Lễ các Thánh và Lễ các Đẳng vào tháng 11
Giáo Hội Công Giáo dành hai ngày đầu tháng 11 để dâng hai ý Lễ quan trong. Ngày 1/11 Giáo hội mừng Lễ các Thánh và ngày 2/11 là Lễ các Đẳng, còn được gọi là lễ cầu cho những người qua đời.
Lễ các Thánh và lễ các Đẳng là hai ngày lễ khác biệt trong niên lịch Phụng vụ, nhưng cả hai lễ đều được nối kết vào với nhau. Hai lễ này biểu lộ trước tiên cùng các Thánh và sau đến các tín hữu đã qua đời ơn Cứu độ khai mào bởi Chúa Kitô chết và phục sinh.
Sơ lược về Lễ các Thánh. Một lễ xưa cổ.
Lễ các Thánh không mang nguồn gốc Kinh Thánh như một số lễ lớn khác trong niên lịch Phụng Vụ. Từ thuở ban đầu, các Kitô hữu vẫn thường có thói quen cầu cho những người qua đời. Họ không cầu nguyện để than van khóc lóc nhưng cầu cho các linh hồn đã qua đời trong niềm vui. Sở dĩ họ mang tâm trạng vui mừng vì họ coi đó như việc mừng lễ Chúa Kitô chiến thắng trong cuộc sống của mọi người. Vì thế, lễ đó ở thế kỷ thứ 1 được cử hành gần đại lễ Phục sinh hay lễ Hiện xuống.
Giáo hội Đông phương cử hành lễ các Thánh tử đạo từ hồi thế kỷ thứ IV. Họ mừng lễ này vào Chúa nhật sau lễ Hiện xuống tại thánh đường Edesse ngày 13 tháng 5 tại thành Antioche. Cho đến ngày nay, bên Đông phương, đặc biệt các Giáo hội theo nghi thức Bizantin vẫn còn cử hành lễ các Thánh vào Chúa nhật tiếp theo sau lễ Hiện xuống.
Bên Tây phương, đặc biệt tại Rôma lễ các Thánh đã được biết tới vào thế kỷ thứ V. Đức Giáo Hoàng Boniface IV (608-615) chuyển ngày lễ các Thánh được mừng vào ngày 13 tháng 5 năm 610. Ngày hôm đó, Ngài đã cho di chuyển tất cả các di tích thánh của các vị tử đạo được chôn cất tại các hang toại đạo ở thành Rôma, đến đặt vào ngôi đền Panthéon. Ngôi đền này trước đây của người La mã, được xây dựng vào thế kỷ thứ 1 trước công nguyên và được tu sửa lại vào thế kỷ thứ 3. Người La mã kính thờ trong đền đó tất cả các vị thần, và vì thế họ gọi là đền Panthéon. Vào năm 609, Hoàng đế Constantinople Lucas đã trao lại ngôi đền này cho Đức Giáo Hoàng Boniface IV như một món quà biếu. Từ đó đền Panthéon mang tên nhà thờ « Đức Maria và các vị tử đạo ». Hàng năm, Giáo hội mừng kỷ niệm thánh hiến ngôi nhà thờ này vào ngày 13 tháng 5, và có rất nhiều kitô hữu đến để dâng thánh lễ tôn kính các vị tử đạo.
Một thế kỷ sau, lễ các Thánh lại được dời qua ngày 1 tháng 11 bởi Đức Giáo Hoàng Grêgôriô III (731-741), và ngày đó ngài cũng thánh hiến một nguyện đường trong đền thánh Phêrô thành Rôma để tôn kính các Thánh.
Vào thế kỷ thứ 8, các đan sĩ người Ái Nhĩ Lan đang rao truyền Tin Mừng tại xứ Gaule (Pháp ngày nay) gặp phải những khó khăn với người ngoại giáo dân tộc Celte, vì những người này cũng cử hành lễ « Samhain » vào tháng 11, đánh dấu thời gian đầu đi vào mùa với trời tối tăm của năm. Ngày 1 tháng 11 là ngày lễ đầu năm của dân tộc Celte và cũng là lễ cầu cho các người đã qua đời. Đây là một lễ muốn nói lên có sự truyền thống giữa những người còn sống và những người quá cố. Để chống lại những ngày lễ trên, các đan sĩ Ái Nhĩ Lan xin Hoàng đế Charlemagne thiết lập ngày lễ các Thánh hầu thay thế vào ngày lễ trên của người Celte.
Từ năm 835, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IV (827-844) đã ban hành lệnh lễ các Thánh 1/11 được mừng trong toàn cõi Giáo hội trên thế giới. Vì thế, cũng vào năm đó vua Louis le Pieux thiết lập lễ các Thánh tại đế quốc Pháp nhân dịp một chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IV.
Đến thế kỷ thứ XX, Đức Giáo Hoàng Piô X đưa lễ các Thánh vào số 8 lễ trọng trong Giáo hội. Và lễ các Thánh có kinh Tiền Tụng riêng nói lên ý nghĩa của ngày lễ : ngày lễ bao gồm không những các Thánh đã được tuyên phong, nhưng tất cả những người đã qua đời đạt tới sự hoàn hão… Ngày lễ các Thánh tại Âu châu trở nên một ngày lễ nghỉ, soi sáng cho ngày lễ kế tiếp 2 tháng 11 như lễ cầu nguyện cho các Đẳng.
Ý nghĩa ngày lễ các Thánh.
Lễ các Thánh chứng giám niềm hy vọng kitô giáo trước cái chết. Lễ chứng thực rằng sau cuộc đời dương thế của con ngưới cuộc sống không bị hủy diệt nhưng được biến đổi. Đây là một lễ về cuộc sống vĩnh hằng, một lễ trên trời. Mỗi một người đều được kêu gọi một ngày nào đó sống lại với Chúa Kitô. Chúng ta được kết hiệp vào sự sống lại và hạnh phúc vĩnh cửu của Người. Lễ các Thánh là một lễ vui mừng về sự chiến thắng của Chúa Kitô trong cuộc sống của con người. Lễ các Thánh là cửa ngõ đi vào mầu nhiệm Chúa Kitô chết và phục sinh.
Lễ các Thánh là lễ của tất cả những người đã ra đi về nhà Cha, những người được nhận vào chia sẻ hạnh phúc của Thiên Chúa. Họ đang chờ và giang tay chào đón chúng ta. Họ là những bậc thánh lớn, những vị thánh không tên đã nghe được sứ điệp của Tám Mối Phúc thật và đã đáp trả lại. Đó là lễ của các vị thánh được biết đến cũng như chưa được biết tới. Một lễ của đám đông lớn các vị thánh chưa được tuyên thánh. Đó là lễ của dân tộc lấy Tám Mối Phúc thật làm lẽ sống.
Trong ngày lễ các Thánh cũng còn qui tụ một số lớn những người tín hữu, gồm cả những người chỉ thi thoảng mới đến tham dự lễ Chúa nhật hàng tuần. Họ đến để cầu nguyện cho những thân bằng quyến thuộc đã qua đời. Cuộc tham dự thánh lễ các Thánh của họ cũng gây nơi chúng ta ý thức về ý nghĩa thân phận con người, và sự kết thúc cuộc đời dương thế này trong cuộc sống toàn diện với Thiên Chúa sau cuộc sống ờ trần thế. Kêu gọi lời cầu bầu của các Thánh trên trời mang lại ánh sáng cho cuộc sống hiện tại của chúng ta.
Lễ các Thánh là một ngày lễ nghỉ ở các nước : Pháp, Bỉ, Lục Xâm Bảo, Đức, Thụy Điển, Phần Lan, Ý và Tây Ban Nha.
Kết luận.
Ngày 1/11, Giáo hội mừng lễ các Thánh, nối kết Giáo hội trần thế và Giáo hội trên trời chia sẻ sự thánh thiện của Thiên Chúa. Khi nói những vị được Giáo hội tuyên thánh có nghĩa Giáo hội với quyền bính của mình đãm bảo họ đang ở trong vinh quang của Thiên Chúa. Lễ các Thánh không những nối kết tất cả những vị thánh được Giáo hội tuyên thánh, nhưng còn nhớ đến hằng hà sa số những người sống trong ơn phúc Thiên Chúa. Lễ các Thánh cho nếm thấy trước phụng vụ vĩnh cửu mà phụng vụ dưới trần thế đã loan báo trước.
« Tôi thấy một đoàn người đông đảo không ai đếm nổi, thuộc mọi nước, mọi chi tộc, mọi dân và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngau và truớc Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tug hô : « Ơn cứu độ là do Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và do Con Chiên » (Khải huyền 7,9-10).
Lễ các Đẳng : 2 tháng 11.
Ngày hôm sau, 2 tháng 11 Giáo hội đặt các linh hồn người quá cố vào ngay trung tâm Phụng vụ của mình.
Ngay trong thời Giáo hội sơ khai, các kitô hữu vẫn tin rằng những người còn sống có bổn phận cầu nguyện cho những người đã qua đời. Khi thánh Mônica, mẹ của thánh Augustinô sắp qua đời bà chỉ xin con nhớ đến bà « nơi bàn thờ Thiên Chúa cho dù đang ở nơi nào ». Đến thời Trung cổ người ta cử hành phụng vụ cho người qua đời để kỷ niệm ngày qua đời của một ai đó, vì thế các bậc vị vọng vua chúa thời bấy giờ ghi lại trong chúc thư xin những lời cầu cho linh hồn của họ.
Về nguồn gốc lễ các Đẳng, theo truyền thuyết kể rằng : “Một hôm, một đan sĩ Cluny đi viếng đất Thánh Giêrusalem. Trên đường trở về đan viện Cluny, tàu chở đan sĩ bị bão đánh dạt vào một hòn đảo. Tại đó, đan sĩ gặp một ẩn sĩ và được ẩn sĩ cho biết : « Trên đảo này có nhiều hang lửa, trong hang có nhiều người bị hành hạ, đánh đập. Tôi thường nghe các tên quỷ phàn nàn với nhau về viện phụ Odilon và các đan sĩ dòng của ngài rằng : ngày nào họ cũng giải thoát một số linh hồn ra khỏi hang lửa đó. Vì thế, xin thầy về nói với Cha Odilon và các anh em trong dòng cứ tiếp tục cứu giúp các linh hồn đau khổ. Đó cũng là niềm vui cho các Thánh trên thiên đàng và là sự đau khổ cho quỷ dữ dưới Hoả ngục ». Đó là truyền thuyết, nhưng có điều chắc chắn hơn, để giữ cho ngày lễ các Thánh đặc tính riêng, và không mang tính cách như một ngày dành cho những người đã qua đời, cho nên vào khoảng năm 998, viện phụ thuộc hệ thống Cluny, tên Odilon đã áp đặt tất cả các đan viện tưởng nhớ đến các người đã qua đời vào ngày 2 tháng 11 trong một thánh lễ trọng thể. Odilon làm viện phụ Cluny từ năm 994 đến năm 1049. Vì thế lễ các Đẳng mang ý nghĩa cuộc « tưởng niệm những người an nghỉ trong Chúa Kitô ». Và từ đó, Giáo hội giữ truyền thống này cho đến ngày hôm nay.
(Đan viện Cluny được thành lập năm 909 tại miền Bourgogne xứ Pháp do công sức của công tước vùng Aquitaine và là bá tước tỉnh Mâcon, ông Guillaume le Pieux, với một đan sĩ tên là Bernon. Đan viện được trao lại như món quà cho thánh Phêrô và các Ðức giáo hoàng. Ông Guillaume bảo đảm sự tự do và do đó tu viện Cluny thoát khỏi mọi sự bảo trợ thế tục. Trong thư viết ngày thành lập đan viện có điều khẳng định như sau : « Tôi cho tất cả mọi thứ vật đó cho những người được gọi là các tông đồ, với điều kiện là xây cất tại Cluny một đan viện kính các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, và tại đó qui tụ các đan sĩ sống theo luật của thánh Benoit. Họ chiếm hữu, gìn giữ và cai quản vĩnh viển mọi vật được nhượng lại để nhà đó trở thành một nhà cầu nguyện thật sự... Xin cho các đan sĩ được phù trì bởi các Tông đồ và Ðức giáo hoàng.
Đan viện Cluny đưa ra rất sớm một quan niệm mới về quy luật là qui tụ tất cả cộng đoàn dưới một vị lãnh đạo. Ðó là bộ Luật tu dòng đầu tiên. Năm 931, viện phụ thứ hai của Cluny là đan sĩ Adon được phép Ðức giáo hoàng Gioan XII có quyền hành trên mọi tu viện phát xuất từ sự cải cách của dòng Cluny. Sự miễn trừ của Ðức giáo hoàng cho dòng Cluny đã làm cho giấc mơ hiệp nhất của đan sĩ Benoit thành Aniane thành tựu. Từ năm 909 đến năm 1109, quyền hành của các viện phụ Cluny ảnh hưởng sâu rộng trên các tu viện đến nỗi dòng Cluny kết hợp các nhà lại thành một thứ đế quốc đan tu Cluny.
Sắc thái cá biệt đầu tiên của sự cải cách do Cluny đề xướng đã được nêu ra trong thư thành lập của ông Guillaume le Pieux, đó là việc nhấn mạnh về đời sống cầu nguyện. Luật thánh Benoit có nói về đời cầu nguyện nhưng ngài không hề nhấn mạnh riêng điểm đó, nhưng từ nay, nguời đan sĩ Cluny chuyên sống về cầu nguyện. Kinh nhật tụng và Thánh lễ là những thời gian quan trọng nhất của người đan sĩ. Họ trở thành những nhà cầu nguyện chuyên nghiệp. Khoảng năm 1100, kinh nguyện tại Cluny có thể kéo dài lên đến gần sáu tiếng rưỡi đồng hồ. Phụng vụ tại Cluny chủ yếu là hát Thánh vịnh. Có ngày các đan sĩ đọc đến 215 Thánh vịnh. Và cũng từ Cluny phát xuất ra phụng tự tôn kính những người qua đời.
Ðiểm canh tân nổi bật kế tiếp là sống tình bác ái với người nghèo. Thật vậy, các tu viện ở thế kỷ thứ VI thường sống cách biệt với dân chúng. Giờ đây tu viện mở cửa với các trường học, nơi hành huơng, giảng dạy, học giáo lý. Từ lúc đan sĩ Hugues de Semur (1049 - 1109) lên làm viện phụ thứ sáu, ông đã góp công vào việc luân lý hoá đời sống xã hội. Vì thế linh đạo Cluny rất khác với linh đạo theo thánh Benoit thuở ban đầu và được biến đổi theo xã hội thời Trung cổ).
Việc cử hành thánh lễ cho những người qua đời tại đan viện Cluny được lan rộng ra toàn xứ Gaule (Pháp) và xứ Anh. Và đến thế kỷ thứ XIII mới được cử hành bên Ý. Giáo hội tại Rôma chỉ cử hành lễ các Đẳng từ thế kỷ thứ XIV, và sau đó mới áp đặt cho toàn cõi Tây phương.
Giáo hội Chính Thống giáo (orthodoxe) không dâng kính lễ cầu cho các người qua đời trong một ngày quy định nào đó, nhưng trong lịch phụng vụ của họ ghi việc tưởng nhớ các người qua đời được cử hành nhiều lần trong năm.
Ý nghĩa ngày lễ các Đẳng.
Lễ các Đẳng là một ngày tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người qua đời. Chúng ta cầu nguyện cho những người qua đời vì họ cần được thanh tẩy để mang cuộc sống hoàn toàn với Thiên Chúa. Lời nguyện cầu của chúng ta có thể giúp họ trong thử thách thanh luyện, căn cứ vào mầu nhiệm « các thánh thông công ». Đây là một mầu nhiệm, sự hiệp thông cuộc sống hiện hữu giữa chúng ta và những người đã ra đi trước chúng ta. Trong Chúa Kitô chết và sống lại có mối tương trợ và một tình liên đới giữa những người sống và kẻ chết.
Nơi được thanh tẩy, và chịu thử thách để thanh luyện thường được gọi là Luyện ngục. Luyện ngục chỉ định tiến trình thanh tẩy đưa con người trở nên hoàn hảo. Từ luyện ngục không thấy có trong Thánh Kinh dù là Cựu ước hay Tân ước, nhưng được suy tư dần dần theo giòng lịch sử và được bắt đầu nói đến cùng khai triển từ thời Trung cổ.
Tại sao vấn đề luyện ngục lại được đem ra suy tư ?. Các nhà thần học nhận thấy có những việc thực hành trong lòng giáo hội từ thuở ban đầu đó là việc cầu nguyện cho những người đã qua đời. Điều này, chúng ta lại thấy Cựu ước có nhắc đến trong cuốn thứ 2 Máccabê. Cuốn sách được hoàn thành vào khoảng năm 120 trước công nguyên thuật lại cuộc lịch sử kháng chiến của anh em nhà Máccabê. Sau cuộc chiến thắng tại Iđumê, người Do thái lo việc tẩm liệm những người bị chết. Ông Giuđa Máccabê yêu cầu người ta dâng của lễ tại đền thánh Giêrusalem một hy lễ đền tội (12,43-45), theo luật ghi trong sách Lêvi 4,2-35. Đoạn sách Máccabê ghi trên nói rõ về vấn đề tội lỗi được tha thứ với kinh nguyện và của lễ cho những người đã qua đời. Dù ngay trong đoạn Cựu ước nêu trên, từ luyện ngục cũng không có nhưng việc làm này giả định trạng thái những kẻ chết chưa hoàn toàn được định đoạt khi mới qua đời. Tình trạng của họ có thể thay đổi qua lời cầu bầu và của lễ của những người đang sống, tức là họ chưa hẳn lên thiên đàng hay bị đày ải xuống hỏa ngục. Tư tưởng này được các nhà thần học suy tư và cho mãi đến thế kỷ thứ XIII người ta mới chấp nhận coi luyện ngục như một nơi thanh luyện.
Trong các văn bản Huấn quyền, từ luyện ngục thật sự được bắt đầu biết tới dưới thời Đức Giáo Hoàng Innocent vào năm 1254 qua một bức thư ngài gửi cho vị Khâm sứ bên Hy lạp. Tiếp theo đó, các Công đồng Florence (năm 1439), Trentô (năm 1563)... Trong thời kỳ này, Giáo hội Chính thống và Tin Lành đã chống lại vấn đề có luyện ngục và lửa tinh luyện. Người Chính thống giáo cho rằng linh hồn những người qua đời (trừ những vị thánh) đều chờ đợi tại âm ty cho tới ngày phán xét chung. Nhà cải cách Tin lành, ông Luther thì chống lại mối tương quan ở giá trị đền tội của Thánh lễ và những ân xá.
Gần đây nhất, Công đồng Vaticanô II (thế kỷ 20) không dùng từ luyện ngục, nhưng trong Hiến chế tín lý về Giáo hội nơi chương 7 nói về đặc tính cánh chung của Giáo hội viết như sau : « ... trong số các môn đệ Chúa, có những kẻ đã hoàn tất cuộc sống này và đang được tinh luyện, và có những kẻ được hiển vinh đang chiêm ngưỡng rõ ràng chính Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi như Ngài hằng có » (số 49).
Sách Giáo Lý mới của Giáo hội Công giáo cũng có nói về luyện ngục trong phần thứ nhất, chưong ba ở mục 12 « Tôi tin có sự sống đời đời », số 1030 đến số 1032. Chúng ta tìm thấy lại những tư tưởng đã được nêu trên.
- Số 1030 : Cần có Luyện ngục : « Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết, hòng đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng ».
- Số 1031 : Luyện ngục để thanh tẩy : « Giáo Hội gọi là luyện ngục là sự thanh luyện sau cùng này của các người được chọn, hoàn toàn khác với hình phạt của những kẻ bị án phạt. Giáo Hội đã trình bày giáo lý của đức tin về Luyện ngục, nhất là tại các Công đồng Florentia (DS 1304) và Trentô (DS 1820; 1580). Dựa vào một số bản văn của Thánh Kinh (chẳng hạn 1Cr 3,15; 1Pr 1,7), Truyền thống của Giáo Hội nói đến một thứ lửa thanh luyện: "Đối với một số những lỗi lầm nhẹ, ta phải tin có một thứ lửa thanh tẩy trước ngày Phán xét, theo như những gì mà Đấng là Chân lý đã dạy khi Ngài nói rằng nếu ai nói lời phạm thánh chống lại Chúa Thánh Thần, thì sẽ không được tha cả đời này lẫn ở đời sau" (Mt 12,31). Theo lời quyết đoán này, chúng ta có thể hiểu rằng một số lỗi lầm có thể được tha ở đời này, nhưng một số lỗi khác thì được tha ở đời sau » (Thánh Grêgôriô Cả, Dial. 4,39).
- Số 1032 : Người sống cứu người chết : « Giáo huấn này cũng dựa vào cách cầu nguyện cho kẻ chết, như được nói đến trong Thánh Kinh: "Đó là lý do tại sao ông Giuđa Macabê đã truyền phải dâng hy lễ đền tội này cho các người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi của mình » (2 Mcb 12,46).
Ngay từ những thời gian đầu, Giáo Hội đã tôn kính việc tưởng niệm các người đã qua đời, và dâng kinh lễ để cầu cho họ, nhất là dâng Thánh lễ (DS 856), để họ được thanh tẩy và tiến vào nơi chiêm ngưỡng Thiên Chúa. Giáo Hội cũng khuyên làm việc bố thí, hưởng các ân xá và thi hành những việc đền tạ để giúp các người đã qua đời: Chúng ta hãy cứu giúp họ và hãy tưởng nhớ họ. Nếu các con ông Gióp đã được thanh tẩy nhờ lễ hy sinh của cha họ (G 1,5), tại sao chúng ta lại có thể hoài nghi rằng những của lễ của chúng ta dâng cầu cho người chết sẽ không mang lại ủi an cho họ? Vậy chúng ta đừng ngần ngại cứu giúp những người đã ra đi, và dâng những kinh nguyện cầu cho họ (Thánh Gioan Kim khẩu, Hom. in 1Cr 41,5).
Tóm lại chúng ta phải hiểu thế nào về luyện ngục? Luyện ngục không phải là một nơi, hay một thời gian nhưng đúng là một trạng thái trung gian. Tiến trình thanh luyện đưa con người dần vào nhãn quan hạnh phúc viên mãn của cuộc đời. Con người với cái nhìn hữu hạn thì lấy tiến trình như một thời gian, thế nhưng ở đây ta không còn thuộc tại thế nữa nên tiến trình phải đưọc hiểu nằm ngoài không gian và thời gian thuộc thế giới con người. Ta phải nhìn theo phương diện phẩm chất bước chuyển tiếp của chúng ta về Thiên Chúa và sự phán riêng của mỗi một cá nhân.
Tại sao cần phải được tinh luyện? Cho dù cuộc sống trần thế ta vẫn đáp trả tích cực ân sủng Thiên Chúa, nhưng chắc chắn cũng có những đám mây mù bao phủ cản bước không cho ta hoàn toàn hối cải. Thế giới của Thiên Chúa là ánh sáng và ta cũng cần phải trong sáng để bước vào cuộc sống mới. Tiến trình thanh luyện đến từ con người chúng ta cần hơn là từ ý chí độc đoán của Thiên Chúa.
Câu hỏi tiếp là đau khổ ở luyện ngục là gì? Có lửa hay không? Nơi đây, ta cũng cần nhìn đau khổ như một tình yêu chưa được tháo gỡ mà còn bị thắt chặt với những bóng tối bao che; vì thế cuộc gặp gỡ giữa ta và Thiên Chúa như ngọn lửa thiêu hủy. Lửa tình yêu của Thiên Chúa thiêu hủy những gì còn làm ngăn trở con người trở nên sáng láng. Thánh nữ Catharina thành Gênes qua một thị kiến được thấy luyện ngục đã coi cái khổ đau luyện ngục là một nỗi vui mừng được đưa vào ánh sáng và cuộc sống mới.
Khái niệm luyện ngục cũng còn diễn đạt tình liên đới giữa con người không chấm dứt với cái chết. Tình liên đới được diễn đạt qua việc cầu nguyện cho những kẻ ra đi về nhà Cha trước chúng ta. Với họ, chúng ta đón nhận sự thứ tha tinh luyện của Thiên Chúa.
Vì vậy, tưởng nhớ và cầu nguyện cho người qua đời là thuộc đức tin của chúng ta. Chúng ta biết rằng mình cũng có thể xin họ cầu bàu cho chúng ta. Họ kết hiệp vào những khó khăn trong đời sống của mình, và giúp chúng ta hoàn thành cuộc vượt qua lớn lao của đời sống loài người. Sống trong niềm tưởng nhớ những người đã ra đi không thể coi như khổ chế và làm cho ta suy sút tinh thần. Ngược lại đó là một chứng từ thật về lòng tin vào sự sống lại và cuộc sống vĩnh hằng.
Những bông cúc vàng cho ngày lễ.
Trước đây, theo truyền thống người ta thường đốt một cây nến trên ngôi mộ người qua đời. Nhưng hôm nay, người ta thay thế bằng những chậu bông cúc vàng. Hoa cúc tượng trưng cho sự bất tử và mang lại màu sắc cho những nghĩa trang thường bị coi mang màu ảm đạm.
Về việc viếng Nhà thờ và Nghĩa trang.
- Từ trưa ngày lễ các Thánh đến nửa đêm ngày lễ các Đẳng, ai viếng Nhà thờ, Nguyện đường, đọc một Kinh lạy Cha và một Kinh Tin Kính, được hưởng một ơn đại xá, với những điều kiện như thường lệ : xưng tội, rrước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng, nhưng phải nhường lại cho các linh hồn. Mỗi ngày được hưởng một lần thôi. Ai bị ngăn trở, có thể viếng Nhà thờ, Nguyện đường lãnh ơn Đại xá vào Chúa nhật trước hay Chúa nhật sau.
- Từ ngày 1 đến ngày 8 tháng 11, các tín hữu thành kính đi viếng Nghĩa Trang, và dù có đọc kinh thầm cho các linh hồn, cũng được hưởng nhờ một ơn Đại xá, nhưng phải nhường lại cho các linh hồn (trong 8 ngày, mỗi ngày được hưởng một lần thôi).
Kết luận.
Chúng ta thấy có nhiều lý do để cầu nguyện cho người qua đời. Tương tự như mọi kinh nguyện, ý lễ có mục đích cầu xin Thiên chúa chúc lành và ban ơn cho họ suốt đời sống. Nghe có vẻ xa lạ, nhưng Thiên Chúa không bị giới hạn trong thời gian. Đối với nGài, quá khứ, hiện tại hay tương lai đều là cái hiện tại.Vì thế, chúng ta có thể đặt mình vào trong quỹ đạo vĩnh cửu khi cầu nguyện.
Giáo hội luôn đặt mình vào trong quỹ đạo ấy. Trong Phụng vụ an táng và lễ giỗ, Giáo hội khẩn cầu hiên Chúa ban phúc cho người qua đời được chết bình an. Và theo truyền thống Kitô giáo, kinh nguyện và việc lành ta làm có thể giúp cho người quá cố đền bù các tội họ đã phạm. Dĩ nhiên, chúng ta không biết những việc đó đem lại kết quả nào trong sự quan phòng của Thiên Chúa, nhưng điều đó vẫn là tín điều vững vàng, chắc chắn của Giáo hội.
Điều cuối cùng cũng còn như điều được phổ biến hơn hết : Thánh lễ và kinh nguyện chỉ đơn giản bày tỏ lòng biết ơn và ca ngợi Thiên Chúa cho cuộc đời của người thân chúng ta yêu mến và vẫn còn mến yêu. Chúng ta tin người thân yêu đã ở thiên đàng như các Thánh, và ta có thể cầu nguyện với họ như những vị Thánh của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta xin lễ cầu nguyện cho họ để biểu lộ đức tin, đức cậy, và một phần của sự tưởng nhớ và vui mừng vì niềm hạnh phúc của người ta thương mến.
Lm Thêôphilê.



