít nhất một lần rằng nếu ngài bị giết, đó sẽ là vì công việc của ngài cho người Khơ Mú ở Hin-Tang. Điều chắc chắn là người H'Mông ở Ban-Na đã không tha thứ cho ngài việc di chuyển những người Khơ Mú Kitô hữu đến Hin-Tang, việc đã tước mất của họ một phần lương thực viện trợ mà họ thèm muốn. Vậy họ đã quyết định trả thù.

Thế là trong tuần lễ trước Giáng Sinh ấy, Jean muốn đến thăm một nhóm nhỏ người Khơ Mú còn ở lại vùng lân cận Ban-Na. Ngài đến đó sau khi đã báo cho viên chỉ huy quân sự biết ngài đi ngang qua. Cơ hội thật thuận tiện: dưới vỏ bọc một cuộc tấn công giả của quân Lào-Việt, ngài bị tấn công khi đang trở về Hin-Tang, vào tối thứ Bảy 16 tháng 12. Hai phát súng ngay giữa ngực, và Cha gục xuống. Thi hài được đưa về Viêng Chăn ngày hôm sau. Chính phủ vội quy vụ việc cho những người cộng sản, và đó là sự thật chính thức. Sự thật của sự kiện thì hoàn toàn khác; người ta biết điều ấy rất nhanh, nhưng không ai có thể nói ra trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Hãy chép lại điều người ta đã viết thời ấy:

"Tại sao ngài bị giết? Có lẽ sẽ không bao giờ ai biết được. Óc tổ chức và sự khéo léo mà ngài đã thể hiện để bảo quản và phân phát viện trợ nhân đạo có thể đã gây khó chịu; và viện trợ ấy, từ trời rơi xuống, chắc chắn đã khơi dậy lòng tham và kích động sự thèm muốn. Điều chắc chắn là ngài đã bị giết khi đang thi hành sứ vụ tông đồ và vì sứ vụ ấy."

Ngày hôm sau, một trong các giáo lý viên viết cho cha mẹ ngài: "Cha Jean đã chết vì ngài yêu thương chúng con và không muốn bỏ rơi chúng con."

Cha Joseph Boissel, OMI (1909-1969)

Là người vùng biên giới Bretagne, quê ở một làng nhỏ giữa Rennes và Pontmain, Joseph Boissel là một nông dân vững chãi, chăm chỉ làm việc, với một sức mạnh phi thường mà sau này dân Lào rất thán phục. Được thụ phong linh mục tại La Brosse-Montceaux năm 1937, lúc hai mươi tám tuổi, ngài được gửi sang Lào năm sau.

Vậy ngài thuộc nhóm những người kỳ cựu đã trải qua mọi chấn động của chiến tranh ngay từ đầu. Ngài đến Lào vào tháng 10 năm 1938 và khá nhanh chóng được gửi đến khu vực Xiêng Khoảng, lúc ấy đang bắt đầu phát triển. Sau này, ngài vẫn nói với lòng tiếc nuối về điểm truyền giáo Nong-Het, một trạm tiền tiêu gần như ở biên giới Việt Nam, mà chiến tranh đã buộc ngài phải bỏ lại và không bao giờ được mở lại. Tháng 3 năm 1945, ngài bị quân Nhật bắt làm tù binh và bị giải đến Vinh cùng với Đức ông Mazoyer. Trở về Hạt Truyền giáo năm 1946, ngài lại ở Xiêng Khoảng, và trong nhiều năm, ngài lo việc đào tạo các dự tòng, rồi các tân tòng ở Ban-Pha. Ngài rời làng ấy vào tháng 11 năm 1957, trao lại cho Cha Louis Leroy.

Paksane

Trở về khu vực truyền giáo Paksane, Joseph đã dốc sức tại đó cho đến ngày cuối cùng: trước hết coi sóc làng ruộng Nong-Veng, rồi từ năm 1963, đặt trụ sở tại cây số 4 của Paksane, nơi nổi tiếng Lak-Si, để coi sóc nhiều làng tị nạn người Thái Đỏ và Khơ Mú. Ngài đi lại bằng xe jeep giữa các làng ấy, bất chấp thị lực kém vì ngài đã mất hoàn toàn một mắt. Trong những năm ấy, lên đường luôn luôn là mạo hiểm: lúc ấy là năm 1969, và từ cuối tháng 3, nguy hiểm đã gia tăng đến mức phải từ bỏ việc cử hành Tuần Thánh tại các làng ấy. Mãi đến đầu tháng 6, Cha mới dám mạo hiểm trở lại trên con đường đầy phục kích ấy.

Thứ Bảy 5 tháng 7, ngài quyết định đến nghỉ đêm tại làng Hat-I-Et, cách Paksane khoảng hai mươi cây số, ngược theo sông Nam San. Ra đi khoảng 4 giờ 30 chiều, ngài đưa theo hai nữ tu trẻ thuộc Tu hội Nữ Hiến Sĩ Truyền Giáo, những người, như thường lệ, sẽ giúp ngài thăm viếng, chăm sóc bệnh nhân và phục vụ việc phụng tự. Hãy nhường lời cho bản tường thuật của một người anh em được viết ngay ngày 9 tháng 7:

"Rồi lúc 6 giờ 25, tin khủng khiếp: người ta hoảng hốt, chạy đi, tìm cách biết thêm. Một chiếc xe buýt từ Muong-Kao đã gặp xe của Cha ít lâu sau vụ tấn công; người tài xế đã thấy Cha chết, chiếc xe bốc cháy, đồ đạc của phụ nữ vương vãi bên vệ đường; sợ hãi, ông không dám dừng lại, vả lại để làm gì, mọi sự dường như đã kết thúc..." [Đến Paksane, ông báo động cho quân đội.]

[Ghi chú: Đáp lại lời khẩn khoản của các Cha và của cha mẹ các nữ tu, những người muốn biết điều gì đã xảy ra cho con gái mình, các sĩ quan đồng ý tổ chức một cuộc hành quân để đến tận nơi xem xét. Trong đêm, với xe bọc thép, đoàn xe, có một Cha và một người bạn của Hạt Truyền giáo đi theo, thận trọng lên đường. Trước hết người ta tìm thấy hai nữ tu, bị thương nhưng còn sống, rồi thi hài Cha cháy dở trong xe.]

"Những người bị thương đã có thể cho biết vài chi tiết về cuộc phục kích: ba người có vũ trang đã xuất hiện; loạt đạn đầu tiên bắn vào bánh xe jeep, chiếc xe vượt qua bờ đất và đổ nghiêng sang bên trái; loạt đạn thứ hai bắn vào Cha, ngài chết ngay; các nữ tu đã ngã đè lên Cha Boissel, lúc ấy một quả B.40 [một loại súng phóng hỏa tiễn] nổ ở phía sau xe, bắn mảnh văng vào hai nữ tu; một trong hai người (người Thái Đỏ) khẳng định đã nghe lệnh bắn được hô bằng tiếng Việt; [họ đã thoát ra được khỏi xe.] Vừa kịp lúc, chiếc jeep bốc cháy vì bị bắn trúng ngay bình xăng. Hai người sống sót chạy vào khu rừng gần đó và ẩn nấp. Những kẻ sát nhân có thể đã kết liễu họ, nhưng chúng đã không làm. Họ có thể thấy chúng đứng ngắm công việc của mình, súng đeo vai, rồi biến mất...
Cha Boissel ơi, Cha vẫn ở giữa chúng con... Cái chết dữ dội này gây xúc động, một cái chết nơi tuyến đầu, giữa sứ vụ tông đồ, một cái chết mà Cha đã nhiều lần suýt gặp, một cái chết đẹp của người thừa sai. Nhưng điều phải nói là cả cuộc đời Cha làm chúng con xúc động: cuộc đời của một tông đồ có trái tim nồng cháy, một cuộc đời hiến dâng, một cuộc đời được trao ban trọn vẹn của một con người của Thiên Chúa, đối với Cha không có gì quan trọng ngoài việc loan báo Đức Giêsu Kitô cho người nghèo. Cuộc đời ấy thật đầy đủ, thật phong phú những thăng trầm, được dẫn dắt thật dứt khoát, với một trái tim trẻ trung đến nỗi khiến chúng con không để ý đến mái tóc bạc và làm chúng con hy vọng được giữ Cha mãi bên chúng con..."

Lời tán dương mà chúng tôi vừa trích dẫn chắc chắn mang đậm cảm xúc của lúc ấy, nhưng không vì thế mà kém chân thành và khách quan, và nó vẫn giữ trọn giá trị. Vả lại, người ta có thể áp dụng nó cho từng thừa sai mà chúng tôi đã phác họa cuộc đời và sự hiến dâng sau cùng. Mario Borzaga, Louis Leroy, Michel Coquelet, Vincent L'Hénoret, Jean Wauthier và Joseph Boissel, và chúng tôi xin thêm Alexis Guémené vào danh sách này: mỗi vị theo cách riêng của mình, với tính cách, tài năng và cả những giới hạn của mình, là một con người của Thiên Chúa, đã đo lường công việc phải thực hiện cho Đức Giêsu Kitô và cho người nghèo, đã biết những rủi ro của công cuộc ấy, nhưng đã không ngần ngại đi đến tận cùng của tình yêu.

Sự ra đi của các thừa sai
Đến đây, cần tưởng nhớ những Kitô hữu khác, cũng dấn thân trên cùng một con đường, cũng đối diện với những trở ngại tương tự trong việc tuyên xưng đức tin, và cũng đã phải chịu hy sinh tột cùng. Trước hết là các giáo lý viên: Shiong, giáo lý viên H'Mông của Cha Mario Borzaga, chắc chắn đã chịu chung số phận với ngài; còn có Luc Sy, giáo lý viên Khơ Mú, bị giết bên vệ đường ở Dène-Din, giữa Vang-Vieng và Meuong-Kasi, ngày 7 tháng 3 năm 1970. Chúng ta đã thấy hai nữ tu Nữ Hiến Sĩ đã liều mạng sống cùng với Cha Joseph Boissel: cả hai đều bị thương, và họ mang dấu vết suốt đời, cả về thể xác lẫn tâm lý.

Rồi còn tất cả những người, phần lớn vô danh, từ khi chủ nghĩa cộng sản nắm quyền (tháng 5 đến tháng 12 năm 1975), đã bị đưa vào các trại lao động và cải tạo theo kiểu Trung Hoa. Dù các trại ấy được trang trí bằng cái tên đẹp "sammana" (= "seminar", "khóa học tập") và tự cho là nhào nặn con người mới theo học thuyết Mác-Lênin, chúng thật sự là những trại tử thần. Xin nêu, như một ví dụ, người anh cả của vị Đại diện Tông tòa Savannakhet hiện nay, một sĩ quan quân đội hoàng gia: bị đưa đi "sammana" tại Sầm Nưa vào tháng 10 năm 1975, ông qua đời vài tháng sau vì bị ngược đãi và hoàn toàn không được chăm sóc.

Vào thời ấy, nhiều thừa sai ngoại quốc đã phải rời khỏi đất nước. Lịch sử của những cuộc ra đi này cần được trình bày dài hơn. Đó là sự kết thúc của Hạt Truyền giáo theo kiểu cũ và sự ra đời, trong đau khổ, của một Giáo hội địa phương hoàn toàn mới. Chỉ xin nhắc lại rằng cuộc cách mạng bắt đầu ngày 1 tháng 5, ngay sau ngày Sài Gòn sụp đổ; tiến trình đã khởi động phát triển trên khắp cả nước, một cách rất có tổ chức, bằng việc dần dần loại bỏ mọi thứ có vẻ chống đối trật tự mới, để đi đến việc bãi bỏ chế độ quân chủ và thành lập (ngày 2 tháng 12) nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân.

Ngay từ giữa tháng 5, ba giám mục người Pháp, trong đó có Đức cha Étienne LOOSDREGT, đã từ chức. Các ngài nhanh chóng được thay thế bởi các giám mục người Lào. Tại Viêng Chăn, Đức cha Thomas NANTHA, được bổ nhiệm làm giám mục phụ tá năm trước, được tấn phong nhậm chức ngày 9 tháng 6. Đức cha Alessandro STACCIOLI, mà Hạt Đại diện của ngài chỉ có một linh mục giáo phận, không bị ảnh hưởng bởi phong trào này và ở lại cho đến khi bị trục xuất vào tháng 9.

Từ bên ngoài, người ta thường hiểu sai sự ra đi của các thừa sai, đặc biệt là của các Hiến sĩ. Sự ra đi ấy diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy nơi và tùy hoàn cảnh, từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 7 năm 1976:
• khi các công cuộc biến mất (chẳng hạn Tiểu Chủng viện Paksane phải cho học sinh về và đóng cửa vào tháng 5), khi các cơ sở của Giáo hội bị tịch thu, nhà ở cũng như nhà thờ, sự hiện diện của một số người không còn lý do. Điều này đặc biệt đúng với Hạt Đại diện Tông tòa Viêng Chăn, nơi, do hoàn cảnh, nhiều công cuộc được tập trung;
• mặt khác, các thừa sai bị trục xuất từng người khỏi nhiệm sở của mình, ở những nơi mà cộng đồng Kitô hữu quá ít người không thể bảo vệ họ. Dù đó là một quả lựu đạn bị ném như tại Vang-Vieng, nơi người thừa sai thậm chí không thể ở lại làng phong Somsanouk, hay một cuộc biểu tình quần chúng bị giật dây như tại Phôn-Hong, kết quả đều như nhau: người thừa sai, dù là người ngoại quốc hay người Lào, phải rời khỏi nơi ấy;
• những cuộc trục xuất chính thức cả một nhóm, theo lệnh chính quyền địa phương, đã xảy ra trong hai trường hợp: vào tháng 8 và tháng 9, tất cả các thừa sai Hiến sĩ người Ý bị đuổi khỏi Houei-Sai, Sayaburi, và cuối cùng khỏi Luang Prabang, giữa những dấu hiệu cảm thông của dân chúng và các nhà sư Phật giáo, đặc biệt là của Đức Tăng Thống. Cũng vậy, các thừa sai người Pháp ở Pakse bị buộc phải rời khỏi đất nước vào tháng 2 năm 1976;
• vào tháng 3 năm 1976, chỉ còn lại một nhóm nhỏ Hiến sĩ, năm linh mục, trong đó có vị Giám tỉnh, và một thầy, tại Hạt Đại diện Tông tòa Viêng Chăn, và vài thừa sai người Pháp tại Hạt Savannakhet. Chính một cuộc họp khẩn cấp của các thừa sai và giáo dân với vị giám mục đã quyết định sự ra đi của những người ở Viêng Chăn, ngày 3 tháng 4 năm 1976. Tại sao lại có quyết định như vậy? Giám mục, linh mục và giáo dân Lào phải chấp nhận sự thật hiển nhiên: sự hiện diện thường xuyên của người ngoại quốc bên cạnh họ, mà trong một thời gian họ đã xem như một sự bảo đảm cho chính mình, đã trở thành một gánh nặng không thể chịu nổi cho Giáo hội. Chỉ một người ở lại thêm hai năm để phục vụ cộng đồng quốc tế tại thủ đô. Một quyết định tương tự được đưa ra vào tháng 7 cho Hạt Đại diện Tông tòa Savannakhet.

Một Hiến sĩ duy nhất: Đức cha Khamsé, OMI


Trong ba Hiến sĩ người Lào còn hiện diện vào lúc ấy, hai vị chẳng bao lâu sẽ đi con đường lưu vong, như ngày càng nhiều đồng bào của mình. Từ nay tại Lào chỉ còn lại một Hiến sĩ duy nhất, Cha Jean Khamsé: thụ phong linh mục ngày 26 tháng 1 năm 1975, đến tháng 6 ngài đã làm Tổng đại diện. Ngài là giám mục từ ngày 16 tháng 1 năm 1983, Đại diện Tông tòa Viêng Chăn và Giám quản Hạt Đại diện Tông tòa Luang Prabang.

Nước Lào và các Hiến sĩ
Trong khoảng bốn mươi năm ấy, từ 1935 đến 1976, hơn một trăm Hiến sĩ thuộc mọi quốc tịch đã làm việc, vất vả, cầu nguyện, và đôi khi đổ máu, tại hạt truyền giáo Bắc Lào này. Mười lăm vị trong số đó đã ở lại vĩnh viễn trên đất Lào: ngoài những vị mà chúng tôi đã cố gắng phác họa sự nghiệp quá ngắn ngủi và sự hy sinh sau cùng, còn có tám vị khác, một nửa vì bệnh tật, một nửa vì tai nạn trên sông, trên không hay trên đường. Những vị ấy cũng đã hiến dâng mạng sống khi còn trẻ (tuổi trung bình của mười lăm vị chưa đến bốn mươi) để Giáo hội tại đất nước này được khai sinh và phát triển. Hơn hai mươi năm sau cơn bão tố, thật công bằng khi nhận thấy rằng công lao và lời cầu nguyện, những nỗi khổ và sự hy sinh của các ngài đã không uổng phí. Đó là một trang sử đẹp của công cuộc Truyền giáo đã được viết nên tại đây, và cần dâng lời tạ ơn Chúa, Đấng thật sự là Chủ duy nhất của công trình ấy.

Pierre Chevroulet, O.M.I.

Tủ sách Di Sản Hiến Sĩ, số 14 – Văn phòng Thỉnh nguyện viên Tổng quyền O.M.I., Rôma, 1998
 

Bài viết khác