Nụ hôn
Nụ hôn tượng trưng cho tình cảm gắn kết con người với nhau, và cử chỉ ấy đi kèm với việc diễn tả tâm tình. Chính qua những giọt nước mắt và những nụ hôn trao nhau mà ông Giuse đã để các anh mình nhận ra, dù họ từng muốn hãm hại ông vì lòng ghen tị (x. St 45, 15). Thiên sử thi về Giacóp và dòng dõi ông kết thúc bằng một nụ hôn, khi ông Giuse đưa các con mình đến trình diện cha lúc ông sắp lìa đời (x. St 48, 10). Nụ hôn cũng diễn tả sự kính trọng giữa các thế hệ: Ông Môsê ra đón nhạc phụ mình, sụp lạy và hôn ông; hai người chào hỏi nhau rồi cùng vào trong lều (Xh 18, 7). Bà Naômi và các con dâu góa bụa của bà, để nâng đỡ nhau trong lúc thử thách, đã ôm hôn nhau (x. R 1, 9.14). Ước gì chàng hôn tôi những nụ hôn miệng chàng, người yêu dấu thốt lên khi cất tiếng hát khúc tình ca của mình (Dc 1, 2). Chúa Giêsu ôm hôn các trẻ nhỏ và đặt tay chúc lành cho chúng (Mc 10, 16). Than ôi, cử chỉ trìu mến ấy cũng chính là cử chỉ của sự phản bội. Khi nói với Giuđa, Chúa Giêsu đã bảo: "Giuđa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?" (Lc 22, 48).
Christine Pellistrandi giảng dạy Kinh Thánh tại phân khoa Notre-Dame ở Paris. Bà đã xuất bản tại nhà xuất bản Cerf các tác phẩm Moi, Procla, femme de Ponce Pilate (2024) và Job l'Insoumis (2025).



