Thứ Năm, 19 Tháng Ba, 2026

CHƯƠNG III THỜI KỲ THỬ THÁCH (586 - 550 trước Chúa Giêsu)

CHƯƠNG III

THỜI KỲ THỬ THÁCH
(586 - 550 trước Chúa Giêsu)

Việc Giêrusalem bị thất thủ trước quân đội Babylon là một biến cố kinh hoàng. Đất nước giờ đây bị tàn phá; Đền thờ, trung tâm Đức tin, bị phá hủy; vua, người kế vị Đavít, biến mất. Phải chăng Thiên Chúa đã bỏ rơi dân Ngài?

1) Lưu đày (586 - 538)

Dĩ nhiên, đa số dân chúng vẫn còn ờ lại đó. Nhưng không người điều khiển, hoàn cảnh của họ trở nên điêu đứng. Một số khác trốn sang Ai cập. Giới nhân sĩ, có đến hàng chục ngàn người, bị lưu đày sang Babylon; nhưng chính họ sẽ giữ vai trò quan trọng cho tương lai Ítraen. Số phận họ dĩ nhiên không được đếm xỉa đến (Thánh vịnh 137,1-5):

"Ở đây, bên bờ sông Babylon,

chúng tôi ngồi mà khóc, nhớ về Sion...

Ỏ đó, họ réo với chúng tôi: bọn cướp người, đòi lời ca vãn;

Lũ đô hộ, muốn một khúc vui: "Hát ta nghe ca vãn Sion đi nào!"

Mà làm sao chúng tôi hát được ca vãn Giavê nơi đất khách quê người ? mà quên ngươi, hỡi Giêrusalem, thì tay phải Ta cũng hãy quên Ta /"

Tuy nhiên, dần dần, những người bị lưu đày được quyền tụ họp và tự do tổ chức. Họ bổ khuyết những tế tự xưa dâng kính tại Đền thờ Giê-ru-sa-lem bằng những lời nguyện và bài đọc Sách luật trong các phòng họp, gọi là hội đường.

Thời gian lưu đày đối với Ítraen là một thời kỳ phát xuất nhiều tác phẩm văn chương.

Bài ca bi ai của những người ở lại

Trước hết, đây là một bản văn ngắn gọn, một bản văn độc nhất chúng ta có thể nói chắc chắn là do những người Do thái đ lại sáng tác ra: bài ca than khóc (Lamentations). Năm bài thơ này, do nhiều tác giả sáng tác ngay sau thảm họa năm 586, biến cố đã làm cho toàn xứ phải buồn thảm. Bài than khóc này cùng một cung điệu với những bài ca bi ai rất danh tiếng trong truyền thống Do thái (2 Sách Samuen 1,17...) và (Ai ca 5,1-22): "Lạy Giavê, xin Người nhớ đến, cơ sự của chúng tôi.

Hổ nhục của chúng tôi, xin Người đoái trông nhìn đến.

Cơ nghiệp của chúng tôi đã chuyền cho người xa lạ, nhà cửa chúng tôi cho khách tha bang.

Chúng tôi dã nên mồ côi, không cha; mẹ chúng tôi đã thành góa bụa...

Lủ tôi mọi thống trị chúng tôi, không người giựt thoát tay chúng...

Xin quay chúng tôi trỏ lại với Người, lạy Giavê, và chúng tôi sẽ trỏ lạù

Xin dổi mối ngày đời chúng tôi như thuỗ xa xưa.

Trừ khi Ngài vất bỏ chúng tôi luôn.

Người giận chúng tôi không cùng".

Hai người đặc biệt của Thiên Chúa

Trong mỗi thời kỳ thử thách đều có những người của Thiên Chúa xuất hiện, những tiên tri. Trong những người bị lưu đày, bên cạnh Ap-di-as, còn có hai vị danh tiếng là Êdêkien và Isaia thứ hai.

Êdêkien là một tư tế bị đem sang Babylon trong cuộc lưu đày lần thứ nhất năm 597. Ông hiểu rằng chính Thiên Chúa muốn ông trở nên người chuẩn bị tương lai cho nhà Ítraen hầu kêu gọi họ xét lại cuộc đời (Êdêkien 3,17; 33,1...). Chính bời vì dân đã quay lưng lại Thiên Chúa nên Ngài rời bỏ Giê-ru-sa-lem (Êdêkien 10,18...; 11,22...) và Do thái chịu lưu đày. Tuy nhiên, chẳng bao lâu nữa Thiên Chúa sẽ tập trung lại dân Ngài như những đám xương khô dựng dậy khỏi mồ (Êdêkien 37,1-14), Ngài sẽ ban cho họ một trái tim mới và một thần trí mới (Êdêkien 36,26) và Ngài sẽ đem họ trở về đất mình. Một Đền thờ mới sẽ được xây dựng nơi đó bắt nguồn suối nước hằng sống mang lại hoa màu tốt tươi trong mọi mùa.

Sau đây là một đoạn đầy ý nghĩa trích từ bài giảng của tiên tri Êdêkien - Thiên Chúa dùng miệng lưỡi của tiên tri (Êdêkien 39,23-29) mà nói:

"Các dân tộc sẽ nhận biết, chính vì phạm lỗi, mà nhà Ítraen đã phải đi dày.

Bi chúng đã bội tín với Ta, Ta đã che khuất nhan Ta vói chúng.

Ta đã phó nộp chúng trong tay những kẻ nghịch thù vi chúng.

Và hết thảy chúng đã ngã gục dưới gươm đao...

Nhưng dây, Đức Chúa Giavê phán thế này:

Bây giờ Ta quyết đổi vận cho Giacóp,

Ta sẽ chạnh thương toàn thể nhà Ítraen.

Ta sẽ nồng nhiệt phát ghen cho Danh Thánh của Ta...

Khi Ta đem chúng từ các dân v, và thâu họp chúng lại từ các xứ thù nghịch vi chúng,

Ta sẽ hiến thánh mình Ta nơi chúng trước mắt những dân dông đảo.

Chúng sẽ biết Ta là Giavê Thiên Chúa của chúng, khi Ta đã đày chúng qua các dân tộc,

rồi Ta lại đoàn tụ chúng lại trên thửa đất của chúng.

Và Ta chẳng để sót lại người nào trong chúng nơi các chốn dó.

Ta sẽ không còn che khuất nhan Ta với chúng nữa.

Bi vì Ta đã đổ Thần khí của Ta xuống trên nhà Do thái - sấm của Đức Giavê".

Tiên tri thứ hai trong thời kỳ thử thách này, mà tác phẩm nổi bật trong nền văn chương Do thái, cũng là người bị lưu đày, vô danh như bao nhiêu người khác. Lời của ông sớm được thâu thập lại thành Sách tiên tri Isaia bởi các môn đệ vào thế kỷ thứ 8 - làm thành những chương 40 đến 55 của Sách tiên tri Isaia, thường gọi là Isaia thứ II. ít khi đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất, vua lịch sử, được khẳng định cách thâm tín như thế. Thiên Chúa sẽ đưa dân Ngài thoát khỏi lưu đày như xưa thoát khỏi ách nô lệ Ai cập; đây sẽ là một Xuất hành mới, một hành trình khải hoàn của dân Do thái qua sa mạc mà Thiên Chúa sẽ san băng tất cả trên lối đi (Isaia 40,1-5):

Thiên Chúa anh em phán :

“Hãy an ủi, an ủi dân Ta :

Hãy ngọt ngào khuyên bảo m Giê-ru-sa-lem, và hô lên cho Thành :

thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong,

vì Thành đã bị tay ĐỨC CHÚA giáng phạt gấp hai lần tội phạm n.”

Có tiếng hô :“Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho ĐỨC CHÚA,

giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng

cho Thiên Chúa chúng ta.

Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy,

mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống,

nơi lồi lõm sẽ hoá thành đồng bằng,

chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu.

Bấy giờ vinh quang ĐỨC CHÚA sẽ tỏ hiện,

và mọi người phàm sẽ cùng r được thấy

rằng miệng ĐỨC CHÚA đã tuyên phán.” ".

Người ta thấy trong tác phẩm này những bài ca của người tôi tớ Thiên Chúa. Tùy theo các bài, tác giả hoặc ngụ ý Cyrus, vua Ba Tư mà Thiên Chúa sẽ dùng để đưa dân Ngài trờ về nước, hoặc ngụ ý Do thái, hoặc chính tác giả tiên tri đã được giao phó sứ mệnh loan báo công cuộc giải phóng. Sứ mệnh của ông, vì một lý do nào đó chúng ta không biết, đã tạo nên cho ông một sự đối lập mạnh mẽ và đưa ông đến cuộc tử đạo (Isaia 52,13...; 53,1...); truyền thống kitô giáo nhìn nhận nơi ông là người tôi tớ đau khổ, như Chúa Giêsu, Vua Thiên sai của thời đại cứu thế.

Bộ luật thánh

Trong thời lưu đày, một nhóm tư tế đã thu thập tất cả những dữ kiện có các nguồn gốc khác nhau, đôi khi rất cổ, để làm thành bộ luật, bàn đến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống và việc phụng tự; Đó là sách Lêvi. Các chương từ 17 - đến 26 có nội dung riêng, quen gọi Bộ luật thánh vì nhiều lần bộ luật ấy nhấn mạnh đến sự Thánh thiện của Thiên Chúa và của dân Ngài: "Các người sẽ là chư thánh của Ta, vì Ta là Thánh. Ta là Giavê, Ta đã tách các ngươi ra khỏi muôn dân, để được thuộc về Ta” (Lêvi 20,26).

Bộ luật thánh có nhiều điểm chung với Sách Đệ nhị luật. Cũng giống như vậy, bộ luật thánh mở đầu với lời dẫn giải, Thiên Chúa xác định một nơi đặc biệt để gặp gỡ dân Ngài, Đền thờ Giêrusalem (Lêvi 17,3...; Sách Đệ nhị luật 12,1...). Cũng như Sách Đệ nhị luật, bộ luật thánh kết thúc bắng một lời khuyến dụ dài gồm có những lời loan báo về nền thịnh vượng cũng như những lời cảnh cáo nghiêm trọng (Lêvi 26; Đệ nhị luật 28).

Ítraen không còn là một quốc gia, phải chấp nhận không còn là một cộng đoàn hoàn toàn tận hiến cho Thiên Chúa. Vì thế Do thái sẽ lo tuân giữ mọi lề luật Thiên Chúa đã xác định (Lêvi 18-22), cừ hành các đại lễ hằng năm (Lêvi 23), thực hành công chính đối với người nghèo và kẻ bị áp bức, đặc biệt thi hành luật chuộc lại (Lêvi 25) nhờ đó dân Do thái sẽ nhớ trước đây họ đã làm nô lệ tại Ai cập và chính Thiên Chúa đã giải thoát họ (Lêvi 25,42).

Tác phẩm tư tế

Nhưng một lần nữa, sau các tác phẩm Gia-vít và E-lô-hít, đến việc hòa lẫn các tác phẩm, sau Sách Đệ nhị luật, người ta đọc lại lịch sử cổ thời của các tổ phụ trong hoàn cảnh hiện tại như các tư tế bị lưu đày xa Đền thờ nhìn thấy; đó chính là tác phẩm tư tế, đi từ cuộc tạo thành trời đất (Sáng thế 1,1 - 2,4a) đến lúc Môsê từ trần (Đệ nhị luật 34,7-9). Chủ ý tác giả: cũng như tiên tri Êdêkien, là để nâng đỡ lòng tin những người bị lưu đày và kêu gọi họ, theo gương những việc vĩ đại Thiên Chúa đã làm trong quá khứ, hãy hoàn toàn tín thác nơi Người cho đến lúc trở về quê hương.

Xuất thân từ những môi trường tư tế thời Giê-ru-sa-lem phải đối phó với hoàn cảnh đau thương trong cuộc lưu đày, tác giả giúp cho những người bị lưu đày ý thức họ thuộc về dân Chúa. Vì họ không lui tới Đền thờ được nữa, nên lễ nghi cắt bì cũng như lễ nghi ngày thứ bảy phải được phổ biến rộng rãi. Và để chuẩn bị việc trở về, nghi thức phụng tự và chức tư tế đã được tổ chức lại một cách rất chi tiết.

Mặt khác, tác phẩm tư tế viết lại những gia phả nhằm mục đích nhắc cho các gia đình biết họ bắt nguồn trong quá khứ Do thái. Hơn nữa, sách tiếp tục suy niệm về những biến cố cổ thời để cho họ hiểu chương trình của Thiên Chúa không hề bị phá đổi vì những thử thách, lại càng không bị thay đổi bởi biến cố năm 586.

Ngoài ra, ngay từ đầu, Thiên Chúa đã bộc lộ ý định Ngài khi chúc lành cho con người, nghĩa là khi ban cho con người quyền sinh sản, quyền phát triển tràn đầy, chế ngự thiên nhiên, thống trị mọi loài vật - điều kiện sinh sống này hoàn toàn trái ngược với hoàn cảnh lưu đày hiện tại của Do thái. Tuy nhiên, nếu vậy, Thiên Chúa lại không tỏ hiện lời chúc lành của Ngài khi mang dân trở về đất họ để cho họ hường lại hạnh phúc sao? Ngày nay, không ai còn nghi ngờ những lời xưa có một ý nghĩa hoàn toàn hiện đại (Sáng thế 1,28): "Thiên Chúa đã chúc lành họ mà phán: "Hãy sinh sôi nẩy n và hãy nên đây dẫy mặt đất. Và hãy làm bá chủ đất trời ĩ Hãy trị trên cá biển và chim trời cùng mọi loài sinh vật nhung nhúc trên trái đất".

Tác phẩm Đệ nhị luật

Từ ngày khám phá, năm 622, Sách Đệ nhị Luật đã có một ảnh hưởng mạnh. Trong khi đi lưu đày, những vị như tiên tri Êdêkien, chú ý đến công cuộc thiêng liêng cho dân tộc càng nhận thấy việc tái sáng tác, một lần nứa, câu chuyện vĩ đại từ Môsê cho đến thời lưu đày là cần thiết. Chính vì thế mà một khung cảnh lịch sử mới mẻ phát hiện. Vì tác phẩm có nhiều tương quan với Sách đệ nhị luật, người ta quen gọi là Tác phẩm Đệ nhị luật. Tác phẩm này, ngoài chứng thư của Môsê trong chính Sách Đệ nhị luật, còn có những sách Giôsuê, Sách Thủ lãnh, Sách Samuen và Sách Các vua. Niềm thâm tín sâu xa của tác phẩm được diễn đạt bằng những lời như sau (Đệ nhị luật 30,1-4):

"Khi đã xảy đến cho ngươi tất cả các điêu ấy... - trong cuộc lưu đày -

nếu ngươi tr lại với Giavê Thiên Chúa của ngươi

và vâng nghe tiếng Người,

chiếu theo mọi điều ta truyền dạy ngươi hôm nay,

ngươi và con cái ngươi, hết lòng ngươi và hết linh hồn ngươi,

bấy giờ Ta sẽ đổi vận cho ngươi,

và sẽ dù lòng thương xót ngươi

và bắt đu thu họp ngươi lại..

cho dù ngươi bị xua đến tận mút chân trời".

2) Cuộc hành hương (538 - 333)

Gần nửa thế kỷ sau khi bắt đầu cuộc lưu đày, vị vua trẻ của Ba tư, Cyrus, đã thăng tiến sáng ngời. Tại Babylon, ông được đón tiếp như một vị sai đến từ các thần. Làm chúa xứ sở, vào năm 538, ông công bố sắc chỉ đình chiến cho phép những người lưu đày thuộc mọi quốc tịch được trở về trên xứ sở của họ.

Tự do trên quê hương, nhưng một lần nữa bị khuất phục

Nhiều đoàn người Do thái bị lưu đày, trong đó có rất nhiều tư tế, trên đường trở về quê cha đất tổ. Nhiều nỗi khó khăn đang chờ họ. Khó khăn về tài chánh, nhưng hơn thế nữa, cuộc kháng chiến bất ngờ của dân chúng địa phương, vì họ không còn muốn nhường đất và địa vị cho những người mới đến, họ tàn nhẫn chống đối việc tái xây dựng Đền thánh; một Đền thánh thứ hai, như người ta sẽ gọi, khiêm tốn hơn Đền thánh của Salômon, chỉ được hoàn thành vào năm 515.

Ngoài ra, dẫu được tụ tập trên quê hương của mình, dân chúng không mấy được tự do. Những người giải phóng họ, là người Ba tư, bây giờ trờ nên những người chủ mới, và tồn tại được hai thế kỷ, cho đến năm 333 khi Alexandre khuất phục họ dưới chế độ Hy lạp.

Nơi đây, hai nhân vật sẽ giữ vai trò quyết định. Trước hết là Nơkhêmia, một công chức Do thái phục vụ tại triều đinh Ba tư. Vào năm 445, ông đã nhận trách nhiệm tái thiết bức tường thành Giêrusalem và năm 433 ông bắt đầu thực hiện một số cải tổ xã hội. Kế tiếp là Étra, một vị tư tế làm bí thư tại triều đình, ông đã nhận sứ mệnh làm cho dân Giu-đê và Sa-ma-ri quy tụ cuộc sống, lấy Thiên Chúa và Đền thánh độc nhất tại Giê-ru-sa-lem làm trung tâm.

Một thời kỳ lịch sứ khuấy động, quyền bính của các tư tế lên dần trong mọi lãnh vực sinh hoạt. Nhưng đồng thời, dân Do thái cũng khai lối về viễn tượng phổ quát. Tiếng A-ra-mê, một ngôn ngữ chính thức của đế quốc Ba tư, thay thế cho tiếng do thái tại Palestine, ít ra trong phạm vi hành chánh, còn tiếng Hy lạp thì được xử dụng khắp nơi. Nhất là, giữa các cộng đoàn người Do thái từ các xứ trở về, và những cộng đoàn lưu lại tại Babylon hoặc định cư tại Ai cập, bắt đầu tạo nên nhiều trao đổi với nhau. Những cộng đoàn khác nhau ấy sẽ thấy được tình liên đới trong một đức tin, tập quán chung, và chẳng bao lâu - đó là khúc ngoặc lịch sử - được chứa đựng trong những quyển sách chung.

Thành hình Sách thánh

Từ khi đi lưu đày trở về, hoạt động văn chương tăng cường phát triển, và kéo dài hơn ba thế kỷ, đưa đến thành hình cuốn Sách thánh; từ đó, đối với những người Do thái sống xa Đền thánh Giê-ru-sa-lem, Sách này trở nên trung tâm việc phụng tự mới mẻ nơi hội đường.

Hoạt động văn chương này qui về bốn chiều hướng chính,

  1. Những tiên tri cuối cùng

Trước hết là những bản văn tiên tri. Vì vào khoảng năm 530-520, lời ngôn sứ người ta thường qui cho tác giả Isaia thứ ba, được in thành sách cũng như trước đây người ta đã làm thành cuốn sách tiên tri Isaia đệ nhị - hiện cuốn Isaia III gồm những chương tiếp theo đó, tức những chương 56 - 66. Cuốn sau này xuất hiện đồng thời với những sách tiên tri Khác-gai và Dacaria (chương 1-8). Những năm 480-460, còn thêm sách Malakhi.

Tất cả những tác phẩm này chuẩn bị cho một nền văn chương khải huyền đánh dấu một cách sâu xa thời kỳ chớm nở của Do thái giáo cũng như kitô giáo. Đặc điểm chính của nền văn chương này là loan báo vào cuối thời, án quyết của Thiên Chúa và cuộc khải hoàn chung cục như chúng ta đọc thấy trong bản văn sau đây (Malakhi 3,22- 24):"Hãy ghi nh lấy luật Môsê, tôi t của Ta - mà Ta đã phán truyền cho nó  Horeb - luật điu và phán quyết dạy cho tất cả Ítraen.

Này Ta sẽ sai đến cho các ngươi, tiên tri Êlia trước khi ngày của Yavê đến, ngày lớn lao và đáng sợ.

Nó sẽ quay lòng cha ông về với con cháu,

và lòng con cháu về vi cha ông,

kẻo Ta đến mà đánh phạt xử bằng án hiến phù tru di..."

  1. Sách Torah. Sách Luật.

ít lâu sau năm 400, một biến cố đáng kể góp phần vào việc hình thành thực thụ cuốn sách Torah = Lề Luật. Trước khi lưu đày, người ta còn nhớ nhiều tác phẩm đã được viết ra theo những khẩu truyền Do thái, đặc biệt là truyền thống Gia-vít (thế kỷ thứ 10) và truyền thống Ê-lô-hít (thế kỷ thứ 8), được thu thập lại thành một cuốn kể từ sau khi Samarie thất thủ (năm 722); sau đó đến việc ấn bản đầu tiên cuốn sách Đệ nhị luật, được công bố là luật của quốc gia dưới thời Giôsíat (năm 622) và trong suốt thời kỳ lưu đày được tăng thêm bởi tác giả chịu ảnh hưởng sách Đệ nhị luật. Ít lâu sau, được thành hình tác phẩm tư tế bổ túc các luật cũ bắng những luật mới của sách Lêvi (Bộ luật thánh: luật về tế tự, luật về sự thanh tịnh và các ngày lễ), và được đúc kết trong lịch sử về nguồn gốc Ítraen.

Dưới sự thúc đẩy của tư tế ký lục Étra, các bản văn khác nhau này giờ đây đã được thu thập và liệt kê trong toàn bộ duy nhất gọi là Torah. Sách Đệ nhị luật bấy giờ được tách rời khỏi các sách Giôsuê, Thủ lãnh, Samuen và Các Vua và cùng với những sách đó, sách Đệ nhị luật làm thành một tác phẩm theo tinh thần Đệ nhị luật, và sách Torah kể từ đây làm thành trọn bộ 5 cuốn, gọi là Ngũ thư, 5 cuốn do người Hy lạp đặt tên: Sáng thế, Xuất hành, Lêvi, Dân số và Đệ nhị luật. Toàn bộ 5 sách này đã thực thụ trở nên bản hiến chương của Ítraen, làm cho dân Ngài trở nên dân Thiên Chúa và không ngừng được chính Ngài giải phóng.

  1. Những Thánh vịnh

Một biến cố khác, dĩ nhiên kém quan trọng hơn sách Torah, nhưng cũng đáng chú ý trong lịch sử Ítraen, đó là việc kiện toàn sách Thánh vịnh. Sách Thánh vịnh tiếng Do thái gọi tên bằng Ca ngợi. Danh gọi chúng ta quen dùng do bản dịch tiếng Hy lạp Bản 70 gọi là Psaltérion = huyền cầm (instrument à cordes, phong hạc cầm (harpe), ly cầm -lyre) hoặc Psalmoi = tiếng nhạc đệm xướng lên với phong hạc cầm để hòa nhịp lời ca.

Sách Thánh vịnh là một tuyển tập càng ngày càng nhiều thêm, từ ngay thời đại Đavít, bằng những lời cầu nguyện của Do thái. Người ta thường chia thành ba nhóm khác nhau :

Trước hết, những lời ca ngợi chính thức được sáng tác để dùng vào việc phụng vụ trong các dịp lễ lớn của dân Do thái, trong đó có những thánh ca dâng lên Chúa của giao ước (Thánh vịnh 8; 19; 33; 100; 103; 145-150), những "bài ca Vương quốc" cừ hành vương quyền của Thiên Chúa (Thánh vịnh 93; 96-99), các thánh vịnh Sion (Thánh vịnh 46; 48; 76;...) và những thánh vịnh về hành hương (Thánh vịnh 120-134), (Thánh vịnh 2; 18;...).

Kế đến, những lời nguyện kêu cầu, đặc biệt có tính cách cá nhân (Thánh vịnh 5; 22; 42; 57; 86; 130;...) nhưng cũng có những thánh vịnh tập thể (Thánh vịnh 44; 79; 90; 137;...), những lời nguyện tỏ niềm trông cậy (Thánh vịnh 16; 23; 27; 121;...) và những thánh vịnh tỏ lòng biết ơn (Thánh vịnh 9; 10; 32; 34; 116; 138;...).

Sau cùng, những thánh vịnh giáo huấn, những bài học lịch sở (Thánh vịnh 78; 105; 106), những bản ca phụng vụ (Thánh vịnh 15; 24; 134;...), những thánh vịnh huấn dụ thiêng liêng (Thánh vịnh 14; 50; 52; 82;...), những bài thơ về khôn ngoan (Thánh vịnh 1; 37; 49; 119;...).

Trải qua các thời đại, Thánh vịnh luôn nuôi dưỡng đức tin và lời cầu nguyện của các tín hữu, Do thái cũng như Kitô hữu.

  1. Các sách khôn ngoan

Trong những thế kỷ bị người Ba tư đô hộ, một số sách xuất hiện, phần đông thuộc luồng tư tưởng quốc tế, suy nghĩ về cuộc sống và xác định một nghệ thuật sống, một triết lý hạnh phúc. Đó là dòng tư tưỏng được gọi là khôn ngoan.

Một trong những tác phẩm đầu tiên là Sách Châm ngôn, thu thập và bổ túc, những câu cổ ngữ, đôi khi được mượn từ những tập tục ngoại quốc (Châm ngôn 30,1... và 31,1-9). Thí dụ (Châm ngôn 2,1-6):

"Hi con, nếu con đón nhận lời ta, nếu giới răn đối vi con là một kho tàng, nếu lắng tai nghe khôn ngoan, hướng lòng v trí tuệ...

Khi ấy con sẽ hiểu được lòng kính sợ Giavê, con sẽ gặp được sự hiểu biết của Thiên Chúa.

Bi chính Giavê ban khôn ngoan,

hiểu biết và thông suốt xuất tự miệng Người".

Cùng một trào lưu tư tưỏng, cần phải kể đến Sách Gióp. Đây là tiếng kêu và suy tư não nùng của một người, gặp nhiều thử thách trong cuộc đời, đang cố gắng tìm hiểu tại sao đồng thời tín thác vào Thiên Chúa, dầu bao gian lao. (Gióp 9,1-35):

"Gióp cất tiếng và nói:

Tôi biết rõ là như vậy.

Làm sao người phàm lại có lý trước mặt Thiên Chúa ?...

Há tôi sẽ đáp lại Người, tìm lời chống lại Người ?

Dù tôi có công chính, trả lời Người ích chi Ấy chính Đấng cáo tội tôi mà tôi phải khẩn cầu.

Ngay cả khi tôi kêu gọi, và Người đáp lại,

tôi cũng chẳng dám tin Người đã nghe tiếng tôi !...

Vì Người chẳng phải là phàm nhân như tôi,

để tôi đối đáp vi Người,

và cùng nhau chúng tôi kéo ti cửa công lý !

Phải chi giữa chúng tôi có Đấng phân xử để đặt tay trên cả hai chúng tôi!

Ngài sẽ đẩy xa tôi ngọn roi của Thiên Chúa, và sự khủng khiếp Người sẽ không làm tôi kinh hãi,

Bấy giờ tôi sẽ nói mà không sợ Người, vì trước mắt tôi, tôi chẳng là như vậy".

Đầu thế kỷ thứ tư, các Sách Rút và Diễm ca, dầu không thuộc văn chương khôn ngoan, cũng không xa gì các Sách khôn ngoan vì chúng đề cập đến vấn đề đạo hiếu của một người ngoại lại là tổ tiên Đavít, và bàn đến tình yêu đam mê.

Sách Giôna, mà sau này người ta sắp vào hàng các sách tiên tri, cũng thuộc về trào lưu các sách khôn ngoan. Như một người biện hộ sống động và kỳ diệu, ông bảo vệ tính cách phổ quát về tình yêu Thiên Chúa chống lại tính cách cá biệt của những người mộ đạo, tổ tiên của phái Pharisêu. Được Thiên Chúa sai rao giảng lòng sám hối tại Ninivê, tiên tri Giôna một mực từ chối. Hoàn cảnh đặc biệt của một con cá khổng lồ đưa đẩy ông đến đó, « nhưng vừa khi ông rao giảng sứ điệp thì cả thành đã xức tro mà ăn năn thống hối. Bản văn này vừa kích động và vừa có ý nghĩa (Giôna 3,10 - 4,4):

"Và Thiên Chúa đã nhìn đến các việc họ làm, để bỏ đàng dữ họ đã theo mà tr lại.

Và Thiên Chúa đã hối hận rút lại sự dữ Người đã nói là sẽ làm cho họ.

Vậy Người đã không làm. Giôna lấy làm khổ s, khó chịu lắm.

Ông đã nổi giận. Ông cầu nguyện với Giavê và nói:

"Lạy Giavê! Lại không đúng như lời tôi nói sao, khi tôi còn  quê tôi?

Chính bỏi thế mà tôi đã đón trước trốn đi Tarsis. Quả tôi biết:

Người dịu dàng, từ tâm, khoan dung và nhân nghĩa bao la, sẵn lòng hối lại vạ dữ.

Bây giờ, lạy Giavê, xin cất mạng sống tôi đi. Quả thà tôi chết đi còn hơn là sống".

Giavê mi nói: "Ngươi nổi giận có chính đáng chăng?"

3) Những kẻ xâm lăng mổi (333 - 50)

Trong khi đế quốc Ba Tư ngày càng bành trưđng, thì Hy lạp một quốc gia nhỏ bé, nhờ một nhà lãnh đạo lỗi lạc, Alexandre, giữ một vai trò quốc tế vô tiền khoáng hậu. Chi trong vòng một vài năm, Alexandre đại đế đã bá chủ thế giới. Lúc từ trần năm 323, đế quốc của ông bị phân chia thành ba vương quốc : Vương quốc Hy lạp, Vương quốc Ai cập và Vương quốc Syrie.

Đối với Do thái, những biến cố này một lần nữa mang lại hậu quả nặng nề Giêrusalem là trung tâm điểm. Trước tiên, khi ngôi sao Alexandre vụt tắt, nước Giu-đê lại sáng lên một niềm hy vọng: có lẽ Thiên Chúa sẽ can thiệp cho dân Ngài! Những chương 9-14 Sách Dacaria được viết ra vào lúc này. Kế đến, cuộc đoạn giao giữa người Sa-ma-ri-a và Do thái do việc xây đền thánh trên núi Ga-ri-zim, tại Samari, làm cho người Do thái tức giận.

Đây chính là lúc một số ký lục tại Giê-ru-sa-lem quyết định viết lại lịch sử các vua để chứng tỏ đời sống của xứ sở chi luôn tập trung về Giê-ru-sa-lem; đó là 2 cuốn Sách Sử Biên Niên. Đền thánh và việc phụng tự dĩ nhiên là trung tâm điểm của mối bận tâm - người ta quen gọi họ là các nhà ký sự. Trong khi kể lại các nguồn gốc cách kỹ càng (Xem Sách Ký sự thứ nhất 29, 29-30; Sách Sử Biên Niên thứ hai 9, 29-30; 12,15...), ngoài ra còn phải kể đến các Sách Samuen và Sách các Vua. Nhà ký sự cho thấy Vua Đa-vít, mà ông cố gắng dựng nên như hình ảnh lý tưởng, là vị vua đã làm cho Giê-ru-sa-lem trở thành một thủ đô, một Thành thánh, chuẩn bị cho đến cả những chi tiết nhỏ mọn nhất trong việc xây Đền thánh và việc phụng tự.

Các Sách Étra và Nơkhêmia, lúc đầu chi chung một cuốn, cũng là tác phẩm của nhà Ký sự. Dựa trên nhiều tài liệu khác nhau mà ông đã dày công sao chép, ông chứng minh Giê-ru-sa-lem và Đền thánh trội vượt hơn tất cả, áp dụng vào thời kỳ lưu đày trở về và định cư những người lưu đày trên đất đai của họ.

Truyền thống vẫn còn cởi mở

Tại Giê-ru-sa-lem, sau này sẽ là thành phần của nước Ai cập (320 - 200) rồi của Xy-ri, dân chúng ngày càng chịu ảnh hưởng phong tục tập quán và tư tường Hy lạp. Cộng đoàn tôn giáo bị chia rẽ. Người mộ đạo, nghi ngờ tất cả những gì không được tôn kính đối với lề luật Do thái. Các Sách Huấn ca và Tôbia, chỉ lưu truyền bản dịch tiếng Hy lạp - trừ cuốn thứ nhất - những mãnh vụn tiếng Do thái được khám phá tại Qum-rân, Ma-xa-da và trong một hội đường Le Caire - chứng tỏ sự khinh miệt này.

Cũng thời gian này (khoảng năm 200) phát sinh Sách Giảng viên (Qohelet), viết bằng tiếng Do thái theo truyền « thống lâu đời của Sách Khôn ngoan, cống hiến một suy tư nhưng thực đầy lương tri và tín thác vào Thiên Chúa.

Tại Ai cập, nhiều người Do thái thuộc Palestine, lôi cuốn bởi đời sống phồn thịnh nơi thủ đô mới, Alexandre cùng đến với những người đã lập nghiệp tại đó từ thời tiên tri Giê-rê-mia. Nhiều người ngoại giáo trở lại đạo. Vì những người tân tòng này không đọc được tiếng Do thái, người ta phải dịch Sách thánh (Sách Ngũ thư), và những sách khác của Thánh kinh sang tiếng Hy-lạp. Chính vì thế, năm 250, bản dịch 70 đã được thực hiện, theo tục truyền, bởi 70 nhà hiền triết đến từ Giê-ru-sa-lem. Việc dịch Thánh kinh này mạnh mẽ mở rộng Do thái giáo với các ảnh hưởng Hy lạp, kết quả là những người Pharisiêu chống đối đòi phải đọc sách Thánh bằng tiếng Do thái trong các hội đường.

Thiên Chúa đã không bỏ dân Ngài

Vào thế kỷ thứ hai, tại Palestine, nước Xy-ri thay thế người Ai cập. Năm 167, Vua Antiôchus IV Êpiphan ra lệnh cấm lễ các ngày thứ bảy và phép cắt bì, truyền phải ăn thịt heo và cúng tế các thần Hy lạp, và ngay cả dựng trong Đền thờ Giê-ru-sa-lem một tượng thần Zeus. Những người Do thái đạo đức phản kháng tức khắc. Dưới sự hướng dẫn của Giuđa Máccabê, đoàn quân của ông đã đánh bại quân Xy-ri và tẩy uế đền thờ.

Một cuốn sách khác cũng được viết ngay sau cuộc nổi loạn, vào năm 164, sách Đanien, khai mào một thể văn khải huyền, với một giọng nối đầy hình ảnh, hữu ý siêu thời đại - để khỏi làm cho kẻ thù mình nhận biết – nhắm mục đích tăng cường niềm hy vọng của Do thái, an ủi họ rồi đây Thiên Chúa sẽ can thiệp cách quyết liệt. Năm 124, Sách Máccabê thứ hai nói tới lịch sử cuộc nổi loạn của Do thái đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của Đền thánh và việc cầu nguyện. Năm 100, Sách Maccabê thứ nhất chứng tỏ, trong một thể văn thuần túy nhất về các khung cảnh sốt dẻo lịch sử Do thái, Thiên Chúa không ngừng hướng dẫn dân Ngài và giải phóng họ.

Các sách Étte và Giuđítha cũng truyền rao một sứ điệp hy vọng.

Sách Barúc và lá thơ của tiên tri Giêrêmia, từ các cộng đoàn ly hương, có thể cả Antiôkhia, một phần gồm những lời cầu nguyện thống hối, phần khác gồm những lời khuyến dụ dân chúng nên tránh xa việc thờ các thần tượng.

Sau cùng, Sách Khôn ngoan, bằng tiếng Hy lạp vào năm 50 trước Chúa Giêsu trong cộng đoàn Do thái thành Alexandre tại Ai cập, theo truyền thống hiền triết xa xưa,theo kiểu diễn tả của các Sách Cách ngôn, Giảng viên, và Gióp, giđi thiệu sự khôn ngoan như một hồng ân của Thiên Chúa không thể bỏ qua được.

Lm Thêôphilô

Bài viết khác