Bí Ẩn Ngôi Nhà của Đức Trinh Nữ
(Le Mystère de la Maison de la Vierge)
ÊPHÊSÔ: NGUYỆN ĐƯỜNG « MERYEM ANA EVI »
HAY NHÀ ĐỨC MARIA,
XƯA KIA ĐƯỢC GỌI LÀ PANAYA KAPULU,
NGHĨA LÀ « NHÀ CỦA ĐẤNG RẤT THÁNH »
Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpas, cùng với bà Maria Mađalêna.
Khi thấy thân mẫu và người môn đệ Người thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: « Thưa Bà, đây là con của Bà. »
Rồi Người nói với người môn đệ: « Đây là mẹ của anh. »
Kể từ giờ đó, người môn đệ đón bà về nhà mình.
Tin Mừng theo Thánh Gioan, chương 19, câu 25-27.
Bí ẩn về Ngôi Nhà của Đức Maria tại Êphêsô là hình ảnh phản chiếu của một bí ẩn rộng lớn hơn nhiều: đó là những nơi Đức Maria đã cư ngụ sau cái chết và cuộc thăng thiên của Con Bà là Đức Giêsu.
Những công trình nghiên cứu cho đến ngày nay vẫn chưa thể soi tỏ hoàn toàn các chi tiết về cuộc đời của Đấng đã cẩn thận tìm cách sống ẩn dật, để các Tông đồ giới thiệu Đức Kitô như trung tâm duy nhất cho sự quan tâm và tìm kiếm của con người mọi thời đại.
Thánh Phaolô, người mà các thư của ngài luôn giữ một sự im lặng đầy kính trọng về con người của Đức Maria, hẳn đã lo ngại — và lo ngại là đúng — rằng người ta sẽ vội vàng so sánh Mẹ Đức Kitô với Artemis, nữ thần lớn của Êphêsô. Mối nguy ấy không hề là tưởng tượng. Chẳng phải chính ngài, trong một chuyến hành trình tại Anatolia, đã suýt bị người ta tôn làm thần ở Icôniô (Konya) đó sao? Và về sau, vào thế kỷ IV, người ta chẳng phải đã thấy những phụ nữ thuộc phái Collyridia dâng lễ tế lên Đức Trinh Nữ Maria đó sao?
Tuy nhiên, nếu trong những thế kỷ đầu, mối quan tâm của các Kitô hữu trước hết phải hướng về con người của Đức Giêsu, thì việc về sau người ta tìm cách biết thêm chi tiết về cuộc đời của Mẹ Đức Kitô, nhất là về những nơi Mẹ đã trải qua những năm cuối đời, cũng là điều tự nhiên.
Mục đích của chúng tôi không phải là thực hiện một nghiên cứu đầy đủ về vấn đề Đức Trinh Nữ hiện diện tại Meryem Ana, mà chỉ là, trong phần thứ nhất, chứng minh qua Kinh Thánh và các tác giả Giáo hội từ thế kỷ I đến thế kỷ VI sự kiện Thánh Gioan và Đức Maria đã hiện diện tại Êphêsô.
Chúng tôi chủ ý gác lại vấn đề Đức Maria qua đời tại Giêrusalem, một luận điểm chỉ xuất hiện vào thế kỷ VII. Trong phần thứ hai, chúng tôi sẽ thuật lại lịch sử cuộc khám phá ngôi nhà-nguyện đường vào thế kỷ XIX, kèm theo một vài yếu tố về khảo cổ học, các cuộc hành hương và thái độ của hàng giáo phẩm đối với đền thánh Đức Mẹ này.
ĐỨC MARIA TẠI ÊPHÊSÔ
Một đoạn trong Tin Mừng theo Thánh Gioan dường như gợi ý cho chúng ta về việc Đức Trinh Nữ đến Êphêsô. Theo một truyền thống đáng tin cậy, Thánh Gioan đã viết sách Tin Mừng của mình cho các tín hữu Êphêsô. Vì thế, bản văn của ngài phản ánh những câu hỏi mà người Êphêsô tự đặt ra và đặt ra cho ngài, cùng những câu trả lời ngài dành cho các Kitô hữu ấy. Trong số mọi câu hỏi, hẳn có một câu thường được nêu lên. Câu hỏi đó liên quan đến vai trò của Phêrô và của Gioan: Tại sao Đức Maria luôn ở với Gioan mà không bao giờ ở với Phêrô? Đó là một điều khiến người ta rất đỗi ngạc nhiên.
Thật vậy, Đức Trinh Nữ lẽ ra đã có thể ở, ít ra là thỉnh thoảng, bên cạnh người mà Đức Kitô đã đặt làm thủ lãnh hữu hình của Hội Thánh Người. Vì thế, Gioan, dù không thích những giai thoại về bản thân, và dù không muốn nêu tên mình hay đề cao mình, đã ghi vào sách Tin Mừng vài câu như một lời giải đáp cho vấn đề mà các Kitô hữu Êphêsô thắc mắc, và có lẽ còn làm một số người trong họ băn khoăn. Do đó, cần phải làm sáng tỏ vấn đề Đức Trinh Nữ hiện diện bên cạnh Gioan tại Êphêsô.
Thần học, lòng đạo đức và huyền nhiệm học chỉ có thể dựa một cách gián tiếp vào một bản văn mà chính ngôn từ của nó quy chiếu về lịch sử (« kể từ giờ đó ») và về địa lý (« về nhà mình, trong nhà mình »). Đối với ai yêu mến Thánh Gioan và muốn cảm thông với ngài, thật khó mà tưởng tượng rằng ngài đã muốn kể cho người Êphêsô một giai thoại chỉ vì thích kể về chính mình, hoặc rằng chỉ từ « giờ » ấy của cuộc Khổ Nạn ngài mới thực sự « đón » Đức Trinh Nữ về với mình, điều mà ngài đã không làm ngay từ lần đầu gặp gỡ Mẹ Đức Kitô.
Được chính Đức Giêsu trao phó cho nhau, Đức Maria và Gioan hẳn đã tôn trọng một trong những ước nguyện sau cùng của Đức Kitô. Nếu Gioan có thể rời Đức Maria một thời gian để đi truyền giáo, thì những lần vắng mặt ấy hẳn không kéo dài, và những nơi ngài đến cũng không quá xa chỗ Đức Maria cư ngụ.
Lúc đầu, có lẽ các ngài ở lại Giêrusalem, nhưng cộng đoàn Kitô hữu càng lớn mạnh tại thủ đô xứ Palestine, thì sự bực tức của giới lãnh đạo Do Thái càng gia tăng. Cuộc bách hại bắt đầu với việc phó tế Têphanô bị ném đá vào năm 36. Các Kitô hữu bấy giờ bắt đầu tản mác khắp miền Giuđê và Samari. Năm 41, vua Agrippa — cháu nội của kẻ đã giết các Thánh Anh Hài và là con của kẻ đã chém đầu Gioan Tẩy Giả — lên ngôi. Để lấy lòng thần dân, ông ra lệnh giết Giacôbê, anh của Tông đồ Gioan, và bắt giam Phêrô, thủ lãnh Tông đồ đoàn. Cộng đoàn vô cùng xao động. Đức Maria khi ấy hẳn đã gần 60 tuổi; Mẹ vẫn còn khỏe mạnh.
Thật khó nghĩ rằng Thánh Gioan, vào lúc mọi Tông đồ đều rời Palestine, lại liều mình ẩn náu cùng Đức Maria ở đâu đó tại Palestine, trên núi hay trong sa mạc, hoặc bỏ Đức Maria ở lại một mình tại Palestine, nhất là khi sử gia Êusêbiô nói rõ rằng vào thời kỳ ấy ngài đã ra đi sang Asia. Với tâm tình của ngài và lòng kính trọng ngài dành cho những ước nguyện sau cùng của Đức Kitô, hẳn ngài đã đưa Đức Maria đi theo, để Mẹ được sống bình an.
Ngoài ra, có hai điểm đáng lưu ý: trước hết là sự im lặng của Thánh Kinh về giai đoạn đời Gioan từ năm 37 đến năm 49; kế đến là việc danh hiệu Tông đồ của Asia không được dành cho Phaolô, dù ngài đã lưu lại miền này nhiều năm. Hơn nữa, khá lạ lùng và thật đáng ngạc nhiên khi thấy, vào năm 50, Phaolô và Sila băng qua miền Phrygia và Galát, là những vùng nằm ở phía bắc Êphêsô, vì Chúa Thánh Thần đã cấm các ngài rao giảng lời Thiên Chúa ngay tại « Asia » Theo Thánh Gioan Kim Khẩu, lý do là vì Gioan đã có mặt ở địa hạt Asia này từ một thời gian và đang thiết lập Hội Thánh tại đó.
Sau cùng, nếu Gioan chỉ đến Êphêsô vào năm 67, sau cuộc tử đạo của Phaolô, thì làm sao ngài, khi sức lực đã bắt đầu suy giảm, có thể đi khắp những nẻo đường gian nan đến bảy Hội Thánh của sách Khải Huyền — những Hội Thánh mà ngài quan tâm đặc biệt chính vì đã đích thân viếng thăm? Và nhất là làm sao người ta lại có thể tôn ngài danh hiệu « Tông đồ » của Asia — một danh hiệu dành cho những vị sáng lập các Giáo hội — nếu Giáo hội Êphêsô, do Phaolô thành lập, khi ấy đã có 25 năm tuổi?
Vậy, theo những dữ kiện của Thánh Kinh, mọi sự dường như cho thấy Đức Maria và Gioan đã đến Êphêsô vào khoảng năm 42.
Mặc dù cho đến nay chúng ta chưa có một bia ký nào liên quan đến việc Gioan lưu lại Êphêsô, nhưng nhiều văn bản thế kỷ II và III vẫn khẳng định với chúng ta sự thật của sự kiện này.
Xin kể ra, trong số đó, Thánh Irênê, Pôlycarpô, Hippôlytô, Êusêbiô, Clêmentê thành Alexandria, Ôrigênê. Thế mà tất cả các tác giả này chỉ viết vài năm sau khi Thánh Gioan qua đời. Thánh Irênê, mất năm 203, đã biết Thánh Pôlycarpô, môn đệ của Tông đồ Gioan. Như vậy, ngài rất gần với các biến cố, và chứng từ của ngài khẳng định rằng Gioan đã viết Tin Mừng tại Êphêsô có một trọng lượng vô cùng lớn. Cũng hết sức đáng chú ý là lá thư thứ hai của Pôlycratê, giám mục Êphêsô, gửi Đức Giáo hoàng Thánh Victor (189-199), trong đó nhắc rằng mộ của Gioan ở tại Êphêsô. Clêmentê thành Alexandria, mất năm 215, và nhà thông thái Ôrigênê (185-253) cũng nói với chúng ta về cuộc đời và cái chết của Gioan tại thủ phủ miền Asia.
Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ trước khi được trùng tu
Còn Êusêbiô (265-340), sử gia lớn của Giáo hội sơ khai, thì tuyên bố rằng vào thời kỳ bách hại tại Giêrusalem, « các Tông đồ đã tản mác, và Gioan đã sống tại Asia và qua đời tại Êphêsô ». Ít có điểm nào trong lịch sử cổ đại được một « đám mây » tác giả đông đảo như thế làm chứng, như vấn đề Gioan hiện diện tại Êphêsô.
Dĩ nhiên, người ta không nói trực tiếp về Đức Maria, nhưng ta biết rằng trong thời kỳ khởi đầu của Hội Thánh, các văn bản chỉ nói về những người được đặt làm « tông đồ và cột trụ của Hội Thánh », còn Đức Maria thì vẫn tiếp tục, có thể nói như vậy, cuộc sống ẩn dật của mình.
Tuy nhiên, có một tác giả thế kỷ IV đáng được nhắc đến cách đặc biệt.
Thánh Êpiphaniô, người đã sống ở Giêrusalem hoặc ở Giuđê cho đến năm 52 tuổi (315-403), viết: « Trong khi người ta khẳng định rằng Gioan đã đi sang Asia một thời gian, thì không ở đâu nói rằng ngài đã đem Đức Thánh Trinh Nữ theo làm bạn đồng hành; về điểm này, Thánh Kinh hoàn toàn im lặng ».
Người ta có thể trả lời Êpiphaniô rằng việc không nhắc đến chuyến đi của Đức Maria sang Êphêsô chẳng chứng minh được điều gì. Thánh Kinh chỉ chứa đựng bản tóm lược những chân lý cứu độ. Nếu sách Công vụ Tông đồ dường như không biết đến việc Phêrô ghé qua Antiôkia, cũng như việc ngài lưu lại và tử đạo tại Rôma — những điều mà ta biết chắc chắn qua các nguồn khác — thì tại sao lại trách sách ấy đã im lặng về việc Gioan sang Asia và đem Đức Trinh Nữ theo?
Nhưng bản văn của Êpiphaniô, dù ngoài ý muốn, lại mang đến thêm một luận cứ — và là một hậu thuẫn vững chắc — cho luận điểm về sự hiện diện của Đức Maria tại Êphêsô.
Thật vậy, tác phẩm mà chúng tôi vừa trích dẫn, cuốn Panarion, công kích một số đan sĩ dựa vào gương của Gioan và Đức Maria tại Êphêsô để chính họ sống chung với các nữ tu, coi đó là một lý tưởng đời tu. Công đồng Ancyra (314) và Thánh Giêrônimô (347-407) đã lên án tập tục đang có chiều hướng lan rộng này. Vậy còn gì dễ hơn cho Êpiphaniô là bịt miệng những « Agapetae » này (người ta gọi những tu sĩ cho rằng sống chung với nữ tu là điều tốt như thế) bằng cách nói thẳng với họ: « Đức Maria luôn ở lại Giêrusalem. Chúng tôi đã thấy mộ của Bà ở chỗ nọ. Bà chưa bao giờ sống với Gioan tại Êphêsô ».
Một lập luận như thế hẳn đã không thể bác bỏ. Thế nhưng, trước những Agapetae — những người, dù sống tại Giêrusalem, vẫn thuật lại truyền thống rằng Gioan và Đức Maria đã sống tại Êphêsô — Êpiphaniô đành im lặng. Ông chỉ có thể dùng để chống lại họ những luận cứ thuộc lãnh vực luân lý. Về vấn đề Đức Maria tại Êphêsô, ông không có gì để phản bác ngoài « sự im lặng » của Thánh Kinh: thái độ của ông hoàn toàn là phòng thủ trước những đối thủ đưa ra một luận cứ tích cực từ truyền thống.
Thánh Giêrônimô (347-419), một trong những thẩm quyền lớn nhất về địa hình Giêrusalem thế kỷ IV, cũng không hề ám chỉ ở đâu đến một ngôi mộ Đức Maria nằm trong Thành Thánh hay vùng phụ cận. Dĩ nhiên ngài có nói đến vườn Giệtsêmani, nhưng chỉ như nơi Đức Giêsu đã cầu nguyện vào đêm trước khi chịu chết, và nơi người ta đã xây một nhà thờ để ghi nhớ biến cố đó. Nếu ngài đã thấy tại chính nơi ấy một công trình nào được xây trên mộ Đức Maria, thì với tư cách một sử gia tận tâm, hẳn ngài đã không bỏ qua mà không ghi lại. Sự im lặng của vị học giả thế kỷ IV này thật hùng hồn. Hơn nữa, vào thời Thánh Giêrônimô, trên thế giới đã có một nhà thờ dâng kính Đức Maria. Nhà thờ ấy ở tại Êphêsô. Ai cũng biết rằng năm 431, Công đồng chung thứ ba đã họp tại Êphêsô. Mục đích của Công đồng là long trọng công bố tín điều Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, tín điều mà Nestorius, giám mục Constantinople, không chấp nhận. Công đồng được triệu tập tại ngôi thánh đường duy nhất trong toàn thế giới lúc bấy giờ được dâng kính Đức Maria. Vương cung thánh đường này đã được xây vào thời hoàng đế Constantinô, sau sắc lệnh Milanô. Việc đền thờ Kitô giáo này đã được dâng kính Đức Maria ngay từ trước Công đồng Êphêsô được biết đến qua nhiều cách: không chỉ lá thư triệu tập Công đồng do Thánh Cyrillô thành Alexandria gửi đi làm chứng, mà còn cả khoảng mười hai đoạn trong Văn kiện Công đồng và một bia ký của giám mục Hypatius († 537). Điều này cực kỳ quan trọng. Thật vậy, ta biết rằng trong những thế kỷ đầu, người ta chỉ dâng kính một nhà thờ cho một vị thánh nào đó tại chính nơi vị ấy đã sống những năm cuối đời hoặc đã chịu tử đạo. Vì vậy, việc có một nhà thờ kính Đức Trinh Nữ tại Êphêsô, và chỉ tại Êphêsô mà thôi, là một bằng chứng vững chắc rằng Đức Maria đã kết thúc cuộc đời tại thành phố này.
Do đó, có thể kết luận rằng, dù không có văn bản nào trước thế kỷ VI khẳng định rõ ràng rằng Đức Trinh Nữ đã sống tại Êphêsô, nhưng rất nhiều dấu chỉ từ thế kỷ II đến thế kỷ VI cho phép chúng ta suy ra điều đó một cách chính đáng.
VỊ TRÍ NGÔI NHÀ ĐỨC TRINH NỮ (MERYEM ANA)
Grêgôriô thành Tours (538-594), người mà trong tác phẩm của ngài, lịch sử và truyền thuyết đôi khi đan quyện chặt chẽ với nhau, là tác giả Giáo hội đầu tiên nói đến một nguyện đường đáng kính nằm trên một ngọn núi gần Êphêsô. Ngài viết: « Trên đỉnh một ngọn núi gần Êphêsô, có bốn bức tường không mái; Gioan đã cư ngụ bên trong những bức tường này ».[7]
Phải chăng chính từ bản văn này, hay từ những bản tường thuật của các du khách, mà người ta đã đi đến chỗ nói về một nguyện đường?
Trong lãnh vực như thế này, không nên vội khẳng định, cũng không nên hoài nghi theo định kiến.
Dù sao đi nữa, việc tại Êphêsô, trên núi Bülbül Dağ, có một ngôi nhà xưa kia Đức Maria đã ở, là truyền thống của người Kirkindji. Người ta gọi như thế cư dân của một ngôi làng nhỏ cách Meryem Ana 17 km; hằng năm, vào ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời, dân làng lên hành hương tại đền thánh. Họ nói rằng chính từ nơi này Đức Trinh Nữ đã được đưa về trời. Người ta có thể ngạc nhiên khi nghe một khẳng định như vậy từ miệng những nông dân Chính Thống giáo này, trong khi toàn thể Giáo hội của họ, từ thời Trung Cổ, đều cho rằng Đức Maria đã kết thúc cuộc đời tại Giêrusalem. Tuy nhiên, điều đó chẳng có gì lạ khi ta nghĩ rằng những Kitô hữu này là hậu duệ đích thực của các Kitô hữu Êphêsô và, qua các cuộc bách hại, họ đã phải lánh nạn lên núi, ở phía đông Êphêsô. Dù đã dùng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, họ vẫn giữ những truyền thống của cha ông.
Những con người can đảm ấy, không ngần ngại đi bộ năm tiếng đồng hồ trên núi vào ngày hành hương, hẳn phải có một lý do nghiêm túc để gắn bó với tập tục này. Họ có một truyền thống, và như ông Poulin nói: « Truyền thống ấy, họ không bịa ra. Họ không nhận nó từ những người láng giềng, cũng không từ Giáo hội Chính Thống. Vậy từ ai? Họ trả lời: từ cha ông chúng tôi. Và hẳn họ phải biết rõ điều đó hơn ai hết ».
CUỘC KHÁM PHÁ
Năm 1881, một linh mục người Pháp thuộc giáo phận Paris, cha Gouyet, nảy ra ý định đến Êphêsô để kiểm chứng tính chính xác của phần mô tả Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ, như nữ thị nhân người Đức Catherine Emmerich (1774-1824) đã đưa ra trong cuốn sách « Cuộc đời Đức Thánh Trinh Nữ ».
Đức Cha Timoni, Tổng Giám mục Smyrna, đã khích lệ ý định của ngài và cử một thanh niên đi cùng ngài trong cuộc tìm kiếm. Vậy là cha Gouyet lên đường, mang trong cặp một mảnh giấy viết bằng tiếng Hy Lạp: « Xin hãy tôn trọng một lữ khách nghèo, vô hại và không có tiền bạc ».
Chuyến đi của ngài diễn ra suôn sẻ. Ngài quả quyết đã tìm thấy Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ và đã gửi báo cáo cho Đức Cha Timoni, cho giáo quyền giáo phận Paris và thậm chí cho cả Rôma. Nhưng không có kết quả.
Mười năm sau, nữ tu Marie de Mandat-Grancey cho cộng đoàn của mình tại bệnh viện Pháp ở Izmir đọc cuốn « Cuộc đời Đức Thánh Trinh Nữ » của Catherine Emmerich. Khi đọc xong chương kể về thời gian Đức Trinh Nữ lưu lại và qua đời tại Êphêsô, chị nói với cha tuyên úy của cộng đoàn, cha Jung, thuộc Dòng Lazarist (Tu hội Truyền giáo): « Êphêsô đâu có xa, rất đáng công đến đó xem thử. »
Cũng vào khoảng thời gian ấy, cha Eugène Poulin, Dòng Lazarist, Bề trên trường Sacré-Cœur (Thánh Tâm) ở Izmir, một nhà Do Thái học uyên bác và rất am tường các phong tục Do Thái, cũng nghiên cứu cuốn sách của Catherine Emmerich và quyết định tổ chức một cuộc thám hiểm đến Êphêsô. Dù không tự mình đi, ngài đã cử hai tu sĩ Lazarist, cùng với hai giáo dân Công giáo ở Izmir tham gia.
Ngày 27 tháng 7 năm 1891, bốn người lên đường. Tại Êphêsô, họ nhờ một người tên Mustafa, một người Hồi giáo da đen thông thạo vùng này, giúp đỡ.
Nhưng vì trước đó ít lâu, một linh mục Mekhitarist người Armenia Công giáo quả quyết đã tìm thấy điều gì đó ở Değirmendere (Thung lũng các cối xay), nên thay vì đi lên ngả Ayasuluk (Selçuk), họ đi vòng qua Azizié (Çamlık). Khi đến tu viện Chính Thống giáo Hy Lạp ở Değirmendere, cha Jung, trưởng đoàn, hỏi hai đan sĩ xem Đức Trinh Nữ đã qua đời ở đâu. Họ đáp: « Tại Giêrusalem ». Câu trả lời của họ cho thấy họ vẫn là những chứng nhân trung thành của truyền thống chính thức — nhưng muộn màng — của Byzantine về nơi an giấc của Đức Maria.
Vì chuyến đi đến Değirmendere không mang lại kết quả tích cực nào, bốn nhà thám hiểm quyết định nghỉ đêm tại Kuşadası và hai ngày sau thử lại, la bàn trong tay, xuất phát từ Ayasuluk, vừa đi vừa lấy cuốn sách của nữ thị nhân làm kim chỉ nam.
Ngày 29 tháng 7, vào khoảng 11 giờ, mệt mỏi, họ đến một cao nguyên nhỏ trồng thuốc lá. Khát nước, họ xin nước những người phụ nữ đang làm ruộng. Các bà đáp: « Chúng tôi hết nước rồi, nhưng các ông cứ đến tu viện, ở đó sẽ có. » Các bà đưa tay chỉ một ngôi nhà đổ nát.
Sau khi giải khát xong, bốn nhà thám hiểm nhìn quanh và sững sờ. Kìa! Ngôi nhà đổ nát, ngọn núi phía sau nhà, biển ở phía trước... đúng y như phần mô tả Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ của Catherine Emmerich. Kinh ngạc và xúc động, họ đọc lại đoạn văn mô tả ấy. Tuy nhiên, để cho lương tâm được yên, họ muốn khảo sát các đỉnh núi xung quanh. Quả thật, Catherine Emmerich nói rằng từ đỉnh ngọn núi, nơi Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ được xây trên sườn, người ta có thể nhìn thấy cùng lúc cả Êphêsô lẫn biển. Trong hai ngày, họ đi từ đỉnh này sang đỉnh khác, nhưng không ở đâu, ngoại trừ Meryem Ana, có thể thấy Êphêsô và biển cùng một lúc. Như vậy, dường như họ đã tìm thấy Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ. Vui mừng, họ trở về Izmir kể lại cuộc khám phá.
Cha Poulin, bề trên của cha Jung, dù đã gọi người anh em của mình là kẻ đùa cợt, cũng quyết định tự mình đến Êphêsô.
Mười lăm ngày sau cuộc thám hiểm đầu tiên, ngày 12 tháng 8, chính ngài leo lên núi rồi trở về Izmir, quyết tâm theo đuổi việc nghiên cứu vấn đề hấp dẫn này cách sâu xa và khoa học hơn.
Không chậm trễ, ngày 19 tháng 8, ngài lại lên đường đi Êphêsô lần thứ hai, đem theo cha Jung và bốn người Công giáo có học thức.
Suốt sáu ngày, tất cả ở lại hiện trường, chụp ảnh, đo đạc, ghi chép những dữ kiện quan trọng.
Đức Cha Timoni, Tổng Giám mục Smyrna, người chưa quên cha Gouyet và là người cha Poulin thường xuyên đến thăm, bấy giờ bắt đầu quan tâm nghiêm túc đến vấn đề nơi cư ngụ của Đức Trinh Nữ tại Êphêsô. Ngài thành lập một ủy ban có thẩm quyền, gồm bảy linh mục và năm giáo dân, do chính ngài làm chủ tịch.
Ngày 1 tháng 12 năm 1892, mười hai thành viên, Đức Cha dẫn đầu, lên Meryem Ana. Ủy ban ghi nhận sự tương đồng lạ lùng giữa phần mô tả của Catherine Emmerich và những tàn tích của Panaya Kapulu. Một biên bản, ký kết đúng thể thức, được lập ngay tại chỗ.
Giữa ngày 29 tháng 7 năm 1891, ngày cha Jung khám phá ra Panaya, và ngày 1 tháng 12 năm 1892, ngày Đức Cha Timoni lên Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ, nữ tu Marie de Mandat-Grancey đã nỗ lực để mua lại khu đất dưới danh nghĩa cá nhân của chị. Các cuộc thương lượng kéo dài từ ngày 15 tháng 1 đến ngày 15 tháng 11 năm 1892. Như vậy, chỉ mười lăm ngày sau khi nữ tu Marie de Mandat-Grancey mua được khu đất, Đức Cha Timoni mới lên đó.
Như sau này cha Poulin viết, Ngôi Nhà khi ấy « được bao quanh bởi tám cây tiêu huyền tuyệt đẹp. Bên kia những cây tiêu huyền, cách vài mét, về phía khe núi, một cây dương thanh mảnh tách khỏi khóm tiêu huyền và vươn ngọn thanh thoát, nhẹ nhàng lên cao như một mũi tên mảnh. Nguyện đường cổ kính hiện ra, đẹp đẽ và đáng kính, với một vẻ gì đó kín đáo, huyền bí, dưới chân những tảng đá lớn, dưới ngọn núi che chở và bao trùm nó, dưới những cây tiêu huyền phủ bóng mát che chở nó cách ân cần, và sau cùng là cây dương nhẹ nhàng vươn cao, như đang nhìn ra xa, như để báo hiệu từ xa kẻ thù đang tiến đến, hoặc như một cột cờ dùng làm điểm tập hợp, dường như đang gọi người hành hương: Hãy đến, chính là nơi đây » (Poulin, Lịch sử viết tay về Panaya, sổ 1, tr. 30).
« Đẹp đẽ và đáng kính », như cha Poulin viết, thì e là nói quá. Thực ra, nguyện đường không có mái và bốn bức tường ở trong tình trạng khá tồi tệ. Vì thế, nữ tu Marie de Mandat-Grancey đã dành một phần hồi môn của mình để sửa chữa nguyện đường và chỉnh trang khu đất.
Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1894, nhiều công trình đã được thực hiện. Người ta dẫn nước từ mạch suối, mở những lối đi mới dễ đi hơn, đắp những bậc đất bên dưới nguyện đường để làm vườn rau. Về sau, người ta xây một nơi trú cho khách hành hương và một ngôi nhà nhỏ cho các nữ tu. Mối bận tâm lớn vẫn là nguyện đường. Để không đụng chạm đến nó, người ta đã dựng phía trên bốn bức tường một khung mái lợp kính, tựa vào phía bên ngoài.
Người ta có thể bàn cãi về giá trị thẩm mỹ của một kiến trúc như thế; có lẽ người ta đã có thể làm tốt hơn; nhưng ít ra những tàn tích của Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ đã được tôn trọng.
Bên trong nguyện đường, kiến trúc sư Raymond Péré, tác giả của những bức bích họa tuyệt đẹp hiện vẫn còn thấy trong vương cung thánh đường Thánh Pôlycarpô ở Izmir, đã dựng một bàn thờ nhỏ bằng đá cẩm thạch.
Cũng vào khoảng thời gian này, người ta trồng ô-liu dọc con đường dẫn đến nguyện đường, và ở giữa đường, trên một bệ đá tự nhiên, người ta đặt một bức tượng Đức Trinh Nữ.
Sau khi sở hữu khu đất Meryem Ana trong 18 năm, năm 1910 nữ tu Marie de Mandat-Grancey chuyển quyền sở hữu sang tên cha Poulin. Năm năm sau, năm 1915, nữ tu Marie de Mandat-Grancey từ giã cõi đời này để về với Đức Bà Lên Trời.
Trong cuộc chiến tranh 1914-1918, khu đất bị quân đội chiếm đóng. Khi cha Euzet và cha Saint-Germain, hai tu sĩ Lazarist, lên Meryem Ana vào năm 1920, khung mái kính đã bị phá hủy, những cây sồi xanh đẹp đã bị đốn, bàn thờ vỡ tan từng mảnh. Bức tượng Đức Maria, bị ném xuống khe núi, đã được tìm lại: hai bàn tay tượng bị gãy. Bức tượng này lại bị dời đi vào năm 1926, nhưng đến năm 1931 đã được đặt trở lại vị trí danh dự.
Năm 1928, cha Poulin qua đời, để lại khu đất Meryem Ana cho cha Euzet bằng một bản di chúc viết tay.
ẢNH TRÊN: ĐỨC BÀ ĐÓN TIẾP VÀ HÀNG Ô-LIU DO CHA EUZET TRỒNG
ẢNH DƯỚI: NGUYỆN ĐƯỜNG MERYEM ANA VÀ BÀN THỜ NGOÀI TRỜI
Thế nhưng, năm 1917, Ngân khố Quốc gia đã đăng ký khu đất dưới tên của mình. Vì vậy đã có một vụ kiện. Trước hết, phải chứng minh rằng điền sản Panaya Kapulu là một « tarla » (đất canh tác) chứ không phải một « djebel » (núi). Kế đến, người ta chứng minh rằng bản di chúc đã được lập trước khi Bộ luật mới (theo mẫu Thụy Sĩ) có hiệu lực tại Thổ Nhĩ Kỳ. Cuối cùng, năm 1932, Tòa Phá án công nhận cha Euzet có quyền đòi một văn bằng sở hữu, chiếu theo di chúc của cha Poulin.
Năm 1947, lại có một mối đe dọa sung công mới, với lý do mọi khu rừng đều thuộc về Nhà nước. Người ta dễ dàng chứng minh rằng Meryem Ana không có những cây cối hợp thành một khu rừng theo đúng nghĩa.
Sau cùng, năm 1951, cha Euzet, với sự đồng ý của Đức Cha Descuffi, Tổng Giám mục Izmir, đã hiến tặng khu đất cho một hiệp hội (Panaya Kapulu Derneği), về sau trở thành « Meryem Ana Derneği », được Nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ công nhận và cho phép quyên góp quỹ để trùng tu và làm nổi bật hơn đền thánh Kitô giáo cổ kính này.
Chính nhờ các công trình của Hiệp hội này, cùng với sự giúp đỡ của ông Quatman và Tiến sĩ Gschwind, mà nguyện đường và khu đất đã được tôn tạo. Về phần mình, năm 1950, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ, nhận thấy giá trị du lịch của thánh địa Kitô giáo này, đã ra lệnh xây con đường mà ngày nay khách hành hương vẫn dùng để đến Meryem Ana.
KHẢO CỔ HỌC
Ngay từ năm 1892, hai thành viên của Trường Pháp tại Athens đã lên Panaya Kapulu và ra về với niềm xác tín rằng đền thánh này có niên đại rất xa xưa. Năm 1898, ông Carré, kiến trúc sư của chính phủ Pháp, sau một nghiên cứu tỉ mỉ, đã khẳng định rất rõ ràng rằng công trình có thể có từ thế kỷ thứ nhất. Đó cũng là ý kiến của ông Hogart ở Oxford, giám đốc các cuộc khai quật đền thờ Artemis tại Êphêsô, và của ông Rosetti, kiến trúc sư chính thức của chính phủ Ý. Nếu sau này cha Lagrange và ông Lambakis xếp việc xây dựng « Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ » vào một niên đại gần hơn, thì vẫn phải nhìn nhận rằng những nghiên cứu mới nhất cho thấy khá rõ phần móng của nguyện đường có từ thế kỷ thứ nhất. Ít ra đó là kết luận của Giáo sư Prandi, người sau đợt khai quật năm 1966 đã có thể kết luận — theo lời ông trình bày tại Đại hội Thánh Mẫu học Quốc tế ở Lisbon (1967) — rằng ngôi nguyện đường nhỏ đã bị quy định bởi một cái gì đó có từ trước, hình dạng của nó phải thích ứng với những bức tường xây cổ hơn mà những người xây dựng không muốn phá bỏ. Vị giáo sư lỗi lạc còn nói thêm rằng « ba ngôi mộ được phát hiện trong quá trình nghiên cứu cho thấy các thi hài được đặt quay về phía Meryem Ana », như dấu chỉ của một lòng tôn kính đặc biệt.
CÁC CUỘC HÀNH HƯƠNG
Cuộc hành hương đầu tiên đến Meryem Ana diễn ra năm 1896, năm năm sau khi khám phá ra « Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ ».
Theo lời kể của cha Euzet, hai chuyến tàu đã đưa từ 1.300 đến 1.400 khách hành hương từ Smyrna đến Êphêsô. Hơn một nửa số người này đi về phía núi và chẳng bao lâu bắt đầu leo lên. Thật là một cảnh tượng ngoạn mục khi thấy đoàn người uốn lượn trên những lối mòn quanh co, người đi bộ, người cưỡi lừa hay cưỡi ngựa, chỗ này thành từng nhóm khá đông, chỗ kia thành những hàng rời rạc. Có thể nói lúc ấy là thời kỳ anh hùng, vì không có con đường nào dẫn đến đền thánh, người ta phải leo lên bằng những lối mòn vất vả. Năm 1908, một linh mục Lazarist, kiệt sức vì leo núi, đã ngã quỵ và không bao giờ đứng dậy nữa, chỉ cách nguyện đường vài trăm mét.
Cuộc hành hương đầu tiên từ nước ngoài diễn ra năm 1906, do giáo sư Miner và cha Kayser dẫn đầu. Đoàn gồm 47 người, trong đó có 10 người Tin Lành.
Dù cho đến Thế chiến thứ hai không có cuộc hành hương lớn nào, người ta vẫn có thể ghi nhận rằng nhiều nhân vật nổi tiếng đã muốn đến xem Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ. Xin kể ra, trong số đó: cha Lagrange, cha Joüon, Đức Hồng y De Lai, Nam tước de Vaux.
Từ năm 1914 đến năm 1927, không một thánh lễ nào được cử hành tại đền thánh, và năm 1929, cha Euzet ghi nhận rằng nền nguyện đường đầy phân bò. Muốn khôi phục những truyền thống trước Thế chiến thứ nhất, các tu sĩ Lazarist và các Nữ tu Bác Ái đã tổ chức năm 1932, cùng với học sinh các trường, một cuộc hành hương đến đền thánh Đức Trinh Nữ. Bốn năm tiếp theo cũng đều như vậy. Tuy nhiên, từ năm 1937 đến năm 1949, không có cuộc hành hương nào lên Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ. Mãi đến năm 1949, Đức Cha Descuffi mới cử hành thánh lễ trong nguyện đường không mái cho một nhóm thiếu nhi thuộc hội Con Đức Mẹ đến từ Istanbul.
Có thể coi năm 1950 là năm mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử Meryem Ana.
Đó là năm tín điều Đức Mẹ Lên Trời được công bố tại Rôma. Đức Ông Gschwind, kinh sĩ giáo phận Basel, người bị cuộc chiến tranh 1939 giữ lại ở Istanbul và đã tận dụng thời gian lưu lại để nghiên cứu các cổ vật vùng Tiểu Á, dự định dẫn một đoàn hành hương đến Meryem Ana vào ngày 1 tháng 11, ngày công bố tín điều.
Cuộc hành hương này được loan báo cả trên báo chí Thổ Nhĩ Kỳ. Ngành du lịch Thổ Nhĩ Kỳ khi ấy đã cho xây một con đường giúp xe hơi dễ dàng lên đến tận gần nguyện đường.
Từ đó, du khách và khách hành hương đổ về đền thánh quanh năm. Người ta ước tính trong năm 1962 có khoảng một trăm ngàn Kitô hữu đã lên nguyện đường Đức Trinh Nữ. Và, một điều đáng chú ý, số người Hồi giáo cũng đông như thế.
Từ khi Đức Giáo hoàng Phaolô VI đến (ngày 26 tháng 7 năm 1967) và cầu nguyện trong nguyện đường, dòng người hành hương không ngừng gia tăng.
MERYEM ANA VÀ HÀNG GIÁO PHẨM
Như vậy, Đức Cha Timoni, Tổng Giám mục Izmir, đã chủ trì cuộc điều tra chính thức đầu tiên về Meryem Ana. Đó là vào cuối năm 1892. Nữ tu de Grancey thúc giục cha Poulin báo ngay cuộc khám phá lên Tòa Thánh. Nhưng cha Poulin muốn có trong tay càng nhiều dấu chỉ tích cực càng tốt. Năm 1895, Đức Lêô XIII gửi sang Đông phương một ủy ban đặc biệt có nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề các nghi lễ Đông phương. Ủy viên chính của ủy ban này là Cha Bề trên Eschbach, Bề trên Chủng viện Giáo hoàng Pháp. Khi nghe nói tại Palestine về cuộc khám phá Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ tại Êphêsô, ngài xin cha Poulin cử một người đồng hành để chính ngài đến tận nơi: cha Jung được chỉ định đi cùng ngài. Khi trở về Rôma, cha Eschbach đã tường trình với Đức Lêô XIII về sứ mạng của mình và cũng cho ngài xem những bức ảnh chụp Panaya Kapulu. Đức Thánh Cha đã xem xét và giữ lại các bức ảnh ấy.
Rất nhanh chóng, báo chí lớn đã nói về cuộc khám phá Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ. Đức Cha Timoni nhận trách nhiệm xuất bản tập sách nhỏ « Panaya Kapulu ». Đó là năm 1896. Đức Piô X và Đức Piô XI, sau khi biết đến các tập sách liên quan đến Panaya Kapulu, chẳng những không phản bác những luận điểm được bênh vực trong các tập sách ấy, mà còn khen ngợi các tác giả vì đã đóng góp vào một vấn đề còn nhiều tranh cãi như thế.
Năm 1931, người ta cử hành kỷ niệm 1500 năm Công đồng Êphêsô. Đức Cha Roncalli, tức Đức Giáo hoàng Gioan XXIII sau này, khi ấy là Khâm sứ Tòa Thánh tại Bulgaria, đã cùng Đức Cha Tonna, Tổng Giám mục Izmir, đến Vương cung thánh đường của Công đồng, nhưng vì không có đường nên không thể lên Meryem Ana.
Không thể không nhắc đến công trình to lớn của Đức Cha Descuffi, Tổng Giám mục Izmir từ năm 1937 đến năm 1966. Nhờ sự kiên trì của ngài, Meryem Ana đã trở thành một trung tâm lớn của lòng sùng kính Đức Mẹ.
Khi vị Tổng Giám mục Izmir, vì tuổi cao vượt xa giới hạn 75 tuổi do Công đồng ấn định, tự nguyện từ nhiệm sau 28 năm làm giám mục, Đức Thánh Cha đã khen ngợi ngài vì sự hy sinh ấy, và để tỏ lòng hài lòng, đã tặng ngài một chén thánh bằng vàng chạm nổi hình Thánh Tâm Chúa, Đức Thánh Trinh Nữ và Thánh Giuse, đồng thời bảo đảm với ngài rằng ngài chỉ đáng được khen ngợi về cách ngài đã chu toàn các bổn phận trong chức vụ của mình.
Bấy giờ, vị cựu Tổng Giám mục, xúc động đến rơi lệ, mạn phép mời Đức Thánh Cha đến thăm Thổ Nhĩ Kỳ. Đức Phaolô VI mỉm cười nói với ngài: « Ai biết được! Chúng ta sẽ gặp lại nhau! »
CUỘC VIẾNG THĂM MERYEM ANA CỦA ĐỨC PHAOLÔ VI VÀ ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II
Đức Phaolô VI đã giữ lời, và sau khi được đón tiếp nồng nhiệt tại Istanbul, ngài đã đến tôn kính Đức Bà Êphêsô tại Panaya Kapulu, ngày 26 tháng 7 năm 1967. Tòa Tổng Giám mục khi ấy vẫn còn trống. Vị tổng đại diện bị ốm, nhiều cha xứ đã đi nghỉ hè. Thế nhưng cuộc đón tiếp vị Giáo Hoàng vẫn không kém phần long trọng, nhờ sự góp sức của các tín hữu và các thành viên của Phái bộ Hoa Kỳ. Tiến sĩ Karl Gschwind, cùng với cô thư ký đáng kính Hélène Schndler, đã có mặt.
Đức Phaolô VI, được đám đông tung hô hộ tống, đã đích thân bước vào đền thánh Panaya, một vinh dự mà ngài đã không dành cho ngôi mộ ở Giệtsêmani trong chuyến viếng thăm Đất Thánh. Ngài đã cầu nguyện lâu giờ trước bàn thờ Đức Bà Êphêsô. Chính ngài đã thắp ngọn đèn chầu mà ngài mang theo, đặt trong một chân đèn có chạm huy hiệu của ngài, để đối xứng với cây nến Lễ Dâng Chúa vào Đền Thánh mà Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã gửi đến, như ngài đã làm cho mọi đền thánh lớn của Đức Trinh Nữ.
Sau hành vi sùng kính này tại đền thánh, nơi gợi nhớ thời gian không thể chối cãi mà Đức Mẹ Thiên Chúa (Theotokos) đã lưu lại tại Êphêsô bên cạnh Thánh Gioan, Đức Giáo Hoàng đã đến nghỉ ngơi một giờ trong nhà của các Nữ tu Bác Ái.
Để tưởng nhớ nữ tu Marie de Mandat-Grancey, người sáng lập Panaya, ngài đã để lại cho Bề trên đương nhiệm của các Nữ tu một chén thánh bằng vàng cho nhà nguyện của các chị. Trước khi ra về, ngài đã nhận lời chào kính của các thành viên hàng giáo sĩ đã cùng lên Panaya với ngài, và của các thành viên Hiệp hội (Dernek), những người đã dâng tặng ngài một tấm bảng bằng vàng trên đó có khắc tinh xảo hình đền thánh Meryem Ana.
Vị kế nhiệm ngài, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, ngày 30 tháng 11 năm 1979, trong chuyến ghé qua Êphêsô, đã chỉ đến duy nhất Meryem Ana, nơi ngài cử hành Thánh lễ trước một đám đông khách hành hương và du khách đầy sốt sắng.
Những cuộc hành hương của các vị Giáo Hoàng này, tuy không mang lại yếu tố mới nào về mặt tín lý hay khảo cổ, nhưng ít ra cũng có ưu điểm là làm cho toàn thế giới, qua báo chí và truyền hình, biết đến « Bí ẩn Ngôi Nhà Đức Trinh Nữ ».
SƠ ĐỒ NGÔI NHÀ
Chú thích sơ đồ: Salle de séjour = Phòng khách · Chambre à coucher = Phòng ngủ · Foyer = Lò sưởi · Porte de la Maison = Cửa Nhà · Narthex VIe siècle = Tiền đường, thế kỷ VI · Porte de la Chapelle = Cửa Nguyện đường
Đức Phaolô VI hành hương Meryem Ana ngày 26 tháng 7 năm 1967
Đức Gioan Phaolô II hành hương Meryem Ana ngày 30 tháng 11 năm 1979
Sách Công vụ Tông đồ, chương 14, câu 11 và tiếp theo.
Theo cách gọi của người Rôma thời bấy giờ, từ « Asia » chỉ dùng riêng cho miền Êphêsô.
Adversus Haereses (Chống lạc giáo) III, 1, 1.
Migne, PG 20, 279.
Lịch sử Giáo hội III, 1.
Panarion 78.
Liber miraculorum (Sách các phép lạ) I, 30.



