Thứ Năm, 29 Tháng Mười, 2026

Sống năm tuần với các Chân phước Tử đạo Lào — Tuần V

Sống năm tuần với các Chân phước Tử đạo Lào

Sống năm tuần với

CÁC CHÂN PHƯỚC TỬ ĐẠO LÀO

Tuần V — Suy gẫm và Cầu nguyện

TUẦN V — CHÚA NHẬT

WEEK V — SUNDAY

Blessed Jean Wauthier, o.m.i.

Chân phước Gioan Wauthier Thiều

(22.03.1926-16.12.1967)

For three years, I have been with the refugees who have gone underground. They fled by the thousands at night, in the rain, in the cold mist of the mountain tops. They hardly brought anything except their children. They prefer to live in the jungle, lacking almost everything, but free. There are times when we need more freedom than we need rice. There are perhaps 30,000 to 40,000 of them.

Trong vòng ba năm, tôi đã sống với người tị nạn đang phải lẩn trốn. Hàng ngàn người đã phải trốn đi vào giữa đêm, trong trời mưa, giữa cái lạnh của đỉnh núi cao. Họ hầu như không thể mang theo bất cứ thứ gì ngoại trừ những đứa con của họ. Họ chọn sống trong khu rừng, nơi thiếu thốn hầu như mọi thứ, nhưng được tự do. Nhiều khi người ta cần đến tự do hơn là lúa gạo. Có lẽ số người tị nạn lên đến 30.000 – 40.000 người.

My family doesn’t say anything. They accept it. “They keep these things in their hearts,” like all the families of missionaries. That’s undoubtedly why their far-off sons can do something. The flowers and the fruits bud forth, but the root is thousands of miles away from there.

Gia đình tôi không nói bất cứ điều gì. Họ chấp nhận. Họ « hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng », giống như cha mẹ các nhà truyền giáo. Ắt hẳn đó là lý do khiến những đứa con xa nhà có thể làm được điều gì đó tốt đẹp. Cây đã sinh hoa trái, nhưng gốc rễ lại ở cách xa hàng ngàn kilomét.

As a priest, I am alone. But there are all the people. Because of the war, I live very close to them. It is they who made my house, just like one of theirs: a rectangle of 8 x 6 m (26 x 20 ft.), with a dirt floor, a roof of leaves, walls of bamboo… Often I work with them. They know that I need them for food, for lodging, for protecting me in an emergency. In exchange, when the occasion presents itself, I am the nurse, the teacher, and I try to give them the Lord “always more abundantly”.

Nếu tính các linh mục thì cả vùng chỉ có mình tôi. Nhưng quanh tôi còn có đông đảo dân chúng. Vì chiến tranh nên tôi sống rất gần gữi với họ. Chính họ đã làm nhà cho tôi, cũng giống như căn nhà của họ : hình chữ nhật 8 x 6 m, sàn bằng đất, mái bằng lá cây, tường bằng phên tre… Tôi thường làm việc cùng với họ. Họ biết rằng tôi cần đến họ vì thức ăn, vì chỗ ở, và để bảo vệ tôi khi khẩn cấp. Đổi lại, khi có cơ hội, tôi trở nên một ý tá, một giáo viên phục vụ cho nhu cầu của họ, và cố gắng trao cho họ chính Chúa « luôn dồi dào hơn ».

Interview of Blessed Jean Wauthier for the review Famille Éducatrice, November 1966

Cuộc phỏng vấn của cha Jean Wauthier dành cho tờ báo Famille Éducatrice, 11/1966.

TUẦN V — THỨ HAI

WEEK V — MONDAY

Blessed Jean Wauthier, o.m.i.

Chân phước Gioan Wauthier Thiều

(22.03.1926-16.12.1967)

“It was while going to visit a handful of catechumens… for he had his knapsack on his back.” That was the Jean Wauthier whom we mourn… His life: it was a Gospel life; in the North of Laos, in a region near the border with Vietnam and its war, he was the only priest. A good part of each month in a village of 800 Christians, he was often on a perilous trek in the mountains. Like Jesus, he went along doing good.

« Sự kiện đã xảy ra trong khi cha đi thăm một vài người dự tòng... Thực vậy cha có chiếc ba-lô trên lưng. » Đó đúng là Cha Gioan Thiều, người mà chúng ta thương tiếc... Cuộc sống của cha là một trang Tin Mừng. Ở phía Bắc nước Lào, trong khu vực gần biên giới Việt Nam giữa chiến tranh, cha đã là linh mục duy nhất. Phần lớn thời gian trong tháng cha sống ở một ngôi làng có 800 Kitô-hữu, nhưng thường xuyên cha trên hành trình đi bộ nguy hiểm giữa vùng núi cao. Cũng như Chúa Giêsu, đi tới đâu là cha thi ân giáng phúc tới đó.

“I want to be like Him,” he said, “because I am a missionary. In telling them of Christ, it means to care for their whole life, according to their needs.” He lived in the midst of his own, joined with them in their very lives.

Cha nói : « Tôi muốn đồng hình đồng dạng với Ngài, bởi vì tôi là một nhà truyền giáo. Cho họ biết về Chúa Kitô có nghĩa là chăm sóc cho toàn bộ đời sống của họ, tùy theo nhu cầu của họ. » Cha đã sống “ở giữa người nhà mình”, và nhập gia hoàn toàn trong nếp sống của họ.

“We are Christians; we work together; we help everyone,” he said. He knew what was awaiting him in this region of poverty and insecurity. He had already experienced the executioner’s gun when he was saved as if by a miracle. How did that impress him? “Not so terrible,” he told himself. “There it is, the time to offer my life for them.” Last December 17, eight days before Christmas, the sacrifice was offered.

Cha nói : « Chúng tôi là những Kitô hữu ; chúng tôi làm việc cùng nhau và giúp đỡ tất cả mọi người. » Sống trong khu vực nghèo đói và bất an ấy, cha đã biết những gì đang chờ đợi mình. Một lần rồi, cha đã nếm mùi của súng trong tay người hành hình, lúc ấy cha đã được cứu như một phép lạ. Khi người ta hỏi về cảm giác, cha trả lời : « Không tuyệt hảo mấy ! Mình nghĩ bụng “Đây rồi, tới lúc mình phải hiến dâng mạng sống vì họ.” » Ngày 17/12 vừa qua, một tuần trước lễ Giáng sinh, lễ hy sinh đã viên mãn.

Homily of Archbishop Henri Jenny at the memorial Mass for Jean Wauthier, 27 December 1967

Bài giảng của Tổng giám mục Cambrai (Pháp) trong lễ đưa chân cho cha Gioan Thiều, 27/12/1967

TUẦN V — THỨ BA

WEEK V — TUESDAY

Five Oblate Martyrs

Năm vị Hiến Sĩ tử đạo

(1961-1969)

I met Fathers Joseph Boissel, Vincent L’Hénoret, Jean Wauthier, and then Fathers Leroy and Coquelet: they were all admirable missionaries, ready for every sacrifice, living very poorly, with an unlimited dedication.

Con đã gặp các cha Giuse Sơn, Vinhsơn Lĩnh, Gioan Thiều, và sau đó là hai cha Lu-y Vương và Micae Liệu : họ là những nhà truyền giáo đáng ngưỡng mộ, sẵn sàng cho mọi hy sinh, sống rất nghèo, với tâm tình hiến dâng không giới hạn.

During those troubled times, all of us, each one more or less, wanted to be a martyr, “to give one’s whole life for Christ.” We were not afraid to risk our lives and to venture into the socalled dangerous areas. The missionary team in Laos was deeply united among themselves and closely united around their bishop.

Trong những thời điểm khó khăn ấy, tất cả chúng con, không ít thì nhiều, đều có ước muốn trở thành những tử đạo, « hy sinh mạng sống cho Chúa Kitô ». Chúng con không sợ liều tính mệnh và mạo hiểm đi vào các khu vực được gọi là vùng nguy hiểm. Giữa các Hiến sĩ truyền giáo tại Lào có một sự hiệp nhất sâu sắc, và họ đoàn kết chặt chẽ xung quanh vị giám mục của mình.

We were all focused on going to the poorest people, to visit the villages, to care for the sick, and especially to proclaim the Gospel. All of the murdered fathers lived deeply their religious and missionary life:
• Joseph Boissel was a big-hearted man, quite a character, with his frank speech, deeply religious, a man of prayer, faithful to district meetings, very affable within the community.
• The same for Jean Wauthier, a man of action, skilled of hand, a good organizer and very generous.
• Fathers Leroy and Coquelet were very pious and very faithful to their religious exercises.
• Vincent L’Hénoret was very dedicated and very close to the people, a good religious and very fraternal in community.

Tất cả chúng con chú tâm vào việc đến với những người nghèo nhất, thăm các làng bản, để chăm sóc các bệnh nhân, và đặc biệt là để loan báo Tin Mừng. Tất cả những cha bị sát hại đều sống đời tận hiến và sứ vụ truyền giáo của họ một cách sâu sắc :
• Cha Giuse Sơn là một con người tốt bụng, khá cá tính với lối nói thẳng thắn, sống sâu sắc đời sống dâng hiến, cầu nguyện thường xuyên, trung thành với các cuộc họp cấp hạt, và rất nhã nhặn trong cộng đoàn.
• Cha Gioan Thiều cũng y như vậy, lại là một người hoạt động, khéo tay, có khả năng tổ chức tốt, và là một người cao thượng rộng rãi.
• Hai cha Vương và Liệu rất sùng đạo và rất trung thành với các đòi hỏi của đời sống tu trì.
• Cha Vinhsơn Lĩnh rất tận tâm và rất gần gũi với người dân, là một tu sĩ gương mẫu, và có tình huynh đệ cao trong cộng đoàn.

I thank the Lord for having been able to live for 24 years in the beautiful Mission of Laos, and for having met, from the North to the South of Laos, some remarkable missionaries: Oblates in the North and the M.E.P. in the south.

Con cảm tạ Chúa vì con may mắn được sống 24 năm trời trong Sứ vụ Lào đẹp đẽ ấy ; và vì con đã được gặp, từ Bắc chí Nam của đất nước Lào, những vị truyền giáo đáng khâm phục, cả Hiến sĩ ở miền Bắc lẫn Thừa sai Ba-lê ở miền Nam.

Fr. Joseph Pillain, o.m.i., Letter to Fr. Nicola Ferrara, o.m.i., 13.03.1999

Lá thư của cha Giuse Pillain, o.m.i., gửi cha Nicôla Ferrara, o.m.i., 13/03/1999

TUẦN V — THỨ TƯ

WEEK V — WEDNESDAY

Blessed Lucien Galan, m.e.p.

Chân phước Luxian Galan Lâm, m.e.p.

(09.12.1921-12.05.1968)

It’s peace that we lack here; there’s always war, the little war, not very lethal but aw-fully bothersome. You always have to be on your guard, armed with patience and prudence. The apostolate is suffering because of it. Yet by seeking, we find souls of good will who are looking for the truth; but we cannot do all that we would want for them. We should not complain too much however; the situation could be much worse. We can still do missionary work and even reap the fruits, not abundantly perhaps, but enough to believe that we’re not working uselessly. In spite of everything, we hope for better days. “Fear not, little flock; I have conquered the world.”

Điều mà chúng con còn thiếu ở đây chính là hòa bình. Chiến tranh liên miên, một cuộc chiến nho nhỏ không làm nhiều người chết, nhưng phiền phức vô cùng. Mình luôn phải cảnh giác, cùng với sự kiên nhẫn và cẩn trọng. Việc tông đồ cũng bị ảnh hưởng nhiều. Ấy thế mà khi nhẫn nại tìm kiếm, chúng con vẫn tìm ra được những tâm hồn thiện chí đang đi tìm chân lý ; nhưng chúng con không thể làm cho họ tất cả những gì mình mong muốn. Tuy vậy, than phiền nhiều cũng chẳng làm được gì ; tình hình có thể sẽ tệ hơn rất nhiều. Chúng con vẫn có thể làm công việc truyền giáo và thậm chí còn gặt hái được hoa trái, không quá nhiều, nhưng đủ để tin rằng chúng con đã không làm việc uổng công. Dù sao đi nữa, chúng con đang trông mong những ngày tốt đẹp hơn. « Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, Thầy đã thắng thế gian. »

I am still in the danger zone, surrounded by mines. The jungle inhabited by tigers and serpents is not dangerous, but when men decide to play a game of war there, it becomes dangerous and it’s always the innocent who suffer. I am limited in my apostolic or other movements. I am going to spend Christmas in a so-called liberated zone; I’ll have to go through the curtain of mines.

Con vẫn ở trong vùng nguy hiểm, họ đặt mìn ở xung quanh. Khu rừng chẳng đáng sợ, cho dù có cọp beo hay rắn rít ; nhưng khi người ta định chơi trò chiến tranh ở trong đó, thì rừng trở nên nguy hiểm, và những người bị tổn thương luôn là những người vô tội. Cả việc tông đồ lẫn sinh hoạt thường nhật của con đều bị giới hạn. Nhân dịp lễ Giáng Sinh này con sẽ đi làm việc ở một nơi được gọi là “vùng giải phóng”. Để đi đến đó con phải lách qua “bức màn mìn” nói trên.

Letters of Blessed Lucien Galan to a priest friend, 12 September 1961 and 16 December 1962

Trích hai lá thư Chân phước Luxian Lâm gửi bạn thân, một linh mục, 12/09/1961 và 16/12/1962

TUẦN V — THỨ NĂM

WEEK V — THURSDAY

Blessed student catechist Thomas Khampheuane

Chân phước Tôma Khâm Phương

học trò ở trường Giáo lý viên

(05.1952-12.05.1968)

My son, Thomas Khampheuane, born in May 1952, was killed in an ambush at the same time as Father Lucien Galan, on May 12, 1968. A bullet in the head: he died in the field. With another teenager, he was accompanying the Father who was going out to proclaim the Christian faith and say Mass in a mountain village. The guerilla had forbidden movement there and did not want any priest; they detested the priests of the Christian faith.

Con trai của con, Tôma Khâm Phương, sinh tháng 5 năm 1952, đã bị giết trong một cuộc phục kích, đồng thời với cha Luxian Lâm, vào tháng 5 năm 1968. Bị bắn vào đầu, cháu chết liền tại chỗ. Cùng với một người bạn trẻ, cháu đang đồng hành với một linh mục ; cha ấy đi dạy đức tin Ki-tô giáo và dâng thánh lễ ở một làng trên núi. Quân du kích cấm người ta đi lại. Họ chẳng muốn có một linh mục nào hiện diện trong vùng, và cực kỳ ghét các linh mục truyền bá Kitô giáo.

This was a terrible shock for my family. My wife died of sorrow. I too was troubled and I have no longer been able to teach catechism. The bishop came to see us; he offered some money to compensate us a little for our loss. Words failed us, but we said no, for it was evident that for us, our son had died for Jesus. In spite of our sorrow, my wife, my daughter and I were in agreement on one point, on the meaning of the death of Thomas: he had given his life for Christ. People told us: your son is lucky; he died with the priest and will certainly go with him to Heaven. That’s what we believe too. If one day the Church designates him as a martyr and a saint, my family will be very happy.

Cái chết ấy là một cú sốc lớn cho gia đình con. Vợ của con đau buồn quá đỗi mà chết. Con quá khổ tâm, sau đó không thể dạy giáo lý được nữa. Giám mục đến gặp chúng con và đưa chúng con ít tiền để bồi thường một phần cho sự tổn hại đó. Chúng con thực sự không biết nói gì, nhưng đã từ chối, vì rõ ràng là con trai của chúng con đã chết vì Chúa Giêsu. Mặc dù đau buồn lắm, nhưng con, vợ con và con gái của con hoàn toàn đồng ý về một điều là ý nghĩa của sự ra đi của con trai : Tôma đã hiến dâng sự sống của mình vì Đức Ki-tô. Người ta nói với chúng con : con của anh chị thật may mắn, cậu bé đã được chết cùng với một linh mục và chắc chắn cậu sẽ lên Thiên Đàng cùng với cha ấy. Chúng con cũng tin điều đó. Nếu một ngày nào đó Giáo Hội sắc nhận cháu là một vị tử đạo và một vị thánh, gia đình con sẽ rất hạnh phúc.

Testimony of the father of Blessed Thomas Khampheuane, who died a martyr at the age of 16

Lời chứng của thân phụ sinh viên Tôma Khâm Phương, tử đạo ở tuổi 16

TUẦN V — THỨ SÁU

WEEK V — FRIDAY

Blessed Joseph Boissel, o.m.i.

Chân phước Giuse Boissel Sơn, o.m.i.

(20.12.1909-05.07.1969)

Who says that the Fathers are foreigners? Who says that the Fathers are no good? Who says that we are traitors because we profess the religion of the Fathers? Father Boissel lies dead before us, there, right now. His life is the answer to our questions and to our faith. If he is not good, why does heaven not thunder and the plague not gobble him up? Why was he moved with impatience and solicitude to join his children in the village of Hat-I-Et? Only his devotion for his children whom he loved urged him toward them, without thinking about his own blood, his flesh, his life.

Ai dám nói rằng các linh mục là người nước ngoài ? Ai dám nói rằng họ là những người không tốt ? Ai dám nói chúng tôi là những kẻ phản bội đất nước vì tuyên xưng đạo của các linh mục ? Cha Sơn nằm chết trước mặt chúng ta, ở ngay đây, chính lúc này. Cuộc sống của ngài là câu trả lời cho những câu hỏi của chúng ta, và cho đức tin của chúng ta. Nếu ngài không tốt thì tại sao trời không nổi sấm chớp, tại sao bệnh dịch hạch không ăn ngấu xác của ngài ? Tại sao ngài hăng say ra đi mau mắn, ân cần đến với những người con của ngài ở làng Hăt-I-Ệt ? Sự tận tụy dành cho con cái mà cha mến chuộng, đó là lý do duy nhất đã thúc giục ngài đi đến với họ mà chẳng màng sống chết.

You notables, you teachers who have known and visited Father Boissel, you know and remember that he was a good man, generous with the people and with the poor. Even though he was a man direct in words and who “sneezes loudly,” remember his goodness which he showed wherever he went. “The earth that covers the face for five hundred years cannot make us forget love,” says the poet, for Father Boissel was an example, a source of the love of Christ for us. Neither the rain which falls nor the waters that rumble can erase the bright red blood of Father Boissel which scars this Laotian land.

Quý vị chức sắc, quý vị giáo viên, những người đã từng biết và thăm viếng cha Sơn, quý vị biết và nhớ rõ rằng ngài là một người tốt, rộng lượng với mọi người và nhất là người nghèo. Mặc dù ngài là người thẳng thắn trong lời nói, một người có khi “nói như hét”, chúng ta hãy nhớ đến lòng nhân từ của ngài, điều mà mỗi người thấy được ở bất cứ nơi nào ngài đến. Nhà thơ viết : « Ngàn năm đất phủ mặt người, / Tình yêu hằng sống muôn đời chẳng phai1 ! » Cha Sơn thực sự là một thí dụ, một cội nguồn của tình yêu Chúa Ki-tô dành cho chúng ta. Cả nước trên trời mưa xuống hay chảy xiết dưới sông cũng không thể phai nhòa dòng máu đào của cha Sơn đã hằn sâu trên mảnh đất Lào này.

Homily of Father Pierre Douangdi OMI for the funeral of Blessed Joseph Boissel, 8 July 1969

Bài giảng của cha Phêrô Đuang Đi, o.m.i. trong lễ tang chân phước Giuse Sơn, 08/07/1969

1 Dịch sát hơn ra tiếng Việt : « Đất bùn phủ lên khuôn mặt trọn năm trăm năm, / Tình yêu không thể chôn vùi quên đi ! » Hay : « Ngàn năm đất phủ mặt đi, / Nhưng tình yêu vẫn chẳng suy chút nào ! »

TUẦN V — THỨ BẢY

WEEK V — SATURDAY

Blessed Catechist Luc Sy (1938-07.03.1970),

and Blessed Phô Inpèng, layman, fathers of families (1934-07.03.1970)

Chân phước Luca Si Đức Hy, Giáo lý viên và Maisăm “Bố Nhân Bình”, giáo dân

Luc Sy was a catechist who carried out his mission well. Every month, he made a report. Everything was noted: prayers, care and visits of the sick, communion for the sick, baptism of children, marriages, finances. He worked in the mountains, in the “hot” zones. He loved others; he was a man who shared, a helpful man. He made no distinctions between Christians and non-Christians. The day we spent together on the eve of his death, he prayed all day long, from morning till evening without interruption. In the evening when I saw him, he told me: “Now I am ready.”

Giáo lý viên Luca Đức Hy là người thực hiện tốt sứ mệnh của mình. Mỗi tháng, cậu soạn một bài báo cáo ghi lại mọi thứ : giờ cầu nguyện, việc chăm sóc và thăm viếng bệnh nhân, trao mình Thánh Chúa cho họ, rửa tội cho trẻ em, lễ cưới ; và báo cáo về tài chính. Cậu làm việc ở một miền núi cao, trong “vùng nóng”. Cậu yêu thương tha nhân, sẵn sàng sẻ chia và giúp đỡ người khác. Cậu không phân biệt lương-giáo. Vào ngày trước khi cậu bị sát hại, chúng tôi đã tĩnh tâm với nhau ; cậu cầu nguyện cả ngày dài, không hề nghỉ. Vào buổi tối đó, khi tôi gặp lại cậu, cậu nói với tôi : « Bây giờ con đã sẵn sàng ! »

Phô Inpèng was a new convert who had been a captain in the army before becoming a Christian. His was a family of refugees. He was a leader; he took charge of organizing the little Christian community. Luc Sy took care of the liturgical aspect and he took care of the day to day affairs of the community. I trusted him totally. He really loved God and was proud to be a Christian and a Catholic. He volunteered to accompany us, Luc Sy and me, when the two of them were killed in an ambush.

Maisăm (quen gọi “Bố Nhân Bình”) là một tân tòng ; trước khi trở lại đạo, anh từng làm đại úy trong quân đội. Gia đình anh là người tị nạn. Anh có khả năng lãnh đạo ; ở làng đã đảm nhiệm việc tổ chức cộng đoàn Kitô hữu nhỏ bé. Trong khi Đức Hy phụ trách về mặt phụng vụ, Maisăm lo toàn bộ sinh hoạt hàng ngày của cộng đoàn. Riêng tôi hoàn toàn tin tưởng anh. Anh thực sự yêu mến Chúa và tự hào là có đạo, là một Kitô hữu. Ngày ấy, anh tự nguyện đi sứ vụ với Đức Hy và tôi ; lúc về cả hai anh bị sát hại trong một cuộc phục kích.

Testimony of an eye-witness, a deacon who today is a bishop,

about Blessed Luc Sy and Blessed Maisam Phô Inpèng

Lời chứng của một chứng nhân, một phó tế và bây giờ là Giám mục

Sống năm tuần với các Chân phước Tử đạo Lào

Bài viết khác