Thứ Tư, 21 Tháng Mười, 2026

Cầu nguyện theo trường học Cựu Ước

Cầu nguyện theo trường học Cựu Ước

Lời mở đầu

Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải... Không phải tôi nói điều đó. Chính thánh Phaolô nói vậy (Rm 8,26). Cùng với các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, chúng ta thú nhận sự vụng về và thiếu hiểu biết của mình: "Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện" (Lc 11,1). Chúng ta chỉ có thể trông cậy vào Đức Giêsu và Thánh Thần của Người. Chỉ khi theo học nơi trường của các Ngài, chúng ta mới học được cầu nguyện là gì và cầu nguyện thế nào.

Tuy vậy, không phải vì thế chúng ta chẳng có gì để học nơi những người, suốt dòng lịch sử của Lời Hứa, đã không ngừng kêu cầu Thiên Chúa. "Ông Áp-ram dựng một bàn thờ kính Đức Chúa, Đấng đã hiện ra với ông, và ông kêu cầu danh Đức Chúa"... (St 12,6-9). Đừng vội tưởng mình hơn Áp-ra-ham, Mô-sê, Đa-vít, các ngôn sứ, hơn tất cả những con người mà "thế gian không xứng đáng" có được (Dt 11,38). Hẳn nhiên, Cựu Ước chưa phải Mặc Khải trọn vẹn: "Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có. Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết" (Ga 1,17-18).

Nhưng trong quá khứ, Cựu Ước đã đóng vai trò một người giám hộ, một nhà sư phạm (Gl 3,24-25)... Phải chăng chúng ta nên quay lại học bổ túc với nhà sư phạm ấy, phòng khi, vì đã đốt cháy giai đoạn, chúng ta khám phá ra mình vẫn chưa biết cầu nguyện?

Nếu muốn đi đến chỗ cầu nguyện "cho phải", chúng ta hãy học nơi Cựu Ước những bài vỡ lòng của cầu nguyện.

1. Phụng vụ và đời sống thường ngày

Kinh nguyện Cựu Ước, hiển nhiên, trước hết là các Thánh Vịnh. Một trăm năm mươi Thánh Vịnh là một tuyển tập thánh ca đã được hình thành dần dần, từ thời vua Đa-vít (khoảng năm 1000 trước Công nguyên) cho đến thời Đền Thờ thứ hai, sau cuộc Lưu Đày (khoảng năm 300).

Những bài thánh ca ấy được dùng trong phụng vụ Đền Thờ, trong phụng vụ ngày Sa-bát tại các hội đường, và trong các cuộc hành hương, khi những đoàn người hành hương "lên Giê-ru-sa-lem thờ phượng", như thánh Gioan còn nói (Ga 12,20; x. tựa đề các Thánh Vịnh 120 đến 134: "Bài ca lên Đền"). Tuyển tập các Thánh Vịnh là kho tàng kinh nguyện phụng vụ của Ít-ra-en.

(Ghi chú: Số Thánh Vịnh được trích theo cách đánh số của Kinh Thánh Híp-ri, khác với cách đánh số của sách Thánh Vịnh dùng trong phụng vụ.)

Khi Đền Thờ bị người Ba-by-lon phá hủy lần thứ nhất vào năm 587, suốt thời kỳ Lưu Đày cho đến khi Đền Thờ được xây lại (515), người ta không thể dâng lên Thiên Chúa các hy lễ súc vật vốn là phần cốt yếu việc thờ phượng; chính khi ấy, kinh nguyện bằng các Thánh Vịnh đã tiếp nối việc thờ phượng bằng hy lễ. Và khi Đền Thờ được tái thiết, các lễ sát tế có thể tái lập tại Giê-ru-sa-lem, thì ở bất cứ nơi nào có người Do Thái, người ta vẫn tiếp tục dâng lên Thiên Chúa "hy lễ của môi miệng" (Hs 14,3; Tv 69,31-32). Từ đó, cầu nguyện trở thành một yếu tố thiết yếu của lòng đạo đức Do Thái, như thái độ của Đức Giêsu và các môn đệ, những người Do Thái tốt lành ấy, làm chứng: "Hát thánh vịnh xong, Đức Giêsu và các môn đệ ra núi Ô-liu"... (Mc 14,26).

Nhưng bên cạnh kinh nguyện nghi thức, được hệ thống hóa, cố định bất biến, còn có lời cầu nguyện tự phát, tuôn trào bất ngờ trong những hoàn cảnh bình thường của cuộc sống, xa Đền Thờ và hội đường. Thậm chí chính nó mới là hình thức cổ xưa nhất, và chính nó đã cung cấp nhiều lời kinh một ngày kia được đưa vào tuyển tập Thánh Vịnh. Chữ TÔI, ngôi thứ nhất số ít, rất thường gặp trong Thánh Vịnh, đôi khi là một chữ TÔI hư cấu, một lối diễn đạt do một "tác giả thánh ca" chọn dùng: một nhạc sĩ cần mẫn, và trong trường hợp tốt nhất là được linh hứng, một Didier Rimaud hay một David Julien của thời ấy (hai tác giả thánh ca Pháp đương đại), tức là một sự mô phỏng lời cầu nguyện tự phát. Nhưng phần lớn, đó là một lời cầu nguyện thật, do một người hành hương đau yếu hay sám hối ứng khẩu, một lời cầu nguyện đã thực sự trào ra từ trái tim người ấy dưới hình thức này, trong những hoàn cảnh rất cụ thể mà về sau người ta không còn nhớ, nhưng cộng đoàn tín hữu đã đón nhận làm của mình, đã "thu thập" và chính thức hóa.

Những lời cầu nguyện tự phát ấy, ta gặp suốt dọc các trình thuật Cựu Ước. Cha Pautrel đã làm nổi bật hình thức cầu nguyện này trong hai cuốn sách nhỏ khiêm tốn, nhưng đầy ắp kiến thức chú giải và óc hài hước. Tôi tin chắc chúng có thể là một cẩm nang tốt để đọc Cựu Ước cho những Kitô hữu đã "gãy răng" với những sách nhập môn Kinh Thánh uyên bác hơn và đắt tiền hơn. (Hai cuốn này giá chưa tới mười quan, tựa đề là "Vers toi ils ont crié" – "Họ đã kêu lên Ngài" và "En toi ils ont espéré" – "Họ đã trông cậy nơi Ngài", phụ trương của tạp chí Vie Chrétienne, 14 rue de la Tombe-Issoire, Paris 14.) Vả lại, cũng có khi một lời cầu nguyện ta gặp trong một trình thuật được soạn theo khuôn mẫu kinh nguyện phụng vụ, giống như chị em ruột với một Thánh Vịnh. (Chẳng hạn, hãy so sánh trong sách Nơ-khe-mi-a những "lời nguyện tắt" rất tự phát, 3,36-37; 5,19; 6,9.14; 13,14.22.31, với nghi thức phụng vụ sám hối được soạn rất công phu ở chương 9.)

Không nên quên những lời cầu nguyện của các ngôn sứ. Các sách ngôn sứ chủ yếu gồm những sấm ngôn và phụ thêm vài trình thuật, nhưng thỉnh thoảng ngôn sứ thưa trực tiếp với Thiên Chúa, lấy Ngài làm chứng, chất vấn Ngài. Điều này đặc biệt đúng với Giê-rê-mi-a. Không gì chân thật hơn, cũng ít được nghiên cứu hơn, lời cầu nguyện của ông ở 10,23-25, và nhất là những "lời tự thú" của ông, những đoạn văn nói lên nỗi thất vọng và đau khổ tràn đầy trong lòng ông. Không giả vờ, không có "kiểm duyệt" như các nhà tâm lý học sẽ nói, trong những lời than trách ấy (Gr 11,18–12,6; 15,10-11.15-21; 17,14-18; 18,18-23; 20,7-13).

Sự thẳng thắn Giê-rê-mi-a dùng để quay về với Thiên Chúa của mình và chất vấn Ngài, ta còn gặp lại mạnh mẽ hơn nữa trong sách Gióp. Khi Gióp lên tiếng, ông không chỉ phản bác những người bạn đạo đức của mình, những người an ủi tồi; ông kêu cầu Thiên Chúa, ông khiếu nại lên Thiên Chúa như lên một tòa án cấp trên, hơn thế nữa, ông còn đi tới chỗ buộc tội Thiên Chúa... Thế nhưng Thiên Chúa đón nhận lời buộc tội ấy như một lời cầu nguyện: sau khi cắt lời Gióp ("Kẻ dùng lời lẽ thiếu hiểu biết mà làm cho kế hoạch của Ta ra tối tăm là ai?" 38,2), Thiên Chúa lại bênh vực ông trước ba người bạn: "Các ngươi đã không nói về Ta cho đúng như tôi tớ Ta là Gióp!" (42,7).

Vậy, không hề bị dồn hết vào sách Thánh Vịnh, cầu nguyện nhịp nhàng theo suốt đời sống con người và điểm nhịp cho mọi sách của Cựu Ước.

2. Một Thiên Chúa ta có thể gọi là "Ngài"

(Ghi chú của người dịch: tiếng Pháp phân biệt "tu" – ngôi thứ hai thân mật – với "vous" – ngôi thứ hai lịch sự. Trong bản dịch này, "nói TU với Thiên Chúa" được dịch là "xưng hô trực tiếp, thân mật với Thiên Chúa" hoặc "gọi Ngài".)

Làm sao nhận ra khi nào ta chuyển từ trình thuật sang cầu nguyện? Điều gì khiến sách Thánh Vịnh, giữa mọi sách của Kinh Thánh, nổi bật như một tuyển tập kinh nguyện?

Đó là vì trong những đoạn văn ấy và trong sách ấy, người tín hữu thưa với Thiên Chúa, với Thiên Chúa của mình, bằng ngôi thứ hai thân mật: "Ngài". Điều đó không có nghĩa thiếu lòng tôn kính. Tiếng Híp-ri không có công thức lịch sự tương ứng với chữ "vous" của tiếng Pháp. Lòng tôn kính (vốn là một điều hoàn toàn khác với phép lịch sự!) đôi khi được diễn tả bằng cách nói "tôi tớ Ngài", hoặc bằng những lời rào đón: "Mặc dầu tôi chỉ là thân tro bụi, tôi cũng xin mạn phép thưa với Chúa tôi" (lời chuyển cầu của Áp-ra-ham, St 18,27). Lòng tôn kính sâu xa, hay nói theo một chữ uyên bác hơn, ý thức về "tính siêu việt", không bao giờ đi đôi với việc đánh mất sự thân mật; Thiên Chúa Tối Cao không bao giờ là một Thiên Chúa xa vời. "Thật vậy, có dân tộc vĩ đại nào được các thần ở gần như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu Người?" (Đnl 4,7; so sánh với lời cầu nguyện của vua Sa-lô-môn trong ngày cung hiến Đền Thờ, 1 V 8,22-30).

Chính ngôi thứ hai số ít này, chữ "Ngài" thân mật này, là nét đặc trưng của cầu nguyện và phân biệt nó, chẳng hạn, với lời tuyên xưng đức tin, nơi người ta nói về Thiên Chúa ở ngôi thứ ba. Khi ta tuyên xưng đức tin, khi ta đọc kinh TIN KÍNH, trước hết không phải ta thưa với Thiên Chúa, mà nói với người khác. Ta tuyên xưng đức tin trước mặt người khác, trước một cộng đoàn phụng vụ, hay trước một tòa án! (x. Mt 10,32: "Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ..."). Một kinh Tin Kính chưa hẳn là một lời cầu nguyện. Ta chỉ thực sự cầu nguyện khi ta gọi Thiên Chúa là "Ngài".

Những suy tư sau đây của một tác giả linh đạo hiện đại nói lên ý nghĩa và sự cần thiết của cầu nguyện hay hơn tôi có thể nói: "Ai loan báo Tin Mừng mà không cầu nguyện, một ngày kia sẽ không còn loan báo Tin Mừng nữa. Không chỉ vì người ấy quên nạp lại bình điện; mà vì người ấy lún sâu vào sự giả hình. Làm sao người ấy có thể nói về Đấng mà người ấy tin là đang hiện diện trong thế giới như một Đấng hằng sống, trong khi chẳng bao giờ thưa chuyện với Người? AI NÓI VỀ THIÊN CHÚA LÀ "NGƯỜI" MÀ CHẲNG BAO GIỜ GỌI NGƯỜI LÀ "NGÀI", THÌ ĐANG QUÊN DẦN NHỮNG NÉT TRÊN DUNG NHAN THIÊN CHÚA.

Một ngày kia, Thiên Chúa sẽ chỉ còn là một ý niệm, và chẳng bao lâu nữa chỉ còn là một từ ngữ. Bởi lẽ ngay từ đầu đã có một lỗi lô-gích. Người ta không thể nói cụ thể về một Thiên Chúa mà mình không lắng nghe và không thưa chuyện." (P. Guilluy)

Dạy giáo lý, về cốt yếu, là nói về Thiên Chúa ở ngôi thứ ba, nói về những gì Ngài đã làm cho loài người, những gì Ngài mong đợi nơi họ để đáp lại... Điều này đã đúng ngay từ thời Cựu Ước: "Mai đây, khi con cái anh em hỏi anh em: 'Các chỉ thị, thánh chỉ và quyết định này là gì?', thì anh em sẽ nói với con cái anh em: 'Chúng ta đã làm nô lệ cho Pha-ra-ô bên Ai-cập, nhưng Đức Chúa đã dùng tay mạnh mẽ đưa chúng ta ra khỏi Ai-cập...'" (Đnl 6,20-21). Nhưng đức tin không thể được truyền lại như một đức tin sống động nếu việc dạy giáo lý không bao gồm cầu nguyện, nếu người ta không chỉ học suy nghĩ và hành động như người tín hữu, còn học cầu nguyện, dù lời cầu nguyện ấy trào ra cách tự phát với những lời tìm được lúc ấy, hay được đúc trong những công thức do truyền thống lưu truyền, đã được người khác dùng quen, nhưng được cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa thổi sức sống mới vào.

Vì cầu nguyện luôn là nhìn nhận sự hiện diện tích cực của Thiên Chúa có ngôi vị. Ta thưa với Ngài như với một ngôi vị, và ta đứng trước mặt Ngài mà nói TÔI và CHÚNG TÔI.

Trong thế giới Kinh Thánh, cá nhân và cộng đoàn không đối nghịch nhau; và đó không phải một điểm yếu, cũng chẳng phải dấu vết một tâm thức sơ khai. Đôi khi người ta nói từ thời Giê-rê-mi-a và Ê-dê-ki-en, ta thấy xuất hiện ý thức về trách nhiệm cá nhân, thay thế quan niệm cổ xưa về trách nhiệm tập thể (x. nhất là Ed 18, và câu tục ngữ: "Cha ông ăn nho xanh mà con cháu phải ê răng", vốn đã bị Giê-rê-mi-a phản bác, Gr 31,29-30). Điều đó không sai. Vào thời điểm ấy của lịch sử Ít-ra-en, trong cơn khủng hoảng cuộc lưu đày sang Ba-by-lon, quả thật đã xảy ra một điều có thể gọi sự tinh luyện lương tâm luân lý và ý thức về tội. Nhưng tiến bộ ấy không làm tổn hại đến một xác tín đã bám rễ sâu trong lương tâm Ít-ra-en từ thuở du mục khởi thủy: cảm thức về một cộng đoàn cùng chung vận mệnh, về sự hiệp thông giữa các thành viên của cùng một nhóm và xuyên qua các thế hệ; toàn thể Ít-ra-en cùng hiệp thông trong một lịch sử, một quá khứ, một phúc lành.

Việc chính cái tên Ít-ra-en vừa chỉ tổ phụ (Gia-cóp) vừa chỉ toàn dân đã nói lên sự hiệp thông ấy. Cộng đoàn được mời gọi sống Giao Ước đã ký kết xưa kia tại Xi-nai và cử hành trong tâm tình tạ ơn ơn cứu độ Thiên Chúa ban khi ra khỏi Ai-cập, cộng đoàn ấy không phải một tập hợp các cá nhân. "Ở mỗi thế hệ, mỗi người có bổn phận coi chính mình như một trong những người đã ra khỏi Ai-cập, theo lời Kinh Thánh: Tôi thực hành các nghi lễ này vì những gì Đức Chúa đã làm cho tôi khi tôi ra khỏi Ai-cập. Vì Đấng Thánh, chúc tụng Người, không chỉ cứu cha ông chúng ta, nhưng Người cũng cứu cả chúng ta cùng với các ngài, như Kinh Thánh còn nói: Và Người đã đưa chúng ta ra khỏi đó để dẫn chúng ta vào đây, để ban cho chúng ta đất mà Người đã thề hứa ban cho cha ông chúng ta." Đó là lời của bản trình thuật nghi lễ trong lễ Vượt Qua Do Thái.

Vậy chẳng có gì lạ khi những lời cầu nguyện cá nhân đã được các nhóm cầu nguyện tại Đền Thờ hay hội đường đón nhận. Người cầu nguyện với Thiên Chúa Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp không bị cắt lìa khỏi dân mình, ngay cả khi, trong nỗi đau tột cùng, người ấy tự coi mình như kẻ "bị dân khinh dể" (Tv 22,7). Dân ấy, một ngày kia, sẽ biến lời cầu nguyện của người ấy thành của mình.

Tôi cầu nguyện khi tôi xưng hô thân mật với Thiên Chúa. Và đối với một người thấm nhuần đức tin Kinh Thánh, thật khó cầm lòng không gọi Thiên Chúa là "Ngài", khó mà không buông bỏ, gần như vô thức, ngôi thứ ba để chuyển sang ngôi thứ hai, mỗi khi nói đến Thiên Chúa.

Chẳng hạn trong kinh Tin Kính mà người Ít-ra-en đọc khi đặt giỏ đựng hoa quả đầu mùa trước bàn thờ Thiên Chúa. Người ấy kể lại lịch sử lòng trung tín của Thiên Chúa từ thời tổ phụ Gia-cóp – Ít-ra-en còn sống đời du mục. Người ấy nói về Thiên Chúa ở ngôi thứ ba: "Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông chúng tôi, đã nghe tiếng chúng tôi..." Nhưng đến cuối, lời tuyên xưng đức tin chuyển thành lời cầu nguyện: "Và bây giờ, này con mang đến hoa quả đầu mùa của đất mà NGÀI đã ban cho con, lạy Đức Chúa." (Đnl 26,1-10)

Cũng vậy với những bài ai ca được thu thập dưới tựa đề "Ai Ca của Giê-rê-mi-a". Đó là những bài bi ca, loại thơ người ta làm để than khóc một cái tang hay một thảm họa; trong những bài thơ này là cảnh Giê-ru-sa-lem đổ nát. Trong một bài ai ca, thông thường người ta lấy con người làm chứng. Bài bi ca của Đa-vít về cái chết bi thảm của Sa-un và Giô-na-than hoàn toàn đúng với khuôn mẫu lý tưởng của thể ai ca (2 Sm 1,17-27): Đa-vít lấy các thiếu nữ Ít-ra-en làm chứng ("Hỡi thiếu nữ Ít-ra-en, hãy khóc thương Sa-un"), ông gọi người chết ("Giô-na-than, anh của tôi hỡi, tôi đau đớn vì anh biết mấy!"). Trong năm bài thơ của sách Ai Ca, ta gặp lại những nét đặc trưng ấy: gọi những người qua đường: "Hỡi tất cả những ai qua đường, hãy nhìn xem có nỗi khổ nào bằng nỗi khổ của tôi" (1,12); gọi Giê-ru-sa-lem bị tàn phá: "Biết lấy gì so sánh với ngươi, hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem? Vì tai họa của ngươi lớn như biển cả!" (2,13). Thiên Chúa được nhắc tới không ngừng, ở ngôi thứ ba. Làm sao không nói về Ngài, khi sự đổ nát của Giê-ru-sa-lem là một hình phạt của Thiên Chúa? Nhưng trong mỗi bài thơ đều đến một lúc thi sĩ không còn tự chủ được nữa. Ông không thể chỉ nói về Thiên Chúa. Ông nhất thiết phải nói với Thiên Chúa, phải gọi Ngài: "Lạy Đức Chúa, xin nhìn xem nỗi khốn cùng của con!... Xin nghe con rên siết... Lạy Đức Chúa, xin đoái nhìn... Con đã kêu cầu danh Ngài..." (1,20-22; 2,20-22; 3,55-56). Và bài bi ca thứ năm hoàn toàn là một lời cầu nguyện; nó mở đầu bằng lời kêu lên Thiên Chúa: "Lạy Đức Chúa, xin nhớ lại điều đã xảy đến cho chúng con, xin đoái nhìn và xem nỗi nhục nhã của chúng con!"

Dù người của Kinh Thánh, các tín hữu của Cựu Ước nói gì, làm gì, thì cầu nguyện luôn sẵn sàng trào lên. Họ không bao giờ đánh mất cảm thức về sự hiện diện chăm chú của Thiên Chúa trên toàn bộ cuộc đời họ (Tv 34,19; 145,18).

3. Các thái độ căn bản của cầu nguyện

Làm sao định hướng, làm sao đi giữa sự phong phú tràn đầy của cầu nguyện qua các trang sách và qua dòng lịch sử Cựu Ước?

Những mốc định hướng cho sách Thánh Vịnh, chúng ta có thể tìm thấy chẳng hạn trong phần nhập đề của ba bản dịch Kinh Thánh gần đây, cả ba đều xuất sắc: Kinh Thánh Giê-ru-sa-lem, Kinh Thánh Osty, và Bản Dịch Đại Kết (TOB). Có lẽ chính TOB mô tả "các gia đình Thánh Vịnh" cách đơn giản nhất: "Quan hệ họ hàng thể lý biểu lộ qua những nét chung: nét giống nhau bên ngoài của gương mặt, dáng vẻ và cử chỉ; những điểm tương đồng về ngôn ngữ và giọng nói; sự chung nhau về tư tưởng, tình cảm, vấn đề và truyền thống. Giữa các gia đình nảy sinh những liên minh tạo nên những sự tương hợp và pha trộn. Cũng có khi những người họ hàng chẳng giống nhau... Các Thánh Vịnh cũng vậy. Nhiều bài có những điểm giống nhau về cấu trúc, một lối hành văn và một âm hưởng chung, giả định những hoàn cảnh giống hệt hay tương tự, đề cập những chủ đề như nhau, hòa trộn với nhau để sinh ra những bài thơ phức hợp. Vậy chúng tôi sẽ nói đến các 'gia đình' Thánh Vịnh, khi áp dụng khái niệm họ hàng này một cách hết sức uyển chuyển. Một cách phân loại muốn xếp nhóm tất cả các Thánh Vịnh tất yếu phải chấp nhận điều có thể đúng và cả điều phỏng đoán. Với những dè dặt ấy, chúng tôi đề nghị ba gia đình lớn:

  1. Các bài ca ngợi.
  2. Các lời cầu nguyện kêu cứu, tín thác và tri ân.
  3. Các Thánh Vịnh giáo huấn."

Các trang 1260-1266 của TOB rất đáng đọc và nghiên cứu. Nhờ đó, ta sẽ học phân biệt bên trong các gia đình ấy những thánh thi hướng về Đức Chúa của Giao Ước với những bài ca về Vương Quyền mang âm hưởng phổ quát, những lời kêu cứu cá nhân với những lời kêu cứu tập thể, v.v...

Tuy nhiên, điều cốt yếu có lẽ không nằm ở đó. Điều quan trọng trước hết cần rút ra qua mọi lời cầu nguyện Kinh Thánh là những thái độ căn bản của mọi lời cầu nguyện. Những thái độ ấy không nhiều; dường như có thể giữ lại bốn, cũng chính là bốn thái độ cấu trúc nên Kinh Nguyện Thánh Thể (x. phần nhập đề của tuyển tập "Eucharisties de tous pays" – "Kinh Nguyện Thánh Thể của mọi xứ", Trung tâm Mục vụ Phụng vụ Quốc gia Pháp, 1976):

- ca ngợi, hay chúc tụng, hay tạ ơn;

- nhắc lại các ơn đã nhận, hay tưởng niệm;

- khẩn cầu;

- chuyển cầu.

Bốn thái độ này lần lượt được diễn tả trong mọi Kinh Nguyện Thánh Thể dâng lên Chúa Cha ở trung tâm phụng vụ Thánh Lễ. Nhưng đó đã là những thái độ căn bản của lời cầu nguyện của con người Kinh Thánh. Không có gì đáng ngạc nhiên. Chính cùng một Thiên Chúa hành động và được người ta thưa chuyện trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước. Cựu Ước hiện diện trong Kinh Thánh của Kitô hữu không như một hình mẫu phản diện hay một cơ quan đối chứng, nhưng như một nhà sư phạm. Tôi xin nhắc lại: chúng ta hiệp thông với mọi chứng nhân đức tin, từ Abel người công chính (Lễ Quy Rôma và Dt 11).

Chính sự quen thuộc với lời cầu nguyện của Cựu Ước sẽ giữ cho chúng ta khỏi làm nhạt nhòa ý nghĩa những lời phụng vụ đặt trên môi miệng chúng ta:

- "Chúc tụng Chúa... Thật là chính đáng và phải đạo khi tạ ơn Chúa..."

- "Giờ đây, khi cử hành việc tưởng niệm... Chúng con loan truyền Chúa chịu chết, lạy Chúa đã phục sinh..."

- "Vì thế, chúng con nài xin Chúa... Chúng con khiêm cung nài xin..."

- "Xin cũng nhớ đến anh chị em chúng con..."

Cũng chính ở đó, chúng ta sẽ học để đến lượt mình trở thành nhà sư phạm, dạy người khác cầu nguyện với Thiên Chúa như Ngài muốn được cầu nguyện.

A) "Hãy ca ngợi Đức Chúa!"

Xác tín Thiên Chúa Tối Cao không phải một Thiên Chúa xa vời, trái lại Ngài chăm chú đến đời sống con người, Ngài trung tín với lời hứa của Ngài, Ngài là nguồn mạch sự sống và mọi ơn lành, những ơn của công trình tạo dựng và của Giao Ước, xác tín ấy được diễn tả trong cầu nguyện dưới hình thức ca ngợi, tạ ơn, chúc tụng.

Ca ngợi, tạ ơn, chúc tụng: những từ này hầu như tương đương nhau. "Con xin cảm tạ Chúa... Hãy tạ ơn Đức Chúa... Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Đức Chúa... Alleluia (= Hãy ca ngợi Thiên Chúa!)"...

Lời ca ngợi được diễn tả bằng những lời trào ra từ trái tim, bằng tiếng hát, bằng điệu múa. Chương 15 sách Xuất Hành diễn tả điều đó thật tuyệt vời: bài ca của Mô-sê, điệu múa của Mi-ri-am, điệp khúc được ca đoàn phụ nữ lặp lại; phải có tất cả những điều ấy mới cử hành nổi chiến công lẫy lừng Thiên Chúa vừa thực hiện!

Lời cầu nguyện đôi khi đi kèm một hy lễ tạ ơn, bằng việc thánh hiến cho Thiên Chúa một con vật tế, một nơi chốn (Gia-cóp ở Bết Ên, St 28), một con người (cậu bé Sa-mu-en được mẹ thánh hiến, bà "nhường lại cho Đức Chúa" trước khi cất lên bài Magnificat của bà, 1 Sm 1–2).

Tạ ơn là một điều hoàn toàn khác với "cám ơn Thiên Chúa". Nói lời cám ơn là việc người ta làm với nhau. Người ta giúp đỡ nhau, thì việc bày tỏ lòng biết ơn là điều tối thiểu. Người ta dạy trẻ em nói cám ơn, dạy chúng phép lịch sự. Nhưng không phải từ ý thức về phép lịch sự, về cách cư xử đúng mực, về giáo dục tốt mà người ta làm cho hiểu được thế nào là tạ ơn, là ca ngợi Thiên Chúa! Tạ ơn trào ra từ nơi sâu thẳm nhất của con người. "Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho?" (Tv 116,12). Câu hỏi được đặt ra không thể có câu trả lời tương xứng. Ta không bao giờ trả xong nợ với Thiên Chúa! Ta chỉ có thể chiêm ngưỡng Ngài, ca ngợi Ngài mãi mãi không ngừng. "Cám ơn" là một từ quá yếu khi ta thưa với Đấng không chỉ ban cho ta có cái này cái nọ, mà ban cho ta được hiện hữu.

B) "Xin nhớ lại Giao Ước của Ngài!"

Cầu nguyện cũng là quay về quá khứ, và không phải để nuôi dưỡng một tâm trạng ít nhiều bệnh hoạn, đơn thuần hoài cổ. Không! Người ta nhớ lại các ơn lành của Thiên Chúa và nhắc Thiên Chúa nhớ các ơn lành của Ngài, trong khuôn khổ lời ca ngợi hoặc lời khẩn cầu.

Ca ngợi vì công trình tạo dựng (Tv 24,1-2), vì ơn cứu độ đã được ban (Tv 30,2.12-13), hoặc vì cả công trình tạo dựng lẫn ơn cứu độ (Tv 136). Niềm vui người ta nếm hưởng trong hiện tại, niềm vui được lành bệnh, niềm vui hồi hương sau Lưu Đày hay ngày lễ mùa gặt, niềm vui hiện tại ấy khơi dậy ký ức tiềm ẩn về các ơn lành Thiên Chúa đã ban trong quá khứ.

Hoặc ngược lại, khẩn cầu, nếu Thiên Chúa dường như đã đổi cách cư xử, nếu điều người ta kiểm nghiệm trong lịch sử hôm nay (bệnh tật, thất trận, lưu đày) trái ngược với những gì người ta kể lại về việc Thiên Chúa đã làm trong quá khứ, thuở khai thiên lập địa hay khi ra khỏi Ai-cập.

"Lạy Thiên Chúa, tai chúng con đã nghe, cha ông chúng con đã kể lại chiến công Ngài đã làm thời các ngài, vào thuở xa xưa. Để định cư các ngài, tay Ngài đã tước đất của muôn dân, và để các ngài lan rộng, Ngài đã giáng họa cho các nước. Không phải nhờ gươm đao mà các ngài làm chủ đất này, chẳng phải nhờ sức mình mà các ngài chiến thắng, nhưng là nhờ tay hữu Ngài, nhờ cánh tay Ngài và ánh sáng tôn nhan, vì Ngài yêu thương các ngài..."

Điều này có thể là phần mở đầu của một Thánh Vịnh ca ngợi. Thật ra, việc nhắc lại quá khứ này dẫn vào phần mô tả một tình cảnh khốn cùng: "Thế mà Ngài lại ruồng rẫy và sỉ nhục chúng con... Ngài trao nộp chúng con như chiên bị đem đi giết..." (Tv 44)

Việc nhắc lại quá khứ vậy là để làm nổi bật sự tương phản giữa điều người ta có quyền mong đợi nơi Thiên Chúa và điều người ta đang trải qua, và toàn bộ trở thành điểm tựa cho một lời khẩn cầu tha thiết: "Lạy Chúa, xin thức dậy, sao Ngài còn ngủ? Sao Ngài nỡ ẩn mặt đi? Xin đứng lên! Cứu giúp chúng con!"

Trong Thánh Vịnh 74, chuyển động bị đảo ngược. Lời cầu nguyện trước hết là khẩn cầu và mô tả cảnh khốn cùng hiện tại ("Quân thù đã tàn phá tất cả... chúng đã phóng hỏa thánh điện Ngài... Không còn ngôn sứ nào nữa..."), rồi nhắc lại những kỳ công của Thiên Chúa từ thuở ban đầu, để rồi lại trở thành tiếng kêu cứu: "Xin đừng mãi mãi quên mạng sống của những kẻ thuộc về Ngài đang lầm than... Xin đoái nhìn đến giao ước!... Xin bênh vực chính nghĩa của Ngài!"

Việc nhắc lại quá khứ ấy có ý nghĩa gì? Gợi lại công trình tạo dựng và cuộc Xuất Hành để làm gì? Thưa với Thiên Chúa theo cách ấy để làm gì, nếu không xác tín rằng các ơn lành Thiên Chúa đã ban xưa kia cho cha ông vẫn còn sống động mãi mãi trong ký ức của Thiên Chúa, và đó là bảo chứng Ngài sẽ nhậm lời cầu nguyện của những ai nhận mình là con cái và người thừa kế của những bậc cha ông mà xưa kia Ngài đã cứu?

Đó chính là tưởng niệm. "Các con hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy"... Không phải một nghi lễ kỷ niệm, nhưng là một hành vi đức tin vào "lòng trung tín" của Thiên Chúa, Đấng không rút lại lời hứa của mình.

C) "Xin mau đến phù trợ con! Lạy Chúa, xin cứu giúp!"

Cầu nguyện, trong dòng chảy bình thường của cuộc sống, rất thường là một lời xin. Người ta van nài Thiên Chúa, khẩn khoản với Ngài. Cựu Ước đầy dẫy những lời khẩn cầu, những lời cầu xin của cá nhân hay tập thể, những lời cầu nguyện tha thiết nhưng đầy tín thác. Các hoàn cảnh khốn cùng thì nhiều và đa dạng. Không cảnh khốn cùng nào ngăn cấm việc chạy đến khẩn cầu Thiên Chúa, kể cả tội lỗi, một khi đã được thú nhận (x. 2 Sm 12,13: "Bấy giờ vua Đa-vít nói với ông Na-than: Tôi đắc tội với Đức Chúa", và Thánh Vịnh 51, kinh "Miserere" mà truyền thống Do Thái gán cho Đa-vít). Người ta quay về với Thiên Chúa khi đau bệnh, không còn hy vọng nào về mặt con người để được chữa lành (x. vua Khít-ki-gia-hu, 2 V 20 và Is 38). Người công chính bị bách hại, không có chỗ dựa nào nơi con người, có thể quay về với Thiên Chúa và trông đợi nơi Ngài ơn giải thoát (Tv 22: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?").

Người ta xin gì với Thiên Chúa? Một sự giúp đỡ? Một sự cứu trợ?... Không! Sự giúp đỡ của Ngài! Sự cứu trợ của Ngài!

"Xin mau đến phù trợ con!" (Tv 38,23; 70,2 v.v...): lời kêu lên Thiên Chúa này nói nhiều hơn hẳn câu "Giúp tôi với!". Đó là một tiếng kêu cứu trong cơn khốn cùng. Điều người ta xin với Thiên Chúa là một điều thiện (sức khỏe, ơn cứu độ, ơn tha thứ, sự chấm dứt Lưu Đày) người ta biết mình hoàn toàn không thể tự mình đạt được. Người ta không xin Thiên Chúa giúp mình làm tốt hơn, như người ta nhờ một người bạn giúp đỡ. Thưa với Thiên Chúa: "Xin mau đến phù trợ con!" là thưa với Ngài: "Không có Ngài, con hư mất. Đây là chuyện sống chết. Vậy xin Ngài đừng chần chừ! Xin cứu con!"

Xét cho cùng, điều người ta xin với Thiên Chúa là điều không thể, là xin Ngài thực hiện cho ta điều mà tự căn bản ta không thể làm được. Như khi ta thưa với Ngài trong lời kinh Đức Giêsu đã dạy: "Triều Đại Cha mau đến!"

Hãy đọc lại các Thánh Vịnh trong viễn tượng này, và chúng ta sẽ tìm lại hương vị cho những cách nói đã mòn: "Chúa là ánh sáng và là ơn cứu độ của tôi... Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi còn khiếp sợ chi ai?... Nhưng lạy Chúa, xin đừng đứng xa con! Hỡi Đấng là sức mạnh của con, xin cứu giúp! Xin mau đến!" (Tv 27; Tv 22). Vì Thiên Chúa không phải là Đấng giúp ta làm khá hơn một chút điều mà ta vẫn làm được chăng hay chớ; Ngài là Đấng ban cho ta muốn điều ta không thể muốn và làm điều ta không thể làm nếu bị bỏ mặc cho chính mình (Pl 2,13: "Vì chính Thiên Chúa tác động đến ý muốn cũng như hành động của anh em, theo ý muốn nhân hậu của Người").

D) "Xin hối tiếc vì điều dữ Ngài định giáng xuống dân Ngài!"

Một trong những nét nổi bật nhất của lòng đạo đức Kinh Thánh là lòng tín thác. Van xin Thiên Chúa chữa lành, tha thứ, giải thoát sẽ chẳng ích gì, sẽ vô nghĩa, nếu Ngài điếc trước lời cầu nguyện của chúng ta, điếc như các ngẫu tượng "có tai mà không nghe" (Tv 115,6). Hai mươi lần trong các Thánh Vịnh, và ít nhất cũng chừng ấy lần trong các trình thuật Cựu Ước, có nói đến tai của Thiên Chúa, Thiên Chúa lắng tai, nghe lời khẩn cầu, v.v...

Vậy cầu nguyện cho chính mình là có ý nghĩa. Nhưng Thiên Chúa cũng không dửng dưng trước lời cầu nguyện của người chuyển cầu cho những người khác, những người chẳng nghĩ đến chuyện cầu nguyện. Người công chính, người của Thiên Chúa, ngôn sứ, có mặt chính là vì thế. Người ấy đại diện cho các tội nhân trước mặt Thiên Chúa; người ấy dám góp ý với Thiên Chúa, dám đứng chen vào giữa Thiên Chúa và các tội nhân. Đã có Áp-ra-ham mặc cả với Thiên Chúa về ơn cứu cho Xơ-đôm, khi nêu ra sự hiện diện giả định của năm mươi, bốn mươi, ba mươi, hai mươi, mười người công chính giữa thành đồi bại: "Chẳng lẽ Ngài không tha cho nơi này vì năm mươi người công chính ở đó sao?... Xin Chúa tôi đừng giận, cho tôi nói một lần này nữa thôi: may ra ở đó có mười người!" (St 18,16-33).

Nhưng nhà chuyển cầu vĩ đại, trên hết là Mô-sê: "Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và hối tiếc vì điều dữ Ngài định giáng xuống dân Ngài!" (Xh 32,11-14; Ds 14,13-19). Mô-sê đặt cược chính vị trí của mình, ông nêu lên danh dự của Thiên Chúa. Dân ngoại sẽ nói gì nếu Thiên Chúa để cho dân mà Ngài đã kéo ra khỏi cảnh nô lệ Ai-cập phải chết trong sa mạc?

Cảm động nhất trong những lời chuyển cầu ấy có lẽ là lời của ngôn sứ A-mốt, vì nó ngắn nhất. Ông lặp lại hai lần để ngăn những tai ương đe dọa sự sống còn của dân Ít-ra-en, nạn châu chấu và hạn hán; điều ông nêu ra không phải là công trạng của dân, mà là sự nhỏ bé của họ: "Lạy Chúa là Chúa Thượng, xin tha thứ! Gia-cóp làm sao đứng vững? Nó nhỏ bé biết bao!" (Am 7,1-6).

Chính trên nền của lời cầu nguyện Cựu Ước mà những lời nguyện cho mọi người (lời nguyện tín hữu) của chúng ta, và mọi lời cầu nguyện chúng ta dâng lên cho người khác, có được ý nghĩa; dù cho chính mình hay cho họ, chúng ta không thể dựa vào công trạng nào, mà chỉ dựa vào sự yếu đuối của mình và danh dự của Thiên Chúa, và như thế lại càng tốt.

4. Gương mù của bạo lực

Người ta có thể nói nhiều về cuộc canh tân Kinh Thánh, có thể đưa Cựu Ước trở lại phần phụng vụ Lời Chúa, nhưng điều vẫn còn đó là chúng ta tiếp tục nhìn từ trên xuống những con người của thời kỳ trước Đức Kitô. Chúng ta coi họ phần nào như những kẻ man rợ. Một trong những điều gây sốc cho chúng ta nhất hẳn là bạo lực, thứ bạo lực có mặt trong phong tục (tiêu diệt cả những thành và những dân tộc, nếu tin vào các trình thuật của sách Giô-suê và những mệnh lệnh của Mô-sê hay Sa-mu-en), và có mặt cả trong lời cầu nguyện của họ. Biết bao Thánh Vịnh báo oán, biết bao lời chúc dữ, nguyền rủa, những lời còn tạm nghe được bằng tiếng La-tinh nhưng mắc nghẹn trong cổ họng khi ta đọc bằng tiếng mẹ đẻ!

Việc liệt kê những đoạn gây sốc nhất thật dễ dàng nếu dựa vào một sách kinh như "Prières du temps présent" (bản dịch tiếng Pháp của Sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ), hay kinh nguyện của cộng đoàn Taizé. Những đoạn ấy bị bỏ qua và được đánh dấu bằng dấu chấm lửng. Chừng bốn mươi Thánh Vịnh đã bị cắt bỏ như thế, và việc đọc những đoạn bị rút khỏi kinh nguyện Kitô giáo thật là bổ ích; chỉ cần mở một cuốn Kinh Thánh đầy đủ là tìm lại được. (Những trích dẫn tôi đưa ra theo cách đánh số của Kinh Thánh Híp-ri, được dùng trong các bản dịch hiện đại, chứ không theo cách đánh số hơi khác của bản Phổ Thông (Vulgata) được dùng trong Sách Các Giờ Kinh.)

"Xin đừng thương xót bọn phản bội gian ác! Xin dùng sức mạnh của Ngài mà lay chúng và hạ chúng xuống... Xin tiêu diệt cho chúng chẳng còn gì!" (Tv 59)

"Thiếu nữ Ba-by-lon, kẻ sắp bị tàn phá, phúc thay người đối xử với ngươi như ngươi đã đối xử với chúng ta! Phúc thay người tóm lấy con thơ ngươi mà đập vào đá!" (Tv 137)

Ba Thánh Vịnh đã bị loại bỏ hoàn toàn: Thánh Vịnh 58 ("Lạy Thiên Chúa, xin đập gãy răng trong miệng chúng! Ước gì chúng nên như bào thai sẩy, chẳng thấy mặt trời! Người công chính sẽ vui mừng khi thấy báo oán; sẽ rửa chân trong máu kẻ gian ác."), 83 và 109 ("Khi bị xét xử, ước gì nó ra kẻ có tội, lời nó cầu xin hóa thành tội lỗi, ngày đời nó bị rút ngắn, chức vụ nó để người khác thay, con cái nó phải mồ côi, vợ nó phải góa bụa...").

Tôi không cho rằng người ta đã sai khi cắt xén sách Thánh Vịnh như thế. Hẳn nhiên là khó tìm được một giai điệu thích hợp để chuyển tải những lời nguyền rủa như vậy. Nhưng một câu hỏi vẫn còn đó, hay đúng hơn là hai câu hỏi: làm sao giải thích sự dữ dội của những tình cảm được những người Ít-ra-en đạo đức ấy bày tỏ? Và phản ứng của chúng ta trước bạo lực ấy, ước muốn che giấu, ngụy trang nó, nói lên điều gì? Nói cách khác, sự khó chịu của chúng ta đến từ đâu?

Trước hết, một nhận xét. Những người đã sửa sách Thánh Vịnh cho thích hợp với kinh nguyện của Kitô hữu đã dừng lại nửa chừng. Nếu muốn bằng mọi giá loại bỏ mọi điều làm ta khó chịu, thì lẽ ra phải đi xa hơn nữa. Nếu bỏ câu "Đức Chúa xét xử chư dân; thây người chồng chất; khắp mặt đất, Người đập nát những cái đầu" (Tv 110,6), thì chẳng phải cũng nên bỏ luôn câu trước đó: "Người đập tan vua chúa trong ngày Người nổi giận" sao? Đến cùng, có lẽ phải cắt bỏ cả bài "Magnificat": "Người hạ bệ những ai quyền thế... đuổi người giàu có về tay trắng". Charles Maurras đã không lầm khi ông khen ngợi Giáo Hội Công Giáo vì đã tháo ngòi nổ của bản văn có tính lật đổ ấy bằng cách bọc nó trong tiếng La-tinh và bình ca.

Điều đó cho thấy bạo lực gắn liền với kinh nghiệm sống của con người Kinh Thánh, có lẽ đơn giản vì bạo lực gắn liền với kinh nghiệm sống nói chung, vì nó là một dữ kiện của cuộc hiện sinh chúng ta: bạo lực của các hoàn cảnh, bất công, sự kiêu căng của kẻ quyền thế... và bạo lực sôi sục trong lòng những người là nạn nhân của sự bất công ấy, của sự khinh miệt ấy, và không tìm được lối thoát nào khác ngoài những lời nói ra. Nhưng thật ra, nói với ai? Nếu không có người tâm phúc, không có bạn bè... thì nói với ai nếu không phải với Thiên Chúa? Ít ra Ngài sẽ hiểu. Ngài sẽ làm gì tùy ý Ngài. Nhưng ít ra Ngài không thể nói rằng Ngài không biết người ta nghĩ gì, và không được báo cho biết thế giới vận hành ra sao, những kẻ ranh mãnh hành xử thế nào, những kẻ biết cách bóc lột người yếu thế, kẻ nghèo khó...

Còn chúng ta, những người khó tính kén chọn, chúng ta có cảm thấy gương mù của bạo lực không? Có, chúng ta nhạy cảm trước sự khiếm nhã của việc diễn tả một cách thô bạo, man dại như thế. Nhưng bạo lực của các hoàn cảnh, sự rối loạn đã thành nề nếp, có làm chúng ta phẫn nộ không? Đúng thế, Đức Giêsu đã nói: "Hãy yêu kẻ thù!", nhưng chúng ta có kẻ thù không? Có một kẻ thù đằng sau mỗi câu Thánh Vịnh. Điều đó gây cho chúng ta một cảm giác lạ lùng, chúng ta những người hầu như chẳng biết mình có kẻ thù nào. Chúng ta thì hòa thuận với hầu hết mọi người, tránh rắc rối, và như thế là được yên thân. Phải chăng thế giới đã thay đổi đến thế từ ba ngàn năm nay, phải chăng nó bỗng dưng trở nên tốt lành? Hay là chúng ta đã trở nên mù lòa, dửng dưng, vô hại? Đối với một môn đệ của Đức Giêsu, Đấng đã nói: "Anh em sẽ bị mọi người ghét bỏ vì danh Thầy... Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét", thì việc không có kẻ thù là điều không bình thường.

Không phải chạy theo trào lưu tự coi mình bị bách hại, nhưng nếu chúng ta thử đón nhận sứ điệp của Đức Giêsu theo đúng từng chữ ("Có thì phải nói có, không thì phải nói không!"), chắc chắn chúng ta sẽ có kẻ thù. Khi ấy mới thấy rõ chúng ta có tốt hơn những con người của Giao Ước cũ hay không. Có lẽ là có, vả lại. Có lẽ khi ấy chúng ta cũng sẽ nghiêm túc đón nhận điều răn của Đức Giêsu: "Hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em" (Lc 6,27-28) và lời của thánh Phaolô: "Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em; chúc lành chứ đừng nguyền rủa" (Rm 12,14)... Có lẽ là có... Nhưng khi ấy chúng ta sẽ không bị cám dỗ phẫn nộ trước sự thiếu giáo dục của những người nghèo và những người bị bách hại mà lời cầu nguyện đã được thu thập trong sách Thánh Vịnh, vì chúng ta sẽ học được rằng tha thứ chẳng tự nhiên cũng chẳng dễ dàng, và chúng ta sẽ có can đảm nhìn thẳng vào điều mình không dám nhìn thẳng: sự hung hăng ở trong ta, dù ta muốn hay không. Khi ấy, lương tâm yên ổn của những Kitô hữu Tây phương văn minh và bất bạo động như chúng ta sẽ trở nên đáng ngờ, cái lương tâm yên ổn hay giật mình trước những lời lẽ nặng nề và trước bạo lực lộ diện không che đậy trong các Thánh Vịnh.

Vả lại, phải trả lại công bằng cho những con người của Kinh Thánh Do Thái: họ không đáng bị thánh Gia-cô-bê khiển trách như ngài đã khiển trách một số Kitô hữu: "Anh em xin mà không được, vì anh em xin với ý xấu, để lấy mà thỏa mãn các đam mê" (Gc 4,3). Có thể họ cầu nguyện chưa đúng, nhưng ít ra không thể trách họ xin của cải để thỏa mãn đam mê. Điều họ xin là công lý, là lẽ phải. Nơi họ, chúng ta có thể học được điều này: "Phải cầu nguyện như mình đang là" (R. Pautrel). Nhất là đừng đợi đến khi trở nên hoàn hảo, không còn hận thù hay oán giận, rồi mới cầu nguyện. Bài học này có ngày vẫn còn hữu ích.

Vả lại, đây đó trong Cựu Ước, có một vài thái độ báo trước thái độ của Đức Giêsu. Dĩ nhiên là thái độ của người Tôi Trung đau khổ đầy mầu nhiệm trong sách I-sai-a: "Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca" (Is 53,7). Nhưng ngay cả vua Sa-lô-môn cũng nhận được lời khen này từ Thiên Chúa:

"Vì ngươi đã không xin... mạng sống của kẻ thù, nhưng đã xin cho được sáng suốt để cai trị cho ngay chính, này Ta... ban cho ngươi một tấm lòng khôn ngoan sáng suốt, đến nỗi trước ngươi chưa từng có ai như ngươi, và sau ngươi cũng sẽ không có ai như ngươi" (1 V 3,11-14). (Nguyên bản ghi "2 Các Vua"; đoạn văn thực ra thuộc sách 1 Các Vua.)

Đúng là Sa-lô-môn là vua, và ở địa vị ấy thì tha thứ dễ hơn khi người ta là một kẻ nghèo không chỗ dựa và không ai cứu giúp.

5. "Lòng tôi và xác thịt tôi kêu lên hướng về Thiên Chúa hằng sống"

Con người cầu nguyện bằng gì?

Chúng ta bị cám dỗ trả lời: "bằng linh hồn". Quý vị biết câu trả lời của sách giáo lý: "Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa".

Khi đã quen thuộc đôi chút với Kinh Thánh, người ta không còn ngần ngại, người ta trả lời: "bằng trọn con người mình".

Đức Giêsu đã loan báo cho người phụ nữ Sa-ma-ri đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Thiên Chúa "trong thần khí và sự thật", nhưng người ta đã hiểu sai lời Người. Người ta tưởng Người nói: "bằng trí tuệ". Cầu nguyện trở thành một hoạt động tinh thần. Từ nay nó thuộc về "đời sống nội tâm". Từ nay phải "nghĩ đến Chúa". "Thưa cha, con xin xưng là con không nghĩ đến Chúa đủ... Con bị chia trí"... Chẳng lạ gì khi người ta bị chia trí, nếu ngay từ đầu đã loại bỏ trí tưởng tượng và sự nhạy cảm của mình ra ngoài cuộc. Tôi không nói là điều đó không thể, nhưng tôi biết những người khẳng định là có thể, như thánh Gioan Thánh Giá, không bắt đầu từ đó.

Con người Kinh Thánh cầu nguyện bằng trọn con người mình. Họ cầu nguyện bằng thân xác. Lời cầu nguyện của họ giống lời cầu nguyện của người Hồi giáo hơn, với nghi thức, những cái phủ phục, cả một "bài thể dục" của nó. Con người Kinh Thánh có cả một kho cách diễn đạt để nói "tôi". Họ nói: "lòng tôi và xác thịt tôi... xác thịt tôi khao khát Ngài... Lạy Chúa, xin mở môi con..." Họ tự nói với chính mình: "hồn tôi ơi", nghĩa là "này anh bạn già", "hãy chúc tụng Đức Chúa"...

Lời cầu nguyện quả thật đến từ bên trong, từ trái tim, nhưng nó biểu lộ ra bên ngoài. Bà An-na, mẹ của Sa-mu-en, không thể cầm mình không mấp máy môi, đến nỗi ông Ê-li, người của Thiên Chúa, tưởng bà say rượu, nhưng bà đáp: "Thưa ngài, không phải thế, tôi chỉ là một người đàn bà đau khổ; rượu hay chất men tôi đều không uống, nhưng tôi đã dốc cạn tâm hồn trước nhan Đức Chúa" (1 Sm 1,15). Phải để nó trào ra, phải để nó biểu lộ qua thân xác.

Người ta cầu nguyện bằng thân xác, không phải bằng những cử động cuồng loạn và những tiếng la hét như các ngôn sứ của thần Ba-an (1 V 18,26-29), nhưng bằng tiếng hát và điệu múa. Người ta cần đến nhạc cụ. Không phải là một công thức rỗng tuếch, những lời truyền dạy của Thánh Vịnh 150: "Ca ngợi Chúa với tiếng tù và rộn rã; ca ngợi Chúa với đàn sắt đàn cầm; ca ngợi Chúa với trống con và vũ khúc; ca ngợi Chúa với đàn dây và ống sáo; ca ngợi Chúa với chũm chọe vang lừng!" Treo đàn lên cành liễu là dấu hiệu tang chế, khi những bài ca Si-on mắc nghẹn trong cổ họng vì người ta bị lưu đày nơi đất khách (Tv 137).

Cách diễn tả lời cầu nguyện thường là thi ca. Điều đó có nghĩa gì, nếu không phải là người ta dấn thân vào đó với trọn trí tưởng tượng và trọn sự nhạy cảm của mình? Hình ảnh tuôn tràn như trong các dụ ngôn của Đức Giêsu. Có cả một vườn thú trong các Thánh Vịnh (Tv 104), có những bông hoa đồng nội: "Đời con người như cỏ dại, như bông hoa nở ngoài đồng; một luồng gió thoảng qua là chẳng còn, chốn nó mọc cũng không nhận ra nó nữa" (Tv 103,15-16). Khi cầu nguyện như thế, chẳng sợ bị chia trí...

Chiều kích thi ca này của cầu nguyện đòi người ta phải dành thời gian cho nó, phải nếm, phải thưởng thức khi nó đi qua miệng. Một số Thánh Vịnh rất ngắn, chỉ ba bốn câu (Tv 117, 123, 131, 150); đọc vội cho xong thì chẳng có ý nghĩa gì. Nếu không thể lúc nào cũng hát, thì ít ra phải suy niệm, để chúng vang vọng trong ta một lúc. Thi ca không phải là một thông tin người ta truyền đi. Thiên Chúa muốn chúng ta thư giãn trong cầu nguyện, muốn chúng ta bỏ thời giờ để những lời cầu nguyện thấm vào chúng ta.

Cần có thời gian để cầu nguyện, và cần có những giờ dành cho cầu nguyện. Cần một nhịp điệu mà người ta trung thành giữ, ngay cả khi bị xô đẩy, như Đa-ni-en bị lưu đày nơi triều đình Na-bu-cô-đô-nô-xo: "Mỗi ngày ba lần, ông quỳ gối cầu nguyện và ca tụng Thiên Chúa của mình, như ông vẫn làm trước kia" (Đn 6,11).

Kẻ ngốc nào một ngày kia đã nói rằng làm việc là cầu nguyện? Hắn lấy điều đó ở đâu ra? Ngay trang đầu Kinh Thánh, nhân loại bày tỏ mình là hình ảnh Thiên Chúa qua lao động; tương ứng với sáu ngày tạo dựng là sáu ngày làm việc: như thế, con người đảm nhận công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã trao thế giới vào tay con người để con người biến đổi và làm chủ nó. Nhưng nhân loại chỉ thực hiện trọn vẹn mình là hình ảnh Thiên Chúa nếu cũng bắt chước sự nghỉ ngơi của Thiên Chúa, nếu biết lùi lại một bước so với công việc của mình, điều được biểu tượng bằng ngày thứ bảy: thời gian của nghỉ ngơi và ca ngợi. Con người không còn cầu nguyện là một con người bị tàn phế, bị tha hóa trong những gì mình làm; người ấy không còn làm chủ chính mình.

Chúng ta không biết cầu nguyện. Trong Bài Giảng trên núi, Đức Giêsu dạy chúng ta cách cầu nguyện với "Cha của chúng ta, Đấng thấu suốt những gì kín đáo" (Mt 6,5-15). Tất cả điều cốt yếu đã được nói trong mười một câu ấy, điều cốt yếu là tinh thần của cầu nguyện "trong thần khí và sự thật" (Ga 4,23). Nhưng về điểm này cũng như về các điểm khác của Lề Luật hay các Sách Ngôn Sứ, Đức Giêsu không đến để bãi bỏ, mà để kiện toàn (Mt 5,17). Chúng ta đừng xấu hổ khi học cầu nguyện nơi trường của nhà sư phạm lão thành này, người biết rõ hơn chúng ta Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta bằng gì, chúng ta là những kẻ không phải thuần là thần khí, chúng ta là những kẻ được Thiên Chúa thổi sinh khí vào lỗ mũi (St 2,7), sau khi đã nặn ra chúng ta từ bụi đất.

J.D. BUTIN

Bài viết khác