Thứ Ba, 03 Tháng Mười Một, 2026

Sanliurfa và Harran: cái nôi của Abraham?

Sanliurfa và Harran: cái nôi của Abraham?

Theo truyền thuyết địa phương, Abraham sinh ra tại Sanliurfa, ở Thổ Nhĩ Kỳ, rất gần làng Harran, nơi ông nhận lời kêu gọi của Thiên Chúa. Trong thung lũng Kinh Thánh này sẽ ra đời một cuộc hành hương theo dấu chân vị tổ phụ chung của ba tôn giáo độc thần.

Một công viên rộng lớn dưới chân những vách đá sét, hàng chục xe buýt đổ xuống những đoàn người hành hương trùm khăn đen và lăng mộ Abraham được khảm trong vách đá: chúng ta đang ở Sanliurfa, giữa lòng miền Đông Thổ Nhĩ Kỳ. Hàng trăm tín đồ, trong đó có nhiều người Hồi giáo Shiite Iran, đến phủ phục trong đền thánh của vị ngôn sứ chung của ba tôn giáo độc thần. Một dòng chữ viết bằng tiếng Thổ, tiếng Ả Rập và tiếng Anh trang trí lối vào hang: « Đây là hang động nơi ngôn sứ Abraham sinh ra. » Ở đây, một người tu hành râu dài, quấn khăn, dẫn theo mẹ, vợ và các con gái. Xa hơn một chút, những nhóm khác cầu nguyện tại đền thờ Hồi giáo hoặc chờ đợi, bên bờ các hồ nước, cho đám đông tản đi.

Nếu ba tôn giáo của Sách đều đồng ý rằng Harran, cách đó ba mươi cây số, là thánh địa nơi Thiên Chúa kêu gọi Abraham, thì không tôn giáo nào nói rõ nơi sinh của vị tổ phụ. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, truyền thống dân tộc đã lấp chỗ trống này, đặt nơi sinh ấy tại Sanliurfa, cũng như thử thách lò lửa Ur Kassdim của truyền thống Do Thái, lò lửa cũng được nhắc đến trong Kinh Coran. Vách đá nhìn xuống thành phố từ nhiều thế kỷ nay lưu truyền một câu chuyện mà giờ đây đã trở thành một phần lịch sử của nó.

Một đêm kia, Nimrod, nửa thần nửa người, nằm mơ thấy ngai vàng của mình bị phá hủy. Các thầy bói giải thích giấc mơ là sự xuất hiện của một ngôn sứ mới, người sẽ đập tan quyền lực tuyệt đối của ông. Kẻ phản loạn chưa ra đời nhưng sẽ sinh ra trong năm ấy. Nimrod bèn ra lệnh giết tất cả phụ nữ có thai và các bé trai. Mẹ của Abraham giấu cái thai của mình trong hang động nổi tiếng, sinh con trai đầu lòng tại đó, che chở và nuôi dạy cậu trong nhiều năm mà không ai hay biết. Đến tuổi trưởng thành, vị ngôn sứ chống lại sự thống trị của các ngẫu tượng và luật lệ của Nimrod, thậm chí đập vỡ tượng các thần. Nhà vua cho bắt ông và ra lệnh ném ông từ trên vách đá Sanliurfa xuống một đống lửa khổng lồ mà vua đã cho chuẩn bị với tất cả cây cối và vật dễ cháy trong vùng. Vào lúc Abraham sắp chạm tới ngọn lửa, nhờ ơn Thiên Chúa, lửa biến thành nước và những khúc gỗ biến thành cá, từ đó được tuyên bố là linh thiêng. Đến nỗi ngày nay, hàng nghìn con cá chép ấy vẫn còn bơi lội đầy các hồ nước quanh hang động, là thú vui ưa thích của những người hành hương đến cho chúng ăn để tỏ lòng biết ơn.

Thành phố của đức tin

Cho đến năm 1963, thành phố mang tên Urfa, mà âm tiết đầu, Ur, khiến người Thổ nói rằng đây chính là thành Ur của người Canđê, nằm ở đây, tại vùng Thượng Lưỡng Hà. Từ năm ấy, tiền tố rất xứng đáng Sanli, « Vinh Hiển », được gắn cho nó.

Trong mọi tài liệu phát cho người hành hương, Bộ Du lịch Thổ Nhĩ Kỳ duy trì những gì truyền thống địa phương – vốn không thiếu óc tưởng tượng – làm chứng: Abraham và gia đình đã sống ở đây; Têrác, cha ông, đã chết tại đây. Cũng chính tại đây Lót đã chia tay chú mình là Abraham để đến Sôđôma, và Giacóp đã cưới Rakhen và Lêa, các con gái của Laban. Gióp đã trở nên giàu có trong chính thành phố này, và hang động đã che chở ông trong những ngày cuối của cơn bệnh là một chặng không thể bỏ qua đối với mọi người hành hương tốt lành. Ngôn sứ Êlia, đến gặp Gióp, được chôn cất ngay gần đó, tại một ngôi làng mang tên ông, Eyyub Nebi, nơi có lăng mộ tôn vinh ông. Cũng tại Sanliurfa, Môsê đã cưới Xíppora, con gái của Gíthrô, và nhận từ tay ông cây gậy kỳ diệu. Sau cùng, Chúa Giêsu đã gửi một lá thư chúc lành cho thành (lá thư viết bằng tiếng Hy Lạp, được lưu giữ gần đó, trong một hang động ở Kirkmagara) và cho trao Khăn Liệm Thánh cho vua của thành, Abgar Ukkama, người mắc một cơn bệnh kéo dài. Nhà vua khi ấy được khỏi bệnh cách lạ lùng và trở thành vị quân vương đầu tiên trở lại Kitô giáo. Biết bao lý do khiến Sanliurfa trở thành thành phố của đức tin, thành của các ngôn sứ.

Không tưởng liên tôn

Trong câu chuyện huyền thoại này, ta gặp nhiều âm vang của Kinh Thánh, của văn chương liên giao ước, của Kinh Coran; nhưng đối với các nhà khoa học, Sanliurfa quả thật đã là một trong những thánh địa đầu tiên của các tôn giáo nguyên thủy.

Từ năm 9000 trước Công nguyên, một vài thị tộc bắt đầu từ bỏ đời sống du mục để tập hợp thành làng, sống tại đó như những nông dân và chết tại đó. Những ngôi mộ có niên đại mười một nghìn năm, có các tượng hình thú bao quanh, đã được tìm thấy tại đây. Vào thiên niên kỷ thứ IV và III, Harran và Sanliurfa trở thành thành của các thần Assyria và Babylon, nơi các tinh tú mang ý nghĩa thần linh. Người ta tôn vinh sự ưu việt của Sin, thần mặt trăng, và của Shamash, thần mặt trời. Những tấm bảng đất sét tìm thấy ở thành cổ Mari, phía đông Syria, bên bờ sông Euphrates, nói đến một hiệp ước được ký trong đền thờ thần Sin tại Harran. Trên những tấm bảng khác cùng thời kỳ, các dòng chữ hình nêm đã lưu lại một hiệp ước giữa người Hittite và người Mitanni, được Sin và Shamash chấp thuận. Rồi thuyết độc thần xuất hiện, với Abraham là người khai mở. Nhưng ngay từ những thế kỷ đầu Công nguyên, vùng này dứt khoát hướng về Kitô giáo. Năm 639, cuộc chinh phục của Hồi giáo đưa khalip Omar đến Sanliurfa, nơi ông quét sạch trung tâm Kitô giáo này để thiết lập Hồi giáo, ngày nay chiếm đại đa số.

Trong thung lũng của đền thánh Abraham, hiện đang được phác họa một công viên liên tôn rộng nhiều hécta, sẽ mang tên « Vườn Đức Tin ». Trong không gian có cây xanh, với ghế ngồi, hồ nước và quầy giải khát này, sẽ mọc lên một hội đường Do Thái, một nhà thờ đại kết và một đền thờ Hồi giáo. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ muốn qua đó tái khẳng định tinh thần cởi mở mà họ đã chứng tỏ với một công viên tương tự ở Antalya, trên bờ Địa Trung Hải.

Ngay từ năm 2007, Sanliurfa cũng sẽ đánh dấu sự hiện thực hóa một sáng kiến liên tôn khác không kém nghiêm túc. Thật vậy, Đại học Harvard bảo trợ dự án một cuộc đi bộ độc thần, một cuộc hành hương trên « con đường của Abraham », khởi hành từ Harran, để đến Sanliurfa, Aleppo, Damas, Amman, Giêrusalem, cho đến Hêbrôn, tại Mộ các Tổ phụ, Makhpêla của người Do Thái, el-Khalil của người Hồi giáo (xem khung bài). Đặc biệt trong những vùng này, dự án này có thể bị coi là không tưởng. Nhưng chẳng phải biết bao dự định lớn lao đã bắt đầu như thế sao?

Lịch sử – thánh địa – Le Monde des Religions, tháng 1–2/2007, tr. 44–46

Theo bước chân vị tổ phụ

Sáng kiến « Con đường của Abraham » muốn mở ra một lộ trình tại Cận Đông, theo dấu chân vị tổ phụ. Một con đường liên văn hóa – có thể so sánh với con đường Compostela – qua các xứ sở của vị hướng đạo tâm linh của hơn ba tỷ tín đồ Do Thái, Kitô hữu và Hồi giáo.

Mục đích của Con đường này là khơi dậy sự tôn trọng, làm nổi bật và truyền bá các giá trị của sứ điệp Abraham: hiệp nhất, đức tin, công lý, hòa bình và lòng hiếu khách đối với mọi người. Trên nền những cuộc xung đột ở Cận Đông, Con đường và những hình ảnh các imam, linh mục và rabbi bước đi bên nhau sẽ góp phần khơi gợi trí tưởng tượng của hàng triệu người trên khắp thế giới, đánh thức sự tôn trọng lẫn nhau. Những sự kiện song song sẽ được tổ chức trong nhiều cộng đồng, tại nhiều quốc gia, dưới hình thức những « cuộc đi bộ của Abraham » nối các hội đường với các nhà thờ và đền thờ Hồi giáo. Con đường này, cũng là con đường cá nhân cho những ai đi trên đó, sẽ mang lại nhiều lợi ích khác: về kinh tế, tạo ra cơ sở hạ tầng địa phương mới; về nhân văn, khuyến khích sự hiểu biết lẫn nhau; về tôn giáo và văn hóa, cho một lý tưởng tôn trọng.

Dự án « Abraham Path Initiative » (www.abrahampath.org), được soạn thảo từ hai năm nay tại Đại học Harvard của Hoa Kỳ, phối hợp với các cộng đồng tôn giáo và chính trị trong vùng, vừa hoàn thành chặng đầu tiên. Vào tháng 11/2006, một phái đoàn tư vấn đã thực hiện chuyến đi lịch sử đầu tiên từ Sanliurfa ở miền Đông Thổ Nhĩ Kỳ đến Hêbrôn – El-Khalil, được đón tiếp rất nồng hậu và mở ra những hy vọng thực sự về việc hiện thực hóa, toàn phần hay một phần, ngay từ năm 2007.

 

Bài viết khác