CHƯƠNG II : NHỮNG TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG ĐẦU TIÊN XUẤT HIỆN
(1030 - 586 trước Chúa Kitô)
Từ nửa thế kỷ 11, người Phi-li-tinh tăng cường áp lực và xâm nhập nội địa xứ sờ, nền an ninh Ítraen không còn lệ thuộc từng bộ lạc. Một chương trình cổ thời đã được nghiên cứu dưới thời Ghê-đê-ôn lại trở nên có tính cách thời sự: bắt chước theo những dân định cư khác, cần chỉ định một hoàng đế cai trị, có dân ủy quyền, làm thành một chính quyền trung ương mạnh và vững bền.
- Khôi phục nên quốc vương (1030 - 933)
Cứ như thế vào năm 1030, Saolê được lên ngôi tại Hếp-rôn, và chẳng bao lâu sau, ông đã phải đương đầu với một lực lượng đối kháng mạnh mẽ. Đa-vít được chọn, ông cai trị từ năm 1010 tới năm 970. Ông khuất phục các vua ca-na-an, xâm chiếm Giê-ru-sa-lem, làm thành thủ đô của mình. Khéo biết lợi dụng từng lúc suy đồi của Ai cập và Lưỡng Hà Địa (Mésopotamie), chẳng bao lâu ông đứng đầu đế quốc rộng lớn. Salomon, người con kế vị còn sáng chói hơn trên chính trường quốc tế, lúc ông từ trần, vào năm 933, các bộ lạc trước đây thù địch với nhau một thế kỷ qua đã yên ổn, ngày nay lại nổi lên và lúc này các vương quốc xuất hiện.
Việc thiết lập vương quốc đánh dấu một cơn khủng hoảng nặng nề lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa xưa đã giải phóng dân của mình, dường như đã bỏ rơi vào tay địch thù. Phải chăng vì vậy mà người ta đã cần dựng nên một ông vua? (I Samuen 1,87).
Tác phẩm Gia-vít
Thiên Chúa là ai? Tại sao lại có sự dữ? Từ nhiều thế kỷ chẳng phải Ngài đã kêu gọi dân và ký giao ước với dân đó ư? Ngài đã chẳng giải phóng dân của Ngài khỏi ách nô lệ và đưa vào xứ mà Ngài đã hứa ban tặng cho tổ tiên của họ sao? Thời gian khủng hoảng này, những vấn đề đó lại càng đặt ra một cách bi đát.
Và lúc đó, người ta bắt đầu đọc lại trang sử những biến cố quá khứ với cặp mắt hoàn toàn mới. Cứ như vậy, trong triều đại Salomon, khoảng năm 950, một tác giả vô danh, và có lẽ nhiều tác giả thời nước Giuđêa, gọi Thiên Chúa là Giavê, bởi vì tác giả đã gọi Thiên Chúa tạo dựng (Sáng thế 2,4b), dưới danh hiệu Gia-vê (vì thế gọi là những tác phẩm Gia-vít), bắt đầu từ những tài liệu cổ điển nhất, sáng tác lại, viết lại một khung cảnh lịch sử, cố gắng minh chứng Thiên Chúa đã không ngừng dẫn đưa vận mệnh của dân tộc Ngài, trải qua nhiều thử thách và gián đoạn.
Tác phẩm bắt đầu từ câu chuyện đại hồng thủy, tháp Baben (Sáng thế 2,4b-l 1,9), cho thấy Thiên Chúa là Đấng đã đưa dân Itraen ra khỏi Ai cập, thì cũng chính Ngài là nguồn gốc khời đầu của nhân loại. Nhưng chỉ vì nhân loại đã chống lại Ngài. Rồi góp nhặt những truyền thuyết về gia đinh trước đây độc lập lẫn nhau, kể lại lịch sử các tổ phụ (Sáng thế 12,33), lịch sử các con Gia-cóp, Itraen (Sáng thế 34-50), ơn gọi ông Môsê (Xuất hành 1-5), xuất Ai cập (Xuất hành 7-17), mạc khải trên núi Sinai (Xuất hành 19; 24), và Ítraen di dân vào đồng băng Mô-áp (Dân số 10-14).
Thiên Chúa Gia-vê là một Thiên Chúa hằng sống, thường có tính người trong các phản ứng, gần gủi với người, có tương quan với người một cách thân thiết. Đồng thời Ngài đòi hỏi con người phải trung thành đáp lại. Trong tác phẩm này, một đề tài chủ yếu cho phép hiểu rằng ai là Thiên Chúa, hiểu cái Ngài đã làm và Ngài không ngừng làm : chúc phúc cho dân tộc Ngài, và qua dân tộc đó, Thiên Chúa chúc phúc cho mọi dân tộc trên thế giới (Sáng thế 12,2-3):
"Ta sẽ làm cho ngươi trở nên một dân tộc lân mạnh,
Ta sẽ chúc lành ngươi
Ta sẽ làm cho danh ngươi được trọng đại
Ngươi hãy được chúc phúc.
Ta sẽ chúc phúc tất cả những người chúc phúc ngươi
Ta sẽ chúc dữ cho những ai hạ bệ ngươi
Và nơi ngươi, mọi gia đình trên trái đất sẽ được chúc phúc..."
Cùng một thời, hai tác phẩm lịch sử đã được viết ra. Trước hết, lịch sử Đa-vít lên ngôi (1 Samuen 16-2 Sammuel 5), sau đó, Đa-vít là vị vua chính thức đã được Thiên Chúa tuyển chọn để thay thế vua Saolê, cũng như để cho độc giả được xác tín hơn, tác giả đã không ngừng lặp đi lặp lại: Chúa đã ở với Đa-vít (1 Samuen 16,18; 17,37; 18,12.28; 2 Samuen 5,10). Rồi lịch sử kế vị Đavít (2 Samuen 9-20 và 1 Các vua 1-2), tác phẩm này gồm nhiều phần khác nhau. Phần cổ nhất là lịch sử cuộc nổi loạn của Absalom và câu chuyện cho chúng ta được biết có nhiều ứng cử viên kế vị ngôi vua Đavít, nhưng người xứng đáng nhất và có khả năng nhất không ai khác ngoài Salômon, người được Thiên Chúa mến yêu (2 Samuen 12,25).
Thánh ca và Tục ngữ
Vai trò của vua tiếp tục làm trọng tâm một số Thánh vịnh và Thánh ca. Vua chúa kể lại một số biến cố trọng đại trong cuộc đời mình. Chẳng hạn việc lên ngôi (Thánh vịnh 2; 21; 110), việc hôn nhân của vua (Thánh vịnh 45), vua trốn Absalom (Thánh vịnh 3), vua trẩy đi đánh giặc (Thánh vịnh 20), vua trở về chiến thắng (Thánh vịnh 18), các thời kỳ biến loạn và khủng hoảng (Thánh vịnh 89; 132). Câu đầu các Thánh vịnh thường ghi Thánh vịnh Đa-vít (TV 4,1; TV 8,1; TV 23,1; TV 51,1; TV 63,1; TV 143,1), những đề tựa ấy nhắc đi nhắc lại các Thánh vịnh đều thuộc về một tập lục kính đệ lên Vua; các tác giả phần nhiều là vô danh được tuyển chọn từ các thi sĩ của triều đinh và các ca trường (TV 18; 22; 31; 42; 66; 139). Những Thánh ca này là trung tâm khời đầu của sách Thánh vịnh về sau này.
Về triều đinh, đặc biệt triều đình Salômôn cũng có những Cách ngôn về hiền triết, về một nghệ thuật sống và tìm kiếm hạnh phúc; số lớn các bài Cách ngôn được mượn từ những nền văn hóa của các nước chung quanh, nhờ ảnh hưởng quốc tế của Salomon được phép lưu hành tại Do thái. Cũng như các Thánh vịnh, sách các câu Cách ngôn cũng vậy, phần chính (Sách Cách ngôn 10,1 - 22,16) là chép lại những bài cổ nhất. Chẳng hạn (Cách ngôn 12,1-4):
Người yêu mến sự giáo dục cũng yêu mến khoa học,
kẻ không ưa quở mắng là phường ngu dại
Người tốt lành được lòng Yavê,
Kẻ giảo quyệt, Người lên án.
Lòng độc ác chẳng lầm người ta nên vững,
Nhưng rễ của người ngay chính, chẳng gì lay chuyền.
Người nội trợ giỏi là triều thiên của chồng,
Nhưng người đàn bà mất nết là sâu khoét đục tận xương tuỷ.
- Vương quốc miền Bắc (933-722)
Vào năm 933, ngay sau khi Vua Salomon tạ thế, vương quốc kể từ đây chia làm đôi và thù nghịch nhau: nước Giu-đê ở miền nam và nước Ítraen ở miền bắc. Thời gian bại hoại bắt đầu. Đế quốc Átsua (Assyrie) lại hùng mạnh và đầy tinh thần xâm lăng. Vương quốc miền Bắc cố gắng chống cự nhưng các Vua đều thất bại. Một thế kỷ sau, cầu cứu Ai cập đến tăng cường giúp đỡ, nhưng Samaria, thủ đô của vương quốc miền Bắc đã bị thất thủ vào năm 722. Giới nhân sĩ của vương quốc bị lưu đày và các dân tộc ngoại lai đến chiếm chỗ của họ.
Các nhà thuyết giảng với một giọng văn mới:
Trong những hoàn cảnh đó, một số vị đã giữ vai trò quan trọng, như các tiên tri. Địa vị các Ngài độc lập với quyền bính tôn giáo và chính trị. Chính vì vậy, các Ngài trở nên những người không thể thay thế được. Như Samuen vào thế kỷ 11 (Samuen 3,1tt) và Na-than thế kỷ 10 (2 s 7,1tt), các Ngài vừa là những quan sát viên tinh anh về hoàn cảnh chính trị, vừa là những dụng cụ của Thiên Chúa. Trong hoàn cảnh này hoặc hoàn cảnh khác, lúc này hoặc lúc khác, sau các tư tế, vua chúa, trước mặt dân chúng, các ngài cho lời của Thiên Chúa được nghe cách quả cảm. Chính Thiên Chúa kêu gọi các Ngài giải phóng, tố cáo hoặc nói đến lời hứa.
Vào thế kỷ thứ 9, Ê-li-a và môn đệ của ông là Ê-li-sê viết tên của họ trong lịch sử như những người bảo vệ Thiên Chúa của Do thái một cách hùng mạnh chống lại tất cả những thần Canaan và thần Ba-an. Hành vi và ngôn ngứ các Ngài được thuật lại từ những khẩu truyền cổ nhất, từ sách Các vua (1Vua 17-21; 2Vua 1-10; 13,14-25).
Đây là một sáng kiến làm cho lời các Ngài càng được lắng nghe một cách đáng kể, ngoài ra còn cho phép chúng ta được biết đến các Ngài: một số đồ đệ quyết định viết thành sách những lời giảng dạy và thu thập lại thành từng tập lục cho dân chúng.
Hai trong các vị tiên tri ấy là A-mốt và Hô-sê, là những vị đầu tiên được hưởng những sáng kiến đó - chúng ta nên nhớ thứ tự các sách tiên tri được trình bày trong sách thánh của chúng ta hiện có, không theo thứ tự niên đại. Amốt, người chăn cừu tại làng Tê-kô-a phía nam Bê-lem, được Thiên Chúa sai đi (Am 7,15), năm 750, vào vương quốc miền Bắc, đến trung tâm hành hương danh tiếng Bê-then; nhưng lại bị tố cáo làm rối loạn trật tự công cộng và ông sớm bị trục xuất (Am 7,10...). Ông tuyên bố mặc dầu toàn quốc được thịnh vượng về kinh tế, nhưng án phạt của Thiên Chúa chống lại dân Ngài đã gần tới, nước sắp mất (Am 8,2), không ai thoát được (Am 9,1...); Do thái quả thực đã bị đế quốc Átsua xâm chiếm và phân tán thành từng mảnh vào năm 722.
Amốt công bố: án phạt này xảy ra là vì Do thái bất trung: người giàu lợi dụng người nghèo (Am 3,9-11; 4,1-3; 5,7; 6,12), việc thờ phượng Thiên Chúa có thể làm nguôi cơn giận Ngài (Am 4,4-5; 5,21-27). Thiên Chúa đã không bỏ dân Ngài đến thế; ai biết tu tâm dưỡng tính mà hối cãi sẽ được lòng Thiên Chúa (Am 5,14-15):
"Hãy tìm sự lành, đừng tìm sự dữ, ngõ hầu các người được sống.
Và như thế Giavê, Thiên Chúa các cơ binh,
sẽ ở với các ngươi, như các ngươi đã nói.
Lo ghét sự dữ, hãy mến điều lành,
đề cao công lý nơi công môn;
có lẽ Giavê Thiên Chúa các cơ binh,
sẽ ân xá cho số sót của Giuse".
Hô-sê, chính ông lại sống trong nước miền Bắc một ít năm sau Amốt, vào lúc Samari sắp sửa thất thủ vào năm 722. Người ta không biết gì về ông ngoài việc Thiên Chúa ban cho ông một người vợ là Gô-me, một cô gái làng chơi phục dịch trong một trung tâm ngoại đạo (Xuất hành 34,15...; 1Vua 14,24), và nàng đã sinh cho ông nhiều con cái. Câu chuyện bi đát này mang một ý nghĩa tượng trưng vì chính Do thái cũng đã bán thân mình cho các thần Ba-an và Canaan, nhưng chính Thiên Chúa trung thành cho dầu họ nhiều lần bất trung, Ngài tỏ tình yêu thương đến tột độ để mang Do thái trớ về như xưa.
Cuốn sách tiên khởi là câu chuyện tường thuật được viết dưới hình thức nhân vật thứ 3 bởi chính Hô-sê hoặc các bạn hữu (chương 1-3), sau khi Samari thất thủ câu chuyện được áp dụng vào nước Giu-đê, đồng thời được bổ túc bởi một tạp lục những lời tiên tri được kết lại như lời bình phẩm. Bản văn tiên tri Hô-sê thường có sắc thái gây xúc động; như lời thề hứa long trọng của Thiên Chúa (Hs 2,15-22):
"Ta sẽ hỏi tội nó về những ngày của các Ba-an, khi nó luân phiên cho chúng đốt lên hương khói khi trang điểm vòng vàng hoa tai
mà chạy theo các tình lang của nó.
Còn Ta, nó đã quên Ta - sấm của Gia-vê.
Cho nên, này Ta dụ dỗ nó, đem nó vào sa mạc
và kê lòng, Ta nói khó với nó.
Tự đó, Ta sẽ ban cho nó vườn nho
và trũng Vận xui làm cửa-vào hy vọng.
Ỏ đó, nó sẽ vọng lại như ngày còn thơ,
như ngày nó lên từ đất Ai cập...
Ta sẽ đính hôn với ngươi bằng đức trung tín,
và ngươi sẽ biết Gia-vê”.
Tác phẩm E-lo-hít
Thời đó tại triều đinh còn có các ký lục. Họ lần lượt ghi chép các hành động và sự kiện các vua chúa. Những bài viết này được thu thập lại trong một cuốn sách gọi là niên giám các vua Do thái (1Vua, 14,19 và 16,20...). Nhất là, người ta bắt đầu đọc lại lịch sử cổ thời Do thái để cố gắng tìm hiểu ý nghĩa mới cho thời cuộc hiện đại. Chính vì vậy, cũng như phái Gia-vít đã làm tại Giê-ru-sa-lem vào thời Salomon, thì một tác giả vô danh của vương quốc miền Bắc, vào năm 750, đã cố gắng đọc lại lịch sử nguồn gốc Do thái. Người ta gọi ông là tác giả Ê-lô-hít vì trước câu chuyện ông Môsê được ơn Chúa kêu gọi (Xuất hành 3) ông không gọi Thiên Chúa bằng danh xưng Gia-vê, nhưng bằng danh hiệu Ê-lô-him, "Đức Chúa Trời".
Tác phẩm này bao trùm thời đại Áp-ra-ham (Sáng thế 15 hoặc 22?) cho tới thời ông Giôsuê chinh phục đất Ca-na-an (Dân số 32), chịu ảnh hưởng hoàn toàn bởi lời rao giảng của các tiên tri. Thiên Chúa trong tác phẩm này xa vời hơn là trong tác phẩm Gia-vít; Thiên Chúa nói bằng giấc mộng chứ không nói trực tiếp (Sáng thế 20,3; 28,12...), bằng các Thiên thần (Sáng thế 21,17; 22,11) hoặc qua Môsê, vị trung gian (Xuất hành 20,19...). Để bài trừ tính cách bất trung của người đồng thời, tác giả thường nói tới vấn đề kính sợ Thiên Chúa = dân chúng phải tin tưởng, tôn kính, vâng lời Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh (Sáng thế 20,11; 22,12; 42,18; Xuất hành 1,17.21...), trong mối tương quan với đề tài thử thách (Sáng thế 22,1...). Tác giả đã ghi lại 2 bản luật cổ thời: bản Mười điều răn (Xuất hành 20,2-17) và bản Giao ước (Xuất hành 20,22 - 23,19) mà chúng ta đã kể trên.
- Vương quốc miền Nam (933-286)
Đương đầu với đế quốc Átsua, nước Giu-đê đã biết tỏ ra hòa hiếu hơn là Ítraen miền Bắc, nhờ đó tránh khỏi thất bại và ách nô lệ năm 722. Nhưng khi người Babylon kế vị người Átsua thì nước Giu-đê lần này quyết định kháng cự và tai họa đã xảy tới: năm 597 Hoàng đế Na-bu-cô-dô-nô-do xâm chiếm thành Giêrusalem, đày vua và một phần giới nhân sĩ sang Babylon, đặt vua mới tại Giêrusalem. Vua này đã nổi loạn vào năm 586, Giêrusalem bị phá bình địa vì sát hạ và phát hỏa; cuộc lưu đày lần thứ hai diễn ra: đó là thời kỳ Lưu đày. Vương quốc Giu-đê chấm tận.
Đệ nhị luật
Trong suốt thời đại này, hoạt động văn chương rất đáng kể. Biên Niên sử các vua Giu-đê (IVua 14,29), và sách Niên sử các vua Do thái (IVua 14,19), đựơc dùng để viết hai quyển Sách Các Vua. Cũng chưa hết. Khi Samari thất thủ năm 722, những người Ítraen di cư tị nạn tại Giêrusalem đã mang theo tác phẩm Ê-lô-hít. Nhằm nâng đỡ những cố gắng do vua E-giê-ki-át đã làm để bắt nhịp cầu 2 miền của xứ sở, người ta quyết định tổng hợp tác phẩm này với tác phẩm Gia-vít đã sáng tác tại Giêrusalem vào năm 950; như vậy, người ta nghĩ hai dân có thể có chung một lịch sử.
Nhưng dưới triều đại Giô-si-át (I2Vua 22) khi trùng tu Đền thờ, đã khám phá thấy cuốn sách sử : bản sơ khởi của sách Đệ nhị luật. Sau khi đọc, Vua lấy làm kinh ngạc, liền ra lệnh ngay, vào năm 622, thực hiện một cuộc canh tân tôn giáo, bãi bỏ các đền thờ địa phương và tập trung việc phụng tự về Giêrusa-em. Sách này, hơn tất cả các sách khác, nhấn mạnh đến lý do tại sao Thiên Chúa không thể chấp nhận việc dân Ngài tôn thờ các thần khác: Thiên Chúa yêu dân Ngài cách say mê. Vì thế Thiên Chúa hướng về dân Ngài cách trang trọng - như trong bản Tuyên xưng Đức tin của Ítraen vẫn còn được bảo tồn cho đến ngày nay (Đệ nhị luật 6,4-9):
"Hỡi Ítraen, hãy nghe đây!
Giavê Thiên Chúa của chúng ta là Giavê độc nhất.
Ngươi sẽ yêu mến Giavê Thiên Chúa của ngươi
hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết sức lực ngươi
Các lời Ta truyền cho ngươi hôm nay
ngươi hãy tạc dạ, ngươi sẽ lập lại cho cái ngươi;
và ngươi sẽ ôn lại khi ngươi ngồi nhà và khi ngươi đi đường;
khi ngươi nằm và khi ngươi dậy.
Ngươi sẽ buộc làm dấu nơi tay ngươi;
các lời ấy hãy là khăn chít nơi trán ngươi,
ngươi sẽ viết vào thành cửa nhà ngươi, và trên cửa nhà ngươi".
Bản dịch đầu tiên của Sách Đệ nhị luật khám phá trong Đền thờ, được coi là bản sao của Lề luật (Đệ nhị luật 17,18; Giôsuê 8,32), vì tính cách hoàn hảo và thích nghi của nó, lại còn bao gồm một số bản luật (Đệ nhị luật 12-26); Vì thế gọi là Đệ nhị luật. Hơn tất cả những luật trước đây, bộ luật này nhắc lại, Giao ước là nền tảng mọi giới răn của Thiên Chúa, dân Ngài phải vâng phục. Bộ luật nhấn mạnh đến sự liên đới giữa mọi thành phần của cộng đoàn, nhất là đối với những người yếu kém. Ngoài ra bộ luật nhấn mạnh vai trò chủ yếu của trung tâm phụng tự duy nhất tại Giêrusalem, những lề luật phát xuất từ đó tóm về một châm ngôn : chỉ một Thiên Chúa, một Đền thờ và một dân tộc.
Các tiên tri
Các tiên tri mới xuất hiện, vai trò của họ, một lần nữa, có tính cách quyết định trong những năm thử thách này. Isaia trước tiên, một người thuộc hàng quý tộc tại Giêrusalem mà Thiên Chúa gọi khi vua Ozias băng hà vào năm 740. Bỗng nhiên ông khám phá Thiên Chúa là Vua trời đất, trước nhan Ngài mọi quyền năng uy hùng nhất đều không đáng kể, và nơi Ngài dân có thể cậy trông dù bất cứ sự việc gì xảy đến. Nhiều lần tiên tri nài xin vua đặt tin tưởng duy nhất nơi Thiên Chúa. Vô ích. Akhaz muốn trờ nên chư hầu của Átsua. Đấng kế vị vua, ông Ezéchiaz, liên kết với Ai cập, vì thế gây ra cuộc xâm lăng khủng khiếp của đế quốc Átsua.
Các lời của tiên tri, được môn đệ thu thập, làm thành phần thứ nhất của Sách Isaia hiện thời (Isaia 1-39). Isaia tiên báo một vị vua mới sẽ đến, thuộc dòng dõi vua Đavít. Người sẽ tái thiết vương quốc trên những nền tảng mới - bản văn này là nền tảng niềm hy vọng Đấng Thiên sai sẽ đến vào cuối thời (Isaia 11,1-4):
"Một chồi sẽ xuất từ gốc Giêsê, và từ rễ nó, lộc sẽ mọc lên.
Trên Ngài Thần khí Giavê sẽ đậu xuống Thần khí khôn ngoan và trí tuệ,
Thần khí mưu lược và anh dũng,
Thần khí hiểu biết và kính sợ Giavê...
Ngài sẽ không phân xử theo mắt thấy,
và không đoán định phỏng chừng tai nghe.
Người sẽ phân xử công minh cho người hèn yếu.
Và đoán định ngay chính cho hạng người nghèo hèn trong xứ..."
Mikha, là một người miền Nam, gốc thung lũng Tây-Nam Giê-ru-sa-lem, sống đồng thời với tiên tri Isaia; như Isaia ông đã chứng kiến cảnh Samari bị thất thủ và sự sụp đổ hoàn toàn của vương quốc miền Bắc. Trước những bất công xã hội làm mòn mỏi dân tộc, ông mạnh mẽ lên tiếng tố cáo. Theo ông, những khốn khổ đến trên nước Giu-đê, đưa dân tộc bị đày ra ngoại quốc, sẽ đến từ đó. Thiên Chúa sẽ xét xử nhưng không bỏ dân Ngài đến thế : Đấng Thiên sai sẽ phát xuất từ Bê-lem, và dòng dõi Gia-cóp còn lại sẽ là trung tâm các dân như làn sương mới đến từ Thiên Chúa (Mikha 5,1-7). Vì, như ông kết luận (Mikha 7,18-20):
"Than nào giống được như Người, Đấng nhịn tội ác,
Đấng bỏ qua lỗi lăm cho số sót cơ nghiệp của Người ?
Người không cưu giận mãi mãi, vì Người yêu chuộng nhân nghĩa.
Với ta, Người lại chạnh lòng thương lần nữa, mà dẫm lên các tội ác của ta.
Mọi lỗi lâm của ta, Người sẽ quăng chìm đáy biển !
Với Giacóp, xin Người chứng tỏ lòng trung,
và với Abraham, tình nhân nghĩa
điều Người đã thề thốt với tổ tiên chúng tôi từ những ngày xa xăm thuở trước".
Ngoài ra còn phải nói đến các vị tiên tri Na-khum, Xô-phô-nia, Giôen, Kha-ba-cúc. Nhưng trong tất cả các tiên tri thời khủng hoảng này, vị lớn nhất không thể chối cãi được là tiên tri Giê-rê-mi. Sinh khoảng năm 650, con của một vị tư tế, ông sẽ chứng kiến tất cả những biến cố đau thương đã tàn phá Giêrusalem vào năm 586. Xác tín rằng cuộc xâm lăng Babylon là một điều không thể tránh được vì dân Ngài đã bất phục tùng Thiên Chúa, ông loan báo vào năm 608, trước Đền thờ, việc cần phải đền trả (Gr 26-27). Khi thành Giêrusalem bị xâm chiếm lần thứ nhất, và khi giới nhân sĩ bị bắt đem đi, ông đã viết một bức thơ gởi cho những người bị lưu đày. Trong đó, ông phác họa nét căn bản một chương trình sẽ mang đến một biến chuyển sâu xa cho việc lưu đày: tạo nên, giữa lòng các dân tộc, một cộng đoàn biến đổi không còn tìm danh vọng riêng cho mình nhưng thực hành công chính và giúp ích mọi người (Jérémie 25,9...). Vì với những ai thi hành công chính, Thiên Chúa hứa một giao ước mới, viết trong những con tim. Giao ước này sẽ tái lập những liên quan tồn tại đến muôn đời với Ngài và vơi tha nhân (Gr 31,31-34):
"Này sẽ đến ngày - sấm của Giavê.
Ta kết với nhà Ítraen và nhà Giu-đê, một Giao ước mói,
không phải như Giao ước ta đã kết với cha ông chúng,
ngày Ta cầm tay chúng để đem chúng ra khỏi Ai cập.
Chúng đã hủy bỏ Giao ước của Ta
mặc dầu Ta là Chúa tể của chúng - sấm của Giavê.
Vì này là Giao ước Ta sẽ kết với Ítraen sau những ngày ấy - sấm của Giavê - Ta sẽ đặt luật của Ta vào bên giừơng chúng và Ta sẽ viết trên tim lòng chúng;
Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng, chúng sẽ là dân của Ta.
Chúng sẽ không còn, mối người, phải dạy bảo nhau, mỗi người phải nói với anh em mình :
"Hãy biết Giavê!"
Vì hết thảy chúng đều biết Ta, từ kẻ bé đến người lớn, - sấm của Giavê".



