❧ Sống năm tuần với các Chân phước Tử đạo Lào
Sống năm tuần với
CÁC CHÂN PHƯỚC TỬ ĐẠO LÀO
Tuần I — Suy gẫm và Cầu nguyện
✦ TUẦN I — CHÚA NHẬT
WEEK I — SUNDAY
Blessed Joseph Tiên
Chân phước Giu-se Thạo Tiến
(05.12.1918 – 02.06.1954)

Until the very last days, Father Tien remained confident. He asked of the Christians “special fervour, special prayers to prevent the catastrophe.” On the 22nd of March, he wrote of his joy at being able to continue his school...
Cho đến những ngày cuối cùng, cha Tiến vẫn hoàn toàn tin tưởng. Ngài kêu gọi các Ki-tô hữu hãy « can đảm cách đặc biệt, cầu nguyện cách đặc biệt để khỏi bị ngã lòng ». Vào ngày 22 tháng 3, ngày viết về niềm vui khi có thể tiếp tục làm việc ở trường học của ngài…
The last letter received from him is from the 27th of March. This time our friend is in great distress ... Poor Father! He realized his absolute isolation. The priests closest to his station were typically 7 or 8 days away; but due to the Vietminh persecution, these neighbours had to leave their areas to settle in the plains. There was no way he could go to visit them or be visited by them. The Christians were too fearful to give serious help to their pastor in his distress, were it to last. The cross was laid bare before the first Thai-deng priest, four years after his ordination.
Lá thư cuối cùng của ngài là ngày 27 tháng 3. Đây là thời gian người bạn của chúng ta đau đớn tột độ… Người cha đáng thương ! Ngài nhận ra rằng, ngài hoàn toàn bị cô lập. Những linh mục gần nơi ngài ở nhất thì cũng phải đi bộ 7, 8 ngày ; vì sự bách hại mà những người láng giềng này phải rời đi, đến đồng bằng để lánh nạn. Không có cách nào để ngài liên lạc với họ và để họ liên lạc với ngài. Những Ki-tô hữu quá sợ hãi không thể giúp đỡ vị mục tử của mình, trong khi ngài đang gặp nguy hiểm, nếu như cơn bách hại kéo dài. Thập giá được trao cho vị linh mục người Thái Đỏ đầu tiên, 4 năm sau khi chịu chức.
In the end, he remained heroically in place (although as a Thai, he could easily have saved himself at any time). From April 1953, the usual iron curtain separates Sam Neua from the free world. There was no way to contact him…
Cuối cùng, ngài vẫn can trường ở lại nơi này (cho dù, vì là người Thái, ngài dễ dàng giữ mạng sống mình bất kỳ lúc nào). Từ tháng 4 năm 1953, tấm màn sắt đã ngăn cách tỉnh Sầm Nưa khỏi thế giới. Không có cách nào liên lạc với ngài…
Jean Mironneau MEP, « Abbé Joseph Thao Thien »,
in Bulletin MEP 28, 1955
✦ TUẦN I — THỨ HAI
WEEK I — MONDAY
Blessed Joseph Tiên
Chân phước Giu-se Thạo Tiến
(05.12.1918 – 02.06.1954)

Around 1953, Father Tiên was put in prison. He had not wanted to escape: the French priests had suggested it and several villagers had urged him to do so, but he did not want to. He said: “I was ordained for the Christians; I cannot abandon them. Those who want to kill me, well, they’ll have to kill me here.” He wanted to live and to die among his Christians.
Vào khoảng năm 1953, cha Tiến bị bắt. Ngài đã không muốn trốn chạy : các linh mục Pháp đã đề nghị như thế và nhiều người dân cũng nài nỉ ngài như vậy, nhưng ngài không muốn trốn chạy. Ngài nói : « Con được chịu chức là vì những Ki-tô hữu này ; con không thể bỏ rơi họ. Những người muốn giết con ? À ! họ nên giết con ở đây. » Ngài muốn sống và chết giữa đoàn chiên của ngài.
At the camp in Talang, they put pressure on him a number of times to get married: “If you take a wife, you will be free.” He always refused: “I am there for the Christians.” Among us, we all understood that: he could not abandon his life as a priest. When they brought him into the village, everyone wished him the courage to remain firm: “You are the Father of the Christians; if you give up, all will be lost. If you hold firm, there will also be some Christians over there.” Father Tiên is certainly a martyr, for he shared the sufferings of Jesus. His memory has always been important to us. He is a true model for the Laotian Christians of today who truly have need of courage.
Tại trại tù ở Ta-Lang, họ ép ngài lấy vợ : « Nếu anh lấy vợ, anh sẽ được tự do. » Nhưng ngài từ chối : « Tôi ở đây là vì những người Ki-tô hữu. » Tất cả chúng con hiểu rằng : ngài không bao giờ từ bỏ đời linh mục của ngài. Khi họ đưa ngài đến ngôi làng, mọi người đều mong ngài can đảm kiên tâm : « Cha là người cha của các Ki-tô hữu ; nếu cha từ bỏ, tất cả sẽ mất hết. Nếu cha kiên tâm, sẽ có thêm một vài Ki-tô hữu, cả ở nơi đó ! » Cha Tiên chắc chắn là một vị tử đạo, bởi vì ngài đã chia sẻ sự đau đớn của Đức Giê-su. Tấm gương của ngài luôn quan trọng với chúng ta. Ngài là hình mẫu thực sự của các Ki-tô hữu Lào ngày nay, những người đang cần sự can đảm.
Testimony of Sipéng, a lay Christian born in the paternal home of Blessed Joseph Tiên
Lời chứng của Ông Xi-Peng, người giáo dân sinh tại ngôi nhà của gia đình cha Giu-se Tiến
✦ TUẦN I — THỨ BA
WEEK I — TUESDAY
Blessed Jean-Baptiste Malo, m.e.p.
Chân phước Gio-an Baotixita Malo Lộc, m.e.p.
(02.06.1899 – 28.03.1954)

The Annamite range rises in front of the prisoners. The real nightmare begins. We have to cross the mountains with our two patients, climb the steep paths, climb rocks, climb ladders clinging to vertical walls, closely followed by a guard who laughs at our distress. Father Malo shouts for help. In vain. He can do no more. “God, come to my aid,” he sobbed, ready to fall into the void. From then on, he is doomed.
Đồi núi Trường Sơn hiện ra trước mắt những người bị áp giải. Cơn ác mộng thực sự đã bắt đầu. Chúng tôi phải trèo qua các ngọn núi, và hai người trong chúng tôi đang mắc bệnh ; phải trèo trên những con đường dốc đứng, trèo lên những tảng đá, trèo lên những cầu thang tựa vào bức tường thẳng đứng, bị tên lính canh chừng và cười nhạo vào cái vất vả của chúng tôi. Cha Lộc kêu cầu giúp đỡ. Nhưng không ích gì. Ngài không làm được gì hơn. « Lạy Chúa, xin đến giúp con ! » Ngài gào lên và sẵn sàng bị rớt xuống vực. Định mệnh của ngài đã được xác định từ lúc đó.
On the 19th of March, Saint Joseph introduces us to “liberated” Vietnam. It’s been a year, to the very day, since Fr. Malo, having escaped from China, arrived in Laos! He gets weaker and weaker, aching throughout his worn-out body. He is edifying in his abandon to God: “Yes, yes, yes,” he repeats over and over, “yes, my God, as you wish!” But it is the final battle and he feels abandoned by the Father—the disciple, like the Master. He prays for those he loves and for his enemies too.
Vào ngày lễ 19/3, thánh Giu-se giới thiệu cho chúng ta một nước Việt Nam “tự do”. Một năm trước, vào đúng ngày này, cha Lộc đã rời khỏi Trung Hoa và đến Lào ! Ngài trở nên ngày càng yếu, sự đau đớn chạy dọc khắp cơ thể mệt lử của ngài. Ngài phó thác vào Thiên Chúa một cách gương mẫu : « Vâng, vâng, vâng », ngài lặp đi lặp lại, « Vâng, lạy Chúa của con, nếu đó là ý Cha ! » Nhưng đó là trận chiến cuối cùng, và ngài cảm thấy bị bỏ rơi – người môn đệ, giống như người Thầy Chí Thánh. Ngài cầu nguyện cho những người ngài yêu thương, và cả những kẻ thù nữa.
On the 26th of March, at 7 in the evening, after the agony of a saint, Jean-Baptiste Malo falls asleep in the death of the righteous, the death of a poor man, in destitution and exile, the beautiful death of an obscure martyr, in keeping with his life as one hunted, persecuted for Christ in China, in Laos, in Vietnam.
Vào ngày 26/3, lúc 7 giờ tối, sau khi trải qua giây phút hấp hối của một vị thánh, cha Gio-an Baotixita Malo Lộc đã về nhà Cha như người tôi tớ trung thành : một sự ra đi trong nghèo khó, trong sự thiếu thốn và lưu vong, cái chết đẹp đẽ của một vị tử đạo âm thầm, giống như cuộc đời của ngài, một người bị bắt giam, bị bách hại vì Đức Ki-tô, ở Trung Hoa, Lào, và Việt Nam.
Testimony of Fr. Louis Mainier MEP, in Bulletin MEP 28, 1955
Lời chứng của cha Louis Mainier, m.e.p.
✦ TUẦN I — THỨ TƯ
WEEK I — WEDNESDAY
Blessed René Dubroux, m.e.p.
Chân phước Rơ-nê Dubroux Đức, m.e.p.
(28.11.1914 – 19.12.1959)

I gave you your freedom; use it only for the good and the service of your Laotian brothers. I miss your presence very much, even your periods of bad mood; and I miss even more the help you were to my work. This is what I ask of you: stick to regular confession. If you don’t go to confession often, you will lose your piety and the purity of your heart; and if, unfortunately, you stop going to confession, that would be a sure sign of disaster.
Cha để con hoàn toàn tự do ; con hãy dùng khả năng để chỉ phục vụ vì lợi ích của anh em Lào của con. Cha nhớ con rất nhiều, ngay cả những lúc con cư xử không chuẩn mực ; và cha cũng nhớ đến sự giúp đỡ của con cho công việc của cha. Đây là những gì cha muốn nói với con : hãy thường xuyên xét mình hằng ngày. Nếu con không thường xuyên đến với tòa giải tội, con sẽ mất niềm xác tín và sự tinh tuyền của tâm hồn ; và nếu, bất hạnh thay, con không xưng tội nữa, đó là dấu chỉ chắc chắn của thảm họa.
Now that you have some money, keep track of it, but do not live on the charity of others; and wherever you take a room, try to pay for the room yourself. Any way, you are free, with all the risks that this entails; accept your responsibilities.
Bây giờ con có ít tiền, hãy tiết kiệm nó, nhưng đừng sống trên lòng bác ái của người khác ; và con ở trọ nơi nào, hãy cố gắng trả tiền phòng. Dù sao, con có tự do, cùng với những nguy cơ không thể tránh được ; hãy sống có trách nhiệm.
My letter contains only advice. Avoid being frivolous; be serious, thrifty and persevering; set fantasies aside. Because you have been faithful, the good Lord has blessed you, and will bless you if you remain faithful. Whatever happens, you will always be my beloved son; I wrote to you at the death of your father that I'm sure he has watched over you from Heaven. The more you give, the more you receive.
Lá thư của cha chỉ là những lời khuyên. Hãy tránh sự phù phiếm, hãy nghiêm túc, tiết kiệm, và kiên tâm ; hãy có hoài bão bên cạnh. Vì con trung tín, Thiên Chúa Tốt Lành đã chúc lành cho con, và sẽ như thế nếu con giữ vững niềm xác tín. Dù có gì xảy ra, con vẫn là người con yêu dấu của cha ; như cha đã viết cho con vào ngày người cha của con ra đi, chắc chắn ngài sẽ phù hộ con từ trên Trời. Con cho đi nhiều, con sẽ nhận lại nhiều.
Letter of Blessed René Dubroux to a young catechist-helper, aged 21, 8 July 1959
Lá thư cha Đức gửi một giáo lý viên, 21 tuổi, ngày 08/07/1959
✦ TUẦN I — THỨ NĂM
WEEK I — THURSDAY
Blessed Oblate Martyrs of Laos
Blessed Mario Borzaga
Các chân phước Hiến Sĩ tử đạo tại Lào
Chân phước Ma-ri-ô Borzaga Gia
(1960-1969)

Please accept this brief greeting from the Fathers of the Vicariate of Laos, gathered here in Paksane for our annual retreat. There were 45 of us. This morning, we had the closing ceremony with His Excellency celebrating a Pontifical Mass, along with the renewal of vows and the consecration to the Sacred Heart.
Xin Cha hãy đón nhận lời chào đơn sơ này từ anh em thuộc Hạt tông tòa Nước Lào, tập trung nơi đây, tại Păk-xan, cho kỳ tĩnh tâm năm. Chúng con có 45 người. Sáng nay, chúng con đã tham dự buổi Thánh Lễ đại triều, cùng với việc lặp lại lời khấn, và đọc kinh Dâng Hiến cho Thánh Tâm.
In a few days, we will begin our daily retreat, wherever God wants, always united to Him, more and more as apostles and as Oblates. Our work sites, whether old or new, close or far-off, await us for a new year of hard work; they hope that we will be renewed in the spirit of sacrifice and in the holiness that God and the Church expect of us.
Trong vài ngày, chúng con sẽ bắt đầu cuộc « tĩnh tâm hằng ngày », bất cứ nơi nào Chúa muốn, luôn luôn kết hợp với Ngài, ngày càng trở thành những vị tông đồ và những Hiến sĩ thực sự. Những nơi chúng con làm việc, mới hay cũ, gần hay xa, đang đợi chúng con với một năm công việc khó khăn ; ở đó có niềm hy vọng rằng chúng con sẽ làm mới lại trong tinh thần tận hiến và trong sự thánh thiện mà Thiên Chúa và Giáo Hội mong đợi nơi chúng con.
During this holy retreat, we prayed a lot to the Immaculate Mother of God, that abundant divine blessing might assist and promote your programs for the Mission.
Trong suốt kỳ tĩnh tâm thánh thiện này, chúng con cầu nguyện rất nhiều với Mẹ Vô Nhiễm để Thiên Chúa ban ơn dồi dào cho chúng con, trợ lực và thúc đẩy những chương trình Sứ Vụ.
(There follow the signatures of the participants at the retreat, including the six martyrs: Joseph Boissel, Vincent L’Hénoret, Louis Leroy, Jean Wauthier, Mario Borzaga, and Michel Coquelet)
(Sau đó là chữ ký của các thành viên tham dự kỳ tĩnh tâm, bao gồm 6 vị tử đạo : Giu-se Boissel Sơn, Vinh-sơn L’Hénoret Lĩnh, Lu-y Leroy Vương, Gio-an Wauthier Thiều, Ma-ri-ô Borzaga Gia và Mi-ca-e Coquelet Liệu)
Collective letter to the Superiors of the Oblates, written by Blessed Mario Borzaga, 17 November 1959
Lá thư chung gửi các Bề trên Hiến sĩ, cha Mariô Gia soạn, ngày 17/11/1959
✦ TUẦN I — THỨ SÁU
WEEK I — FRIDAY
Blessed Mario Borzaga
Chân phước Ma-ri-ô Borzaga Gia
(27.08.1932 – 01.05.1960)

In my prayer, I do not ask Jesus for joy or strength; I ask only to love him more and more—to love him as the saints and martyrs loved him.
Trong lời cầu nguyện, tôi không xin Đức Ki-tô cho tôi niềm vui hay sức mạnh ; tôi chỉ xin được yêu mến Ngài ngày càng nhiều hơn – yêu Ngài giống như những vị thánh và những vị tử đạo yêu Ngài.
And you, now you’ve begun the Calvary of your apostolate. Along the way, you will be accompanied by Jesus, crowned with thorns; and at the top, you will find him on the cross. The Night will come, and then the Resurrection.
Hỡi anh, bây giờ anh đã bắt đầu chuyến hành trình tông đồ lên đồi Gôn-gô-tha. Theo con đường ấy, anh sẽ được chính Đức Giê-su đồng hành, Đấng đã chịu đội mũ gai ; và ở đỉnh đồi, anh sẽ thấy Ngài trên thập giá. Bóng đêm sẽ tới, và sau đó là Sự Phục Sinh.
My God, make me love the cross and nothing else. Let me become holy and nothing else, even though I am the last one who should hope for it… O Jesus, be my light, the lamp that brightens my road on this earthly voyage toward heaven.
Lạy Chúa của con, xin hãy làm cho con không yêu mến gì khác ngoài thập giá. Xin hãy lấy đi tất cả của con, nhưng xin ban cho con sự thánh thiện, ngay cả khi con là kẻ cuối cùng cho niềm hy vọng đó… Lạy Đức Giê-su, hãy là ánh sáng đời con, là ngọn đèn chiếu sáng con đường của con trên hành trình lữ thứ trần gian đến Nước Trời.
19/01, feast of St. Mario, martyr. What kind of martyr? Probably nothing more than for the love of God and charity towards his neighbour. I wonder how much I am also a martyr of charity; I will no doubt get there, since from day to night, I must be available to others. To each of those who comes to my door, I say in my heart: “O Jesus, it is you that I love in the person of this poor fellow, my brother; through his suffering, pardon me my sins!”
19/01, ngày lễ thánh Ma-ri-ô, tử đạo : loại tử đạo nào ? Có lẽ, chỉ vì tình yêu dành cho Thiên Chúa và lòng bác ái cho những người thân cận, không có điều gì khác nữa. Tôi tự hỏi tôi sẽ tử đạo cho lòng bác ái ở mức độ nào ? Tôi sẽ không do dự đi đến đó, vì từ sáng cho đến tối tôi phải luôn sẵn sàng cho những người khác. Với từng người đến gõ cửa phòng tôi, tôi nói từ trong trái tim : « Lạy Chúa Giê-su, đó là Ngài, Người mà con yêu, hiện diện trong phận người của những người anh em khó nghèo của con ; qua sự đau khổ này, xin tha thứ tội lỗi con ! »
Excerpts from the journal of Blessed Mario Borzaga, 1959-1960
Trích từ Nhật ký của Cha Ma-ri-ô Gia, 1959-1960
✦ TUẦN I — THỨ BẢY
WEEK I — SATURDAY
Blessed Mario Borzaga
Chân phước Ma-ri-ô Borzaga Gia
(27.08.1932 – 01.05.1960)

Each day, we never have any lack of sick people to care for; many hours pass in this exercise of charity and of patience… We are about 15 people here at the mission— Fathers, students and catechists, including women and children—for whom we must provide bread, or rather, their daily rice…
Mỗi ngày, chúng con không bao giờ thiếu người bệnh để chăm sóc ; chúng con dành nhiều thời gian cho việc thực hành lòng bác ái và tính kiên nhẫn này… Chúng con có khoảng 15 người sống tại Nhà tông đồ này – những linh mục, sinh viên và giáo lý viên, bao gồm phụ nữ và trẻ em – chúng con cố gắng cung cấp cho họ lương thực hằng ngày – thay vì bánh mì, đó là cơm và nếp…
Furthermore, the directives of Propaganda Fide require that each missionary spend at least ten days a month among the pagans to evangelize them: that leaves hardly any time for me to rest on my laurels… But working like that is worth it; the Lord blesses our poor efforts.
Hơn nữa, sự chỉ dẫn của Thánh bộ Truyền giáo đòi hỏi mỗi nhà truyền giáo dùng ít là 10 ngày mỗi tháng để sống giữa những người ngoại giáo, để rao giảng Tin Mừng cho họ : như vậy chúng tôi không lãng phí phút nào để tự thoả mãn với vinh dự mình đã đạt… Nhưng làm việc như thế thật xứng đáng ; Thiên Chúa chúc lành cho những nỗ lực hèn mọn của chúng con.
As far as the war is concerned, our zone is still calm since the opening of the road crossing through our village from Vientiane to Louang Prabang; actually, the rebels stay away from the traveled roads. That having been said, one does sense the odor of danger; so you see our people keeping a watch on the village during the night. As for us, we move forward without fear; we will stop only when the Lord decides. We only need the grace of God. As for the rest, even though our material needs are immense, each day those things seem all the more superfluous.
Còn về chiến tranh, chúng con ở khu vực này vẫn giữ bình tĩnh vì có con đường băng qua làng của chúng con từ Viêng Chăn đến Luông Pha Băng ; thực ra quân du kích đang ở xa tuyến đường này. Nói thế xong thì người nào cũng ngửi thấy được sự nguy hiểm ; cho nên người của chúng con luôn canh chừng ngôi làng suốt đêm. Về phần chúng con, chúng con tiến lên mà không sợ hãi ; chúng con sẽ chỉ dừng lại khi Thiên Chúa muốn như thế. Chúng con chỉ cần ân sủng của Ngài. Những thứ còn lại, ngay cả nhu cầu vật chất là rất lớn, thì mỗi ngày trôi qua những thứ đó dường như không còn quan trọng nữa.
Letter of Blessed Mario Borzaga to his uncle, a priest, 6 January 1960
Lá thư cha Ma-ri-ô Gia gửi chú, một linh mục, vào ngày 06/01/1960
❧ Sống năm tuần với các Chân phước Tử đạo Lào




