CHƯƠNG IV
KHÚC QUẶT LỊCH SỬ (50 năm trước - 50 năm sau Chúa Kitô)
Cuộc nổi loạn của Máccabê chống lại việc xâm lăng của người Xy-ri (năm 167 trước Chúa Giêsu) cho phép việc khôi phục nền quân chủ. Nhưng Do thái không được hưởng tự do lâu dài. Nắm lấy cơ hội cuộc phân tranh nồi da xáo thịt tại Giê-ru-sa-lem giữa dòng họ nhà vua và dòng họ tư tế, một tưđng La-mã, Pôm-pê, đã xâm chiếm lấy xứ sỏ vào năm 63 trước Chúa Kitô. Ba mươi năm sau, một người bởi dòng I-đu-mê (Negev), Hê-rô-đê, không thuộc dân Do thái, được Thượng viện Rô-ma phong làm Vua Do thái; ông cai trị từ năm 37 đến năm thứ 4 trước Chúa Giêsu. Để lấy lòng người Do thái, ông bắt đầu công cuộc xây dựng lại Đền thờ.
Giai cấp cầm quyền xứ sờ lúc ấy là người Sađuxê, đa số gồm các tư tế, họ liên hiệp với người cai trị. Ngược lại, trong thành phần dân chúng, một cuộc đối kháng ngày càng thành hình rộng lđn. Những vị lãnh đạo cương quyết đã thâu thập tại sa mạc các khí giđi, từ đó họ chống lại quân đội Rô-ma.
Bầu khí nhục nhã và đợi chờ
Lúc đó người ta chắc chắn Thiên Chúa sẽ can thiệp phù trợ dân Ngài. Một số người, dựa vào sách Đa-ni-en, cho rằng Thiên Chúa sẽ phái Đấng Thiên sai của Ngài đến - người ta gọi Ngài là Con Người để nhấn mạnh khía cạnh nhân loại hiển nhiên - chính Người sẽ chủ trì cuộc phán xét cuối cùng và đón nhận các tín hữu vào Vương quốc vĩnh cửu. Một số khác, theo dòng tư tưỏng đã được thành hình trong suốt thời lưu đày, chờ đợi một Đavít mới, Đấng Thiên Sai, Người sẽ giải phóng dân tộc Ngài khỏi ách đô hộ người ngoại giáo và tái lập một trật tự xã hội chính trị phù hợp với luật Thánh.
Cũng chưa hết. Trong bầu không khí sống nhục nhã và nóng lòng chờ đợi như vậy, nhiều người khát vọng một cuộc canh tân đức tin, một sự trở về chính thực với Thiên Chúa. Trước hết là những người Pha-ri-sêu. Bời những nhóm người mộ đạo - gọi là Ha-xi-đim - phát triển từ thời lưu đày, họ giữ đạo rất cẩn mật, luôn luôn được nuôi sống băng suy niệm luật thánh và gìn giữ các luật lệ về sự thanh sạch; từ đó họ mang tên là Pha-ri-sêu = Biệt phái.
Tiếp theo, người Étxênê - danh từ do Ha-xi-đim mà ra -, những tư tế ở Giê-ru-sa-lem tự cho mình có mục đích tụ tập trong sa mạc cộng đoàn cùa những người thời thế mạt. Hằng ngày lo giữ mình bằng những buổi lễ nghi thanh tẩy, những người này chờ đợi Đấng Thiên sai đến từ dòng dõi của họ. Năm 1947, cuộc khám phá trong thư viện của tu viện Qumrân, gần Biển Chết, cho chúng ta một tài liệu rất phong phú về đời sống của họ: các bản văn viết về cộng đoàn và các thư bản thánh kinh, như quyển Thủ Bản tiên tri I-sai-a; đa số được viết ra từ thế kỷ thứ nhất trước Chúa Giêsu, tất cả bản ấy đã có từ hàng ngàn năm trước những bản Thánh kinh cổ nhất mà chúng ta có cho tới thời bấy giờ; không có sự dị biệt đáng kể trong các bản văn cho thấy người ta rất quan tâm soi xét Thánh kinh.
Và rồi, trong thung lũng Gio-đan, không xa đó là bao, còn có những người khác. Để thoát khỏi cuộc đoán xử sắp tới của Thiên Chúa và để được vào trong cộng đoàn thiên sai, họ thâm tín rằng làm như người Pha-ri-sêu bằng các luật lệ, như người Étxênê rút lui khỏi cuộc đời để hoàn toàn sống trong tinh trạng trong trắng cũng chưa đủ. Họ kêu gọi toàn dân trở về với Thiên Chúa và thay đổi cuộc sống. Những ai chấp nhận làm như thế đều được nhận lãnh phép rửa, tắm trong nước hằng sống, tượng trưng cuộc ly khai với quá khứ và vào cuộc sống mới. Đại diện chính phong trào phép rửa này, nếu không muốn nói là vị sáng lập, là con một thày tư tế tại Giêrusalem; tên ông là Gioan, Gioan Tẩy Giả.
Giêsu làng Nazareth
Trong các môn đệ theo ông Gioan có một người Ga-li-lê, Giêsu người làng Nazareth. Hội nhập vào sứ vụ của tiên tri, chẳng bao lâu sau Người tách rời khỏi ông, từ bỏ mọi hoạt động phép rửa và trở về Ga-li-lê. Người cũng thâm tín về việc Nưđc trời gần đến, và động lòng trắc ẩn đối với quần chúng như đoàn chiên không người chăn (Mác-cô 6,34), Người đi khắp xứ, giảng dạy dân chúng, tỏ uy quyền thần thánh của mình qua những lần chửa bệnh.
Một nhóm mộn đệ liên kết với Người tại Ga-li-lê, và ít lâu sau tại Giu-đê. Chẳng bao lâu một hiểu lầm quan trọng phân tán họ. Vậy Người là ai? Họ nghĩ rằng Người là Đấng Thiên sai, chẳng bao lâu nữa Người sẽ đuổi quân La- mã và trả tự do cho Do thái. Tuy nhiên đó không phải là sứ mệnh của Người. Đúng hơn Người được sai đến dân Ngài để công bố cho họ Tin mừng nưđc Thiên Chúa. Quả thực, hai hay ba năm sau, giáo quyền đã không tha thứ cho Người vì Người hoạt động mà không có phép của họ và đã liên kết với những người ngoài lề xã hội Do thái, mà họ gọi là những người tội lỗi - Giáo quyền cáo gian Người đã chuẩn bị dấy loạn dân chúng chống lại Rô-ma. Chúa Giê-su bị kết án tứ hình thập giá; Người chết tại Giê-ru-sa-lem vào một ngày thứ sáu tháng tư năm 30.
Các khẩu truyền
Giống như nhiều giảng viên tôn giáo thời đại Người, Chúa Giêsu không viết gì để lại. Lời nói và cử chỉ Người nhanh chóng khai sinh các lời truyền khẩu đích thực bảo tàng chứa những hoài niệm rất sống động về Người. Hơn nữa, chắc chắn có những thính giả đã ghi lại những Lởi của Người, hoặc những hành động của Người. Tuy nhiên bầu khí bất an, vì người thời đó đang còn lo sợ việc tận thế sắp đến, càng không thúc đẩy họ phải viết ngay những điều đó.
Những cộng đoàn Kỉtô hữu đầu tiên
Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu đem đến cho các môn đệ Người một cơn khủng hoảng to lớn thấy rõ. Tuy nhiên, một biến cố chấn động sắp xảy ra. Hai động từ thường được dùng để nhắc lại biến cố ấy : tự dứng dậy và tự thức tỉnh, mà người ta dịch là sống lại. Điều đó có nghĩa nếu Chúa Giêsu không còn hiện diện, Người vẫn tiếp tục hành động không kém bên cạnh các môn đệ. Thiên Chúa đã làm cho Người trở nên Chúa hằng sống. Sau thời gian sợ hãi, các nhóm môn đệ đầu tiên tụ tập tại Galilêa, tại Giuđêa, và ngay cả Giêrusalem. Dưới ảnh hưởng của những nhóm tẩy giả mà họ còn liên lạc, một số trong họ làm phép rừa cho những môn đệ mới. Giữa lòng các cuộc hội họp, đặc biệt trong một bữa ăn thân mật mà rồi đây sẽ trở thành bữa ăn hằng tuần (TĐCV 20,7), họ tưởng niệm Đức Kitô.
Phát xuất từ những môi trường văn hóa khác nhau, không dễ làm thành một nhóm cân băng. Vì thế họ không thể nào tránh được những cuộc xung khắc, đặc biệt vấn đề từ lâu đã phân chia các cộng đoàn Do thái sống phân tán, đó là vấn đề giữ lề luật. Đối với một người không phải là Do thái có cần phải cắt bì để trở nên Kitô hữu chăng? Hay một Kitô hữu gốc Do thái có được phép ăn chung bàn với một Kitô hữu gốc ngoại giáo?
Phúc âm rao truyền giữa các dân ngoại
Cộng đoàn Giê-ru-sa-lem phân tán. Và dường như biến cố ấy hầu như không đủ, cuộc bách hại do nhà cầm quyền do thái đổ xuống trên các phần tứ mà người ta thường khiển trách là quá tự do, những người Hy lạp, người Do thái nói tiếng Hy lạp từ cuộc di cư trỏ về. Đứng đầu là Stêphanô, bị ném đá chết vì đã phản đối tầm quan trọng của Đền thờ. Các bạn hữu của ông bị xua đuổi ra khỏi thành.
Những người Hy lạp cố đổi mới, với vị lãnh đạo mới là Philipphê, bắt đầu rao giảng Tin mừng tại Samarie rồi tại miền Duyên hải Địa trung hải. Họ thiết lập tại An-ti-ô-khia miền Xy-ri một cộng đoàn mà chi trong vòng mấy năm đã trờ thành trung tâm truyền đạo Ki-tô rất lớn bên cạnh những người không phải là Do thái tại Tiểu Á và Âu châu. Trong số những người rao giảng đạo Chúa Kitô ngoài Do thái giáo, có một người biệt phái mới trở lại, ông Xao-lê thành Tác-xô.
Các bản văn Phụng tự
Hoạt động văn chương dần dần phát triển trong suốt hai mươi năm đầu tiên của Ki-tô giáo. Không một tác phẩm nào được truyền đạt với chúng ta một cách trọn vẹn, nhưng chỉ có nhiều vết tích còn lại trong một số tác phẩm thu thập bời cuốn Tân ước.
Những bản văn đầu tiên là những bản văn phụng vụ được dùng trong việc phụng tự, và làm thành tâm điểm cho việc giáo huấn.
Trước tiên là những bản Tuyên xưng Đức tin. Bản đơn sơ nhất và căn bản nhất gồm ba chứ (Thư Rôma 1,3; 10,9; Thư Thứ Nhất gỏi giáo đoàn Côrintô 12,3): Vì thế, tôi nói cho anh em biết : chẳng có ai ở trong Thần Khí Thiên Chúa mà lại nói : “Giê-su là đồ khốn kiếp !” ; cũng không ai có thể nói rằng : “Đức Giê-su là Chúa”, nếu người ấy không ở trong Thần Khí.
Và sau đây, một đoạn được khai triển rộng hơn (1 Co 15, 3-5): Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là : Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai.
Gần với bản tuyên xưng đức tin đầu tiên còn có các Thánh ca, một trong những bải cổ nhất là Thánh ca mà Thánh Phaolô đã nêu lên trong thư của ngài gởi cho giáo đoàn Philípphê 2,5-11 :
Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su.
Đức Giê-su Ki-tô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn
trút bỏ vinh quang,
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân,
sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình ,
vâng lời cho đến nỗi
bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự.
Chính vì thế,
Thiên Chúa đã siêu tôn Người
và tặng ban danh hiệu
trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.
Như vậy,
khi vừa nghe danh thánh Giê-su,
cả trên trời dưới đất
và trong nơi âm phủ,
muôn vật phải bái quỳ ;
và để tôn vinh Thiên Chúa Cha,
mọi loài phải mở miệng
tuyên xưng rằng :
“Đức Giê-su Ki-tô là Chúa
Những bản phụng vụ phép rửa cổ nhất còn để lại một vài dấu vết. Ngưòi ta tìm thấy vang âm trong bản văn sách Tông đồ công vụ (TĐCV 8, 36-37):
- Điều chi ngăn cản tôi không được lãnh Phép Rửa.
- Nếu ngươi tin hết lòng thì được.
- Tôi tin Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa.
Cũng thế đối với những bản văn phụng tự mà người ta còn giữ được hai công thức. Công thức đầu tiên được dùng tại Giêrusalem (Mc 14, 22-24; Mt 26, 26-28): Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói : “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy.” Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông : “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người
Công thức thứ hai, là một mệnh lệnh phải làm lại: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta, kể từ cộng đoàn tại Anti-ô-khia (1 Co 11, 23-25; Lc 22,17-20): Rồi Người nhận lấy chén, dâng lời tạ ơn và nói : “Anh em hãy cầm lấy mà chia nhau. Bởi vì, Thầy bảo cho anh em biết, từ nay, Thầy không còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến khi Triều Đại Thiên Chúa đến.” Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói : “Đây là mình Thầy hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.” Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói : “Chén này là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.
Những lời cầu nguyện cũng được truyền đạt đến với chúng ta. Lời cầu nguyện danh tiếng và có lẽ được lan rộng nhất trong các cộng đoàn đầu tiên chính là Kinh Lạy Cha mà chúng ta có được hai bản dịch (Mt 6, 9-13 và Lc 11,2-4).
Hành vỉ và ngôn ngữ của Chúa Giêsu
Bên cạnh những bản văn phụng vụ, còn có nhiều tuyển tập về Chúa Giêsu. Riêng Thánh Phaolô không nói gì tơi, vì cuộc gặp gỡ của ông với Chúa Giêsu Phục sinh đã cảm kích quá mạnh đến nỗi ông không còn chú ý tới sứ vụ trần thế của Chúa.
Trước hết, là một hạnh tích thương khó kể rất tỉ mỉ những chặng đường của Chúa trên con đường khổ giá. Những hạnh tích Phục sinh về sau này bổ túc thêm. Sau đó là các hạnh tích về cuộc đời của Chúa - đặc biệt hạnh tích phép lạ. Giọng văn trau chuốt của những tài liệu này chứng tỏ chúng đã được dùng đi dùng lại nhiều lần một cách rộng rãi, trong việc giáo huấn tại các cộng đoàn. Các Sách Phúc âm đã sao lại một cách phong phú. Sau cùng là các tuyển tập Lời Chúa gồm các dụ ngôn, cách ngôn, các bài giảng về lề luật và về ngày chung thẩm Sau này, mỗi một vị Thánh sử còn thêm những yếu tố riêng của mình, chứng tỏ đã có nhiều truyền khẩu khác nhau và phong phú về cuộc đời Chúa Giêsu.
Đến khi Thánh Phaolô cầm bút vào năm 50, đã có cả một nền văn chương Kitô giáo phong phú, đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của các Cộng đoàn.
Lm Thêôphilê



