Kinh Thánh (1) Trước ngưỡng cửa Lịch sử (1800-1030 trước Thiên Chúa giáng sinh)
Mặc dầu cả một trời biển giấy tờ, sách vỏ, Sách thánh vẫn tiếp tục đoạt kỷ lục tiêu thụ trên thị trường. Mười triệu cuốn xuất bản hằng năm, hơn ba trăm thứ tiếng cho toàn bộ Kinh thánh, gần bảy trăm thứ tiếng nguyên cho Tân Ước, hai ngàn thứ tiếng cho các sách hoặc một phần của sách thánh. Một con số thật kỳ diệu. Dù người ta nói thế nào đi nữa, Sách thánh vẫn không bao giờ bị bỏ quên.
Một cuốn sách lâu đời
Thánh kinh là một cuốn sách lâu đời. Yếu tố lâu đời nhất có từ thế kỷ 13, trước Đức Kitô, và những đoạn mới nhất bắt đầu từ thế kỷ thứ 2 sau Đức Kitô. Sách thánh có gì hấp dẫn? Nhất là đối với thời đại con người chỉ ham muốn những điều mới lạ?
Thánh kinh chỉ là một cuốn sách cho hai tôn giáo: Do thái giáo và Kitô giáo, và số tín hữu không đến 1/5 dân số hoàn cầu, làm sao Thánh kinh lại có thể đứng vững trên bình diện quốc tế? Sau cùng, tại các nước Âu châu, nơi có đạo lâu năm, Thánh kinh bị đa số dân chúng bỏ rơi. Họ được rửa tội, học giáo lý và kết hôn tại nhà thờ, không tất nhiên họ coi Thánh kinh như cuốn sách gối đầu giường. Phải chăng Thánh kinh bị bỏ rơi?
Một cuốn sách thịnh hành
Sách thánh vẫn luôn luôn được trọng dụng và thịnh hành vì hai yếu tố :
- Bên cạnh đa số đông đảo những người nhửng nhưng với Kitô giáo, vẫn luôn luôn có những chứng nhân Đức tin Kitô giáo mạnh mẽ. Đức Tin của họ nhờ đọc Sách thánh liên tục mà đứng vững. Hiện thời tại Tây phương, Trung âu, Nam mỹ cũng như một số nước thuộc đệ tam thế giới, một phong trào mạnh mẽ chưa từng thấy, học hỏi Thánh kinh, trở về với Thánh kinh, vì Thánh kinh là động lực và là qui luật sống của họ.
- Nhiều người trong thế giới hiện đại thích đọc Thánh kinh, chưa nói gì tới Đức Tin bản thân của họ, nhưng vì họ nhìn nhận Thánh kinh là thành phần di sản tinh thần Tây phương, bên cạnh những gia tài văn hóa La-hy và cổ Pháp.
Sách thánh là một tủ sách
Danh từ "Sách thánh" cho ta có cảm tương dường như chỉ có một cuốn sách duy nhất của một tác giả. Nhưng thực ra, "Sách Thánh" trong ngôn ngữ Hy lạp là "Ta Biblia" có nghĩa là "những cuốn sách". Đó là một tạp lục nhiều cuốn sách khác nhau. Vì thế, "Sách thánh" không phải một cuốn sách nhưng là một tủ sách.
Bản mục lục Sách thánh cho thấy trong đó có rất nhiều sách, gồm Cựu ước và Tân ước :
Cựu ước gồm 39 cuốn khác nhau, tập lục thành ba phần : Torah, Tiên tri và các sách khác. Torah là sách Luật, gồm 5 cuốn, gọi là "ngũ thư", nghĩa là năm túi (vì sách xưa viết trên da cừu rồi cuộn lại thành từng cuộn, bỏ vào một túi da). Các sách Tiên tri lại được chia làm hai nhóm, Đại Tiên tri và Tiểu Tiên tri. Phần sau cùng là "những sách khác".
Các sách trong Cựu ướcc đều viết bằng tiếng Do thái, ngoại trừ một vài đoạn sách Đanien và sách Étra viết băng tiếng A-ra-mê, ngôn ngữ hành chánh quốc tế thời người Do thái đi lưu đày trở về (thế kỷ thứ 6 trước Chúa Kitô). Bản danh những sách trong Cựu ước đã được ấn định thành kinh bộ (canon - quy luật sống) vào cuối thế kỷ thứ nhất sau Đức Kitô do các nhà bác học Do thái cư ngụ tại Giam-ni-a. Họ phải làm như vậy để đưa vào kinh bộ những cuốn sách người thời đó phản đối như sách Étte, Êdêkien, Diễm ca, và cũng để loại bỏ một số sách ra đời sau các sách Tiên tri, như các sách Đệ Nhị Luật, thuộc vào hàng kinh bộ đợt hai mà chỉ có các cộng đoàn Do thái ờ Ai cập thừa nhận và những sách ấy truyền lại cho chúng ta qua bản dịch của bản 70 (septante - tục truyền do 70 hiền nhân dịch giả).
Tân ước gồm 27 cuốn. Tất cả bằng tiếng Hy lạp : 4 Phúc âm, sách Tông đồ công vụ, các Thánh thư và sách Khải huyền. Trong các bản dịch Thánh kinh hiện đại, thứ tự các sách Tân ước không có gì thay đổi. Nhưng đối vơi Cựu ước thì khuynh hướng ngày nay thường đặt các sách theo thứ tự kinh bộ Do thái. Tiếp theo sau là các sách Đệ Nhị kinh bộ.
Chứng từ Giao ước với Thiên Chúa
Thánh kinh không đương nhiên mà có. Vậy Thánh kinh bởi đâu mà ra ? Đã được viết như thế nào? Trong hoàn cảnh nào? vơi mục đích nào?
Lịch sử hình thành Thánh kinh trải qua hơn 1000 năm, hòa lộn với lịch sử một dân tộc nhỏ bé ở Trung Đông: dân tộc Ítraen, sau đó hòa lộn vơi lịch sử các nhóm phát sinh từ giáo huấn của Đức Giêsu. Chúng ta hãy theo từng bước một của lịch sử hình thành này. Nhưng trước hết, ta tìm hiểu Cựu ước và Tân ước theo như danh xưng từng phần một.
Danh xưng "Cựu ước" và "Tân ước" quả thực chỉ xuất hiện từ thế ký thứ hai sau Đức Kitô. Các Giáo hội Kitô giáo đã có thói quen đặt tên như vậy cho hai tập lục những sách làm thành Thánh kinh.
Danh xưng Tân ước hoặc Cựu ước là bởi tiếng la-tinh "Testamentum", nghĩa là "chúc thư" nói lên tính cách độc đáo của Sách thánh. "Chúc thư" là danh từ thông dụng để chỉ một tài liệu trong đó người sắp từ trần bộc lộ nguyện vọng sau cùng của mình muốn trối lại cho người sau để được thi hành triệt để. Nhưng trong Thánh kinh, "chúc thư" có nghĩa hơi khác: Bản Vulgate (Bản Phổ thông) là bản dịch Thánh Kinh băng tiếng La tinh vào thế kỷ thứ 4, đã dùng "testamentum" để dịch tiếng Do thái "Berìt" nghĩa là "Giao ước" nói lên tương quan giữa Thiên Chúa và con người theo như những tương quan mà một vua chúa trần gian thiết lập với người bầy tôi để che chở họ đối lại vơi sự trung thành của họ.
Bời vì, khác vơi các tôn giáo khác, thường tự cho minh có bổn phận làm sao cho mọi sự có trật tự tốt, thì Thiên Chúa của Thánh kinh lại tự chọn làm Thiên Chúa đồng hành vơi loài người, một Thiên Chúa tự mạc khải mình cho loài người trong và qua lịch sứ của loài người.
Như thế, Thiên Chúa quyết định mời gọi Ítraen trở thành dân của Ngài, giải phóng họ và tặng họ một quê hương, ủy thác cho họ sứ mạng làm chứng giữa tất cả các dân khác rằng chính Ngài là Thiên Chúa độc nhất của vũ trụ. Đó là một biến cố chưa từng nghe thấy, và Cựu ước đã làm chứng trong từng trang sách một.
Tân ước là sách tiếp nối Cựu ươc. Tân ước tuyên chứng rằng chính Thiên Chúa đã giữ lời hứa. Đấng mà Ítraen chờ đợi, là Vua của thời chung thẩm, là Đấng cứu thế, đã đến. Ngài được gọi là Giêsu người làng Na-gia-ret, Đấng chịu đóng đanh, vì anh em mình đã không thừa nhận. Ngài đã được Thiên Chúa cho sống lại từ cõi chết để trở thành Chúa hằng sống. Giao ước ấy xưa đã được ký kết vơi Ítraen thì kể từ nay được mở rộng cho tất cả mọi người trên thế giới đón nhận tin vào Ngài.
Cần chú ý
Sau đây chúng ta sẽ bắt đầu cuộc hành trình qua nhiều thế kỷ việc hình thành Sách Thánh.
Nhưng hãy coi chừng! Sách thánh nói về mình quá ít. May thay, khi xem xét từng bản văn một cách kỹ càng, chúng ta nhận thấy, những bản văn ấy cống hiến rất nhiều chi tiết, gián tiếp nói về hoàn cảnh những bản văn ấy được phát sinh. Điều đó cũng hàm chứa rằng những gì chúng ta có thể nói được về lịch sử hình thành Thánh kinh thì cũng đa số còn ở trong vòng giả thiết và trong vòng tái xác định gần giống với sự thật mà thôi. Chính vì vậy mà cuộc tìm hiểu Thánh kinh chưa trọn vẹn, đường vẫn còn dài.
Về một số điểm và hơn bao giờ hết, về nguồn gốc của Ngũ thư, về một cuốn sách Tiên tri nào đó, hoặc về các Phúc âm, Thánh thư cũng như những kết luận về một số vấn đề luôn luôn còn được các nhà sừ học xét đi xét lại. Mặc dầu còn có những bóng tối phủ trùm trên một vài phương diện nào đó, chúng ta vẫn có thể kể lại những nét chính lịch sử hình thành kỳ diệu của Sách thánh, như đã khám phá thấy một cách khá đúng đắn trong thời hiện đại.
CHƯƠNG I
Trước ngưỡng cửa Lịch sử
(1800-1030 trước Thiên Chúa giáng sinh)
Vào năm 3500 trước Kitô, giữa hai miền phì nhiêu của Trung Đông, Mésopotamie và Ai cập, di chuyển rất nhiều dân du mục. Trong đó, người ta đặc biệt chú trọng đến một nhóm dân mà các bản văn thời cổ thường gọi là Ha- bi-ru. Dường như họ là tổ tiên của những người Do thái.
Đất tổ của họ gồm những đồi nằm giữa biển Địa Trung hải và dòng sông Gio-đan gọi là xứ Ca-na-an, rất sớm đã có đông dân định cư. Năm 1800, đã có dân du mục định cư tại đây.
Cũng trong thời kỳ này, những nhóm dân Do thái du nhập vào đồng bằng lưu vực sông Ni-lô tại Ai cập và họ bị đuổi vào năm 1550. Nhưng một số trong họ tiếp tục ở lại phục dịch Pharaô. Năm 1520, hoàn cảnh sinh sống xuống dốc, vì tiếp theo sự thay đổi của các vương quốc thúc đuổi họ phải trốn vào sa mạc Sinai, dưới sự lãnh đạo của ông Môsê. Đây là thời kỳ Xuất hành ra khỏi Ai cập, được tưởng niệm như một biến cố quyết định. Qua biến cố ấy, Thiên Chúa đã giải phóng dân Ngài như là Chúa của họ.
Trờ về đất Canaan vào năm 1200, những người sống sót đã tìm thấy lại những bộ lạc quê hương xứ sở hoặc là những người vào đó bằng những con đường khác. Chẳng bao lâu sau, tất cả họ đã thề hứa, nhóm này cũng như nhóm kia, cam kết, kể từ nay, chỉ phụng sự một Thiên Chúa duy nhất, Thiên Chúa của Abraham, của Isaác, của Giacóp, gọi là Đức Gia-vê. Thực ra, người ta cũng không biết phải gọi Ngài như thế nào, người Do thái thường gọi là Chúa.
Các khẩu truyền
Những bộ lạc du mục Do thái lúc ấy chưa có chử viết, họ truyền miệng, kể cho nhau nghe những hoài niệm gia đình, những biến cố liên quan đến các tổ phụ này, tổ phụ khác, những hành động Thiên Chúa đã làm để giải phóng dân tộc họ, bắt đầu từ biến cố xuất Ai cập. Có những bài ca nhịp nhàng trong đời sống hằng ngày, có bộ luật tổ chức đời sống xã hội và những luật lệ xác định thế nào là "dự luật trong trắng". Nhiều yếu tố như vậy đã được truyền tụng từ đời này sang đời kia, làm thành những khẩu truyền.
Trong những khẩu truyền ấy đã không có những khẩu truyền nào được giữ nguyên vẹn cho tđi chúng ta. Vì những khẩu truyền đã không được viết ra. Tuy nhiên, kể từ khi dân được định cư tại Canaan, khi bắt đầu dùng chữ viết, thì các khẩu truyền ấy được đặt thành văn đầu tiên.
Thời Thủ lãnh
Khi các nhóm dân Do thái ở Canaan chuyển từ đời sống du mục sang đời sống định cư, nhiều đảo lộn quan trọng đã diễn ra. Càng đảo lộn hơn nữa vì có hai đe dọa quan trọng: một đàng nhiều bộ lạc chống đối lẫn nhau, đàng khác, đối ngoại, ảnh hưởng của dân Canaan ở khắp mọi nơi mọi chỗ, và sự thù nghịch của các dân láng giềng. Dân láng giềng người Do thái thù nghịch nhất, là dân Philitinh. Dân này từ miền biển kéo vào và định cư miền đồng băng miền duyên giữa Ga-gia và Giápha. Không bao lâu, nhất là vì giỏi về vấn đề kỹ thuật, dân Philitinh đã dùng đồ sắt để cai trị các dân còn thuộc thời đại đồ đồng. Họ giữ địa vị thống trị khủng khiếp khắp cả miền.
Để tự bảo vệ khỏi những tấn công của địch thù, các bộ lạc Do thái đã từng thời kỳ một, đặt định các vùng trưởng địa phương gọi là các Thủ lãnh (1200-1000 trước Đức Kitô).
Chữ viết xuất hiện
Đây là một biến cố mà hậu quả sẽ không thể lường được. Vào thế kỷ 14, người Phê-ni-xiên, một dân tộc khác sống ỏ miền phía bắc đất Canaan bên bờ Địa Trung hải sáng chế ra chữ viết. Người Do thái đón nhận và truyền lan rất nhanh chóng. Và lúc đó, những câu chuyện cổ tích về các chiến thắng, những bài hát cổ, những phụng vụ cổ truyền bấy lâu giữ trong ký ức thì từ nay được xác định bằng chữ viết.
Những mẫu chuyện lịch sử
Trước hết, những câu chuyện lịch sử mà dân gian thường kể lại đã được lưu hành tại các trung tâm hành hương địa phương, thường có mục đích ca tụng Thiên Chúa đã can thiệp để phù hộ dân Ngài. Người ta thường coi đó là bản tuyên xưng cổ nhất, trong đó có câu chuyện ông Giacóp (Đệ nhị luật 26,5-9):
"Cha ông tôi là một người du mục đã xuống Ai cập, sống kiếp người ly hương vối một số người đi theo, ở đó Cha tôi đã trở nên một dân tộc lớn lao hùng mạnh. Nhưng những người Ai cập đã bạc đãi chúng tôi, họ dể chúng tôi sống trong nghèo khổ và bắt chúng tôi lầm nô lệ cực nhọc. Lúc đó, chúng tôi đã kêu cầu Chúa, Thiên Chúa của cha ông chúng tôi, và Chúa đã nghe tiếng chúng tôi. Ngài nhìn thấy chúng tôi nghèo khổ và bị áp bức. Chúa dùng bần tay hùng mạnh và cánh tay uy quyền cho chúng tôi ra khỏi đất Ai cập. Ngài dùng uy lực và những dấu hiệu kỳ diệu dể giải phóng chúng tôi. Ngài đã cho chúng tôi đến nơi này và ban tặng cho chúng tôi quê hương này, một xứ sở chảy sữa và mật ong".
Những bài ca
Sau đó còn có những bản dân ca mượn trong đời sống hằng ngày, như bài "cái giếng" (Dân số 21,17 ....):
"Hỡi cái giếng, hãy lên, anh em hãy ca tụng nó !
Giếng do lãnh tụ chúng ta đào xới,
Giếng do hàng quý tộc của dân tộc chúng ta xây dựng,
Với cây gậy và cây trượng.."
Hoặc còn là những bài ca tôn giáo cừ hành chiến thắng của Chúa chúng ta, như bài được ca xướng sau cuộc xuất hành từ Ai cập (Xuất hành 15,21):
Anh em hãy ca ngợi Chúa !
Ngài đã chiến thắng anh dũng.
Cả ngựa và xe
Ngài đánh chìm xuống biển".
Trong các bài ca, có bài"Đê-bô-ra", sáng tác sau cuộc chiến thắng Xi-xê-ra (Thủ lãnh 4,1....), là một trong những bài thư cổ nhất của Thánh kinh (Thủ lãnh 5,1-31), cho biết rằng lòng tin vào Thiên Chúa thời xuất hành đã có khả năng huy động tinh thần Ítraen chống lại cuộc xâm lăng của dân thành thị xứ Ca-na-an.
Còn những bài ca tháp tùng dân chúng tụ tập tại các trung tâm hành hương. Một số bài ca đã xuất hiện trong cuốn sách người công chính mà hiện nay không còn vết tích (Giôsuê 10,13; 2Samuen 1,18) hoặc trong sách Chiến tranh của Chúa (Dân số 21,14).
Các bản văn về luật lệ
Từ rất sớm, dân tộc Do thái đã thu thập hiến pháp nói về cách tổ chức đời sống cá nhân cũng như xã hội làm thành một bộ luật. Đây là bản luật sắt như được bảo tồn, một trong những phương thức cổ nhất (Đệ nhị luật 19,21):
"Mày thế mầy,
Mắt đền mắt,
Răng đên răng,
Tay thế tay,
Chân thế chân".
Bản Mười điều răn chắc chắn đã có từ thời Môsê. Hình thức nguyên khỏi có lẽ là đoạn sau đây (Xuất hành 20,12-16):
"Hãy thảo kính cha mẹ.
Đừng phạm tội giết người.
Đừng ngoại tình.
Đừng trộm cắp.
Đừng làm chứng gian chống người cận thân của mình".
Luật Giao ước mà rất nhiều đoạn sách Xuất hành trích dẫn (Xuất hành 20,22-23,19), đã có ngay từ thời định cư tại Canaan. Khởi ứng theo những hiến pháp khác của miền Trung Đông. Đặc biệt bản hiến pháp Babylon thời Ham-mu-ra-pi. Bản hiến pháp này đã thích nghi quyền cổ điển với hoàn cảnh mới do đời sống định cư tạo nên. Khía cạnh phụng tự được giảm đi rất nhiều, như phần đầu nói về luật bàn thờ (Xuất hành 20,24tt) và cuối bản hiến pháp có lịch phụng vụ các cuộc hành hương (Xuất hành 23,13tt). Phần lớn bản hiến pháp thường cống hiến những luật lệ liên quan đến phong tục tập quán, nói tới những vấn đề nô lệ, phụ nữ, người nghèo, cô nhi, quả phụ, ngoại kiều, ngoài ra còn nói tới những cú tử thương. Đặc biệt là bản Luật sắt như đã được biết đến từ cổ thời, cũng như một số luật lệ liên quan đến một số vấn đề khác như luật phạm thượng, bói toán, những lệch đường trong đời sống phái tính.
Trong lãnh vực công binh, đặc biệt tôn trọng người hèn yếu. Ví dụ luật liên quan đến năm thứ bảy, người ta không biết chắc, luật ấy có bao giờ được thi hành không, và luật về ngày thứ bảy (Xuất hành 23,9-12):
"Bạn đừng bóc lột người trú cư.Chính các bạn biết đời sống người trú cư như thế nào, chính các bạn đã trú cư ở xứ Ai cập. Ròng rã sáu năm, bạn dã gieo giống, trồng cây và gặt hoa trái Nhưng ngày thứ bảy, bạn nhổ lên và bạn để lại đó để người nghèo của dân tộc bạn có của mà dùng, thú vật trong rừng có cái mà ăn. Bạn hãy làm như vậy nơi vườn nho của bạn, nơi cánh đồng Ôliu của bạn. Suốt sáu ngày, bạn làm những gì phải làm. Nhưng ngày thứ bảy, bạn nghỉ việc để bò và lừa của bạn được nghỉ ngơi, cũng như con cái của nữ tỳ bạn và người di cư được nghỉ lấy hơi...”



