Địa chính trị của các sách Tin Mừng: Chúa Giêsu trước các quyền lực thời đại Ngài

Ảnh: Duccio di Buoninsegna, phạm vi công cộng, qua Wikimedia Commons. “Chúa Kitô trước mặt Caipha”, tác phẩm của Duccio di Buoninsegna, nhà thờ chính tòa Siena.
Trong cuốn “Géopolitique des Évangiles” (Địa chính trị của các sách Tin Mừng, NXB Desclée de Brouwer), Olivier Kempf đọc lại cuộc đời Chúa Giêsu dưới ánh sáng của các tương quan lực lượng và các quyền lực hiện diện tại Palestine thế kỷ thứ nhất. Nhà địa chính trị học này khảo sát bối cảnh lịch sử thời bấy giờ để soi sáng những căng thẳng bao quanh cuộc đời Đức Kitô.
Nếu các sách Tin Mừng cũng có thể được đọc qua lăng kính địa chính trị thì sao? Trong Địa chính trị của các sách Tin Mừng, Olivier Kempf đề xuất một cách đọc mới về cuộc đời Chúa Giêsu, chú ý đến những tương quan lực lượng chi phối Palestine thế kỷ thứ nhất. Đứng ngoài mọi mục đích hộ giáo, nhà địa chính trị học quan tâm đến những căng thẳng giữa giới chức tôn giáo, quyền lực đế quốc và khát vọng của dân Do Thái. Khi đặt các biến cố trong Tin Mừng vào bối cảnh lịch sử và chính trị của chúng, Olivier Kempf làm nổi bật những xung đột bao quanh cuộc sống và cái chết của Chúa Giêsu, mối tương quan đặc biệt của Ngài với quyền lực và bạo lực, cũng như số phận phi thường của Đấng mà hình ảnh và sứ điệp đã ghi dấu lịch sử nhân loại và vẫn còn khơi nguồn đức tin cho hàng triệu người trên khắp thế giới. “Chúa Giêsu xuất hiện trong một bối cảnh đầy những kỳ vọng chính trị và xã hội mạnh mẽ, trong khi sứ điệp của Ngài hoàn toàn không mang tính chính trị và xã hội theo nghĩa mà những người đương thời hiểu”, tác giả giải thích với Aleteia.
Phỏng vấn.
Aleteia: Ông là một nhà địa chính trị học. Ý tưởng viết cuốn Địa chính trị của các sách Tin Mừng đến với ông như thế nào? Cách tiếp cận của ông là gì?
Olivier Kempf: Ý tưởng khá đơn giản. Nhiều người đọc các sách Tin Mừng qua lăng kính chuyên môn của mình: nghệ thuật, kinh tế, phân tâm học… Về phần tôi, tôi xuất phát từ chính năng lực chuyên môn của mình. Các sách Tin Mừng là những văn bản quy chiếu, nhưng chúng cũng là một nguồn tư liệu quý giá để hiểu một thời đại, những con người và một phong trào sẽ làm thay đổi lịch sử nhân loại, dù ta có đức tin hay không. Là một nhà địa chính trị học, tôi không làm công việc hộ giáo, cũng không nhất thiết đứng trên quan điểm Kitô giáo. Mục tiêu của tôi là cho thấy địa chính trị có thể đóng góp gì cho việc đọc Tin Mừng. Địa chính trị không chỉ giới hạn ở quan hệ giữa các cường quốc: nó phân tích các tương quan lực lượng và xung đột giữa chúng, vốn không phải lúc nào cũng mang tính quốc tế mà cũng có thể diễn ra ngay trong lòng một quốc gia, một dân tộc. Đó chính là điều ta thấy trong các sách Tin Mừng: câu chuyện về một con người xuất hiện và gây xáo trộn cho những quyền lực đã được thiết lập, dù là quyền lực tôn giáo, dân sự hay chính trị.
Đó là cách đọc mà tôi đề xuất. Tôi chủ ý gạt sang một bên một số đoạn, như Bài giảng trên núi, nơi tôi không nhận thấy chiều kích địa chính trị đặc biệt nào. Chủ đề của tôi là hiểu Chúa Giêsu đã tác động thế nào đến những tương quan lực lượng sẵn có, và tại sao sứ điệp của Ngài, vốn có thể bị coi là sứ điệp của một nhà giảng thuyết Do Thái, cuối cùng lại trở nên phổ quát.
Chúa Giêsu đã làm đảo lộn các tương quan lực lượng ấy như thế nào?
Thoạt nhìn, ngay sau cái chết của Ngài, khoảng năm 30 hoặc 33, Chúa Giêsu chẳng làm đảo lộn điều gì cả. Giới tinh hoa Do Thái đã đạt được việc kết án và xử tử Ngài. Vào lúc ấy, không có gì thực sự thay đổi. Những hệ quả chỉ xuất hiện sau đó, với sự Phục Sinh và lễ Ngũ Tuần. Trong suốt cuộc đời công khai, Chúa Giêsu tạo ra căng thẳng trong xã hội Do Thái, điều gây khó khăn cho các quyền lực đương thời. Nhưng Ngài là một trường hợp đặc biệt: sứ điệp của Ngài sẽ tồn tại và lan rộng. Khi đó chúng ta bước sang một câu hỏi khác, đó là địa chính trị của quá trình Kitô hóa, một chủ đề hoàn toàn riêng biệt.
Palestine đã trải qua nhiều sự thống trị trước Rôma, đặc biệt là của Ai Cập và các vương quốc Hy Lạp hóa. Quá khứ đầy biến động này đã định hình thế giới mà Chúa Giêsu lớn lên ra sao?
Từ lâu, Palestine đã nằm ở giao điểm của các cường quốc lớn. Sau cuộc chinh phục của Alexandre Đại đế, vùng đất này rơi vào ách thống trị Hy Lạp hóa, rồi trải qua một phong trào giải phóng dân tộc với các vua nhà Hasmonê. Rôma cuối cùng áp đặt quyền thống trị, trước khi vương quốc của Hêrôđê Cả bị chia thành nhiều lãnh thổ.
Vào thời Chúa Giêsu, tình hình vì thế rất phức tạp: Galilê do Hêrôđê Antipa cai trị, trong khi Giuđê đặt dưới sự quản lý của Rôma. Thêm vào các tương quan lực lượng ấy là những căng thẳng giữa các cộng đồng khác nhau, nhất là giữa người Do Thái và người Samari, những người bị người Do Thái coi là lạc giáo và ô uế. Chính trong môi trường chính trị và tôn giáo bị phân mảnh này mà Chúa Giêsu thi hành sứ vụ công khai của Ngài.
Cuốn sách mô tả chi tiết bức tranh khảm các quyền lực Do Thái thời đó: các thượng tế, người Pharisêu, người Essêni, người Xađốc, người Samari… Chúa Giêsu đứng ở đâu trước sự đa dạng này, khi Ngài dường như không thuộc phe phái nào?
Có một điều gì đó rất mới mẻ trong cách hành động của Ngài. Chúa Giêsu xuất hiện trong một bối cảnh đầy những kỳ vọng chính trị và xã hội mạnh mẽ, trong khi sứ điệp của Ngài hoàn toàn không mang tính chính trị và xã hội theo nghĩa mà những người đương thời hiểu. Phần lớn những người nghe Ngài, kể cả các tông đồ, cũng không thực sự hiểu điều Ngài muốn nói. Đám đông chờ đợi một vị giải phóng theo nghĩa chính trị chứ không chỉ đơn thuần thiêng liêng. Cho đến khi Chúa Giêsu chết, dường như không ai thực sự hiểu sứ điệp của Ngài. Chỉ cần nhớ lại đoạn Chúa Giêsu nói với Phêrô: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy!” Phêrô không hiểu điều Chúa Giêsu muốn thực hiện. Vì thế Chúa Giêsu tránh xa những phong trào có thể giam hãm Ngài trong một logic chính trị. Ngài thường rời xa các thành thị và những nơi Ngài có thể bị lợi dụng. Đó là một cách hành xử mới mẻ và độc đáo. Thời điểm duy nhất Ngài chấp nhận sự nhập nhằng này là Lễ Lá, khi đám đông tung hô Ngài. Đó là một hình thức chấp nhận, dù mơ hồ, một cách hiểu vừa thiêng liêng vừa chính trị về sứ điệp của Ngài. Và chính biến cố này đã đẩy nhanh việc Ngài bị bắt và bị kết án. Như vậy, để sứ điệp của mình có thể triển khai trong ba năm, Chúa Giêsu đã tránh lĩnh vực chính trị hết mức có thể. Ngài chỉ chấp nhận nó vào phút chót.
Vì sao lập trường này khiến Ngài trở thành mối nguy cho các quyền lực đương thời, cả tôn giáo lẫn Rôma? Liệu có thể coi Ngài là một nhà cách mạng không?
Người Rôma chỉ nghe nói về Chúa Giêsu vào phút cuối. Trong ba năm sứ vụ công khai, Ngài vẫn không được giới chức Rôma biết đến. Họ phần lớn không quan tâm đến những gì xảy ra ở Galilê, và càng ít quan tâm hơn nữa đến những tranh cãi nội bộ của thế giới tôn giáo Do Thái. Đó là logic đế quốc: “Đó là chuyện ở cấp của các người, không phải của chúng tôi.” Người Rôma chỉ can thiệp khi giới chức Do Thái yêu cầu họ kết án Chúa Giêsu.
Tình hình này khiến giới tinh hoa tôn giáo Do Thái lo ngại. Thuật ngữ “đầu sỏ chính trị” có thể là lỗi thời, nhưng nó giúp chỉ các thượng tế hay những thân hào thế tục ngồi trong Thượng Hội đồng, những người phải gìn giữ bản sắc Do Thái và sự thống nhất tôn giáo, đồng thời phải dàn xếp với quyền lực Rôma. Rôma đòi hỏi họ trước hết phải tránh gây rối trật tự công cộng. Những người này thấy xuất hiện một người đến làm đảo lộn thế cân bằng đã được thiết lập. Với họ, giải pháp duy nhất là loại bỏ kẻ gây phiền nhiễu.
Còn thuật ngữ “nhà cách mạng”, nó mang đậm sắc thái chính trị. Chúa Giêsu không phải là người tìm cách lật đổ một hệ thống để dựng lên một hệ thống khác. Ngài đến để loan báo Tin Mừng và đứng trên bình diện thiêng liêng. Trừ khi ta cho rằng có thể có một cuộc cách mạng thiêng liêng, Chúa Giêsu không đến để đánh đổ một hệ thống chính trị. Ngài có thể đi ngược lại các quyền lực đã được thiết lập, nhưng đó không phải là mục tiêu của Ngài.
Ông dành hẳn một chương cho vấn đề bạo lực. Chúa Giêsu dùng roi xua đuổi những người buôn bán khỏi Đền Thờ và lật đổ bàn ghế của họ; Ngài tuyên bố: “Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo.” Thế nhưng Ngài cũng dạy đưa má bên kia, và truyền cho Phêrô tra gươm vào vỏ tại vườn Cây Dầu. Làm sao dung hòa những gương mặt tương phản này của Chúa Giêsu trước bạo lực? Chúng nói gì với chúng ta về mối tương quan của Ngài với quyền lực và sức mạnh?
Chúa Giêsu vừa thực tế vừa lý tưởng. Ngài không phải là hình ảnh ủy mị mà đôi khi người ta cố gắng trình bày, cũng không phải con chiên ngoan hiền mà một số hình ảnh có thể khiến ta hình dung. Ngài có thể cứng rắn, thẳng thừng, và không phải lúc nào cũng đùa. Có rất ít ví dụ cho thấy Ngài cười; Ngài sử dụng lối nói hàm ý nhiều hơn. Ngài có thể nổi giận, chấp nhận tranh luận và đối đầu về mặt trí tuệ với các đối thủ. Ngài là một người vững vàng.

“Những người buôn bán bị đuổi khỏi Đền Thờ”, tranh của James Tissot
Thế nhưng, chính sự vững vàng ấy tự nó đã là một dấu hiệu bị chống đối và tất yếu gây ra xung đột, dù những xung đột này không hề mang tính bạo lực. Chúa Giêsu là một con người của hòa bình, nhưng cũng là người bảo vệ sứ điệp của mình. Điều này giúp hiểu một số mâu thuẫn bề ngoài trong lời Ngài: chẳng hạn khi Ngài khẳng định mình đến để đem gươm giáo, trong khi lại chữa lành người đầy tớ bị Phêrô làm bị thương tại vườn Cây Dầu. Ngài cũng chấp nhận thứ bậc của những người đối thoại với mình. Vì vậy, mối tương quan của Ngài với sức mạnh không thể tóm gọn trong một sự đối lập đơn giản giữa bạo lực và bất bạo động.
Ông dành nhiều trang cho các cuộc xét xử Chúa Giêsu. Một cách đọc địa chính trị, thay vì thần học, mang lại điều gì cho những biến cố quyết định này?
Những cuộc xét xử này là bất công. Các lời buộc tội chống lại Chúa Giêsu là sai trái, người ta dùng những cái cớ để xử tử Ngài và bản án được tuyên là quá mức. Việc chỉ ra sự bất công của các phiên xử này cũng giúp làm nổi bật tính toán chính trị của những người tổ chức chúng. Điều này đúng cho cả phiên xử Do Thái lẫn phiên xử Rôma. Trong trường hợp sau, điều đó còn rõ ràng hơn: Phongxiô Philatô nhiều lần từ chối kết án Chúa Giêsu, trước khi nhượng bộ khi giới chức Do Thái cho ông hiểu rằng ông có thể mất ân sủng của hoàng đế. Mối đe dọa này rất lớn, vì nó trực tiếp đặt vấn đề với vị thế chính trị của ông. Vì thế, Philatô cuối cùng đã hy sinh công lý để bảo toàn quyền lực của mình.
Khép lại cuộc khảo sát địa chính trị này, theo ông, điều gì làm cho số phận của Chúa Giêsu trở nên độc nhất so với những “kẻ gây rối” khác bị xử tử vì lý do quốc gia thời Cổ đại?
Điều đáng kinh ngạc là Chúa Giêsu xuất hiện tại một vùng đất, Palestine, tương đối ngoại vi trong Đế quốc Rôma. Ngài đến từ Galilê, bản thân lại là một vùng bên lề của thế giới Do Thái, nơi cư dân đôi khi bị người Giuđê coi là dân tỉnh lẻ. Lịch sử đã từng biết đến những ngôn sứ và những người làm phép lạ khác. Thế nhưng Chúa Giêsu lại chết một cách nhục nhã. Nếu không có những gì xảy ra sau cái chết của Ngài, cuộc hành quyết ấy có lẽ đã chìm vào vô danh, như bao người khác bị kết án thời bấy giờ. Nhưng có sự Phục Sinh, rồi lễ Ngũ Tuần. Hai nghìn năm sau, chúng ta vẫn còn nói về Ngài. Các môn đệ của Ngài đã tỏa đi khắp thế giới và góp phần loan truyền sứ điệp của Ngài, như đã được báo trước trong các sách Tin Mừng. Và rồi, hãy nhìn xem: hôm nay chị đang phỏng vấn tôi về Ngài! Điều gì đã thay đổi? Chính là điều này: phong trào ấy đã thành công. Từ nhận định này, có thể nói chúng ta rời khỏi phân tích để bước vào suy niệm. Bởi vì hiện tượng này là điều khó có thể xảy ra. Tại sao và bằng cách nào nó đã thành công? Nhờ ai? Đến đây, chúng ta đã vượt ra ngoài địa chính trị.
Cécile Séveirac / Đăng ngày 18/10/26 – Aleteia
Géopolitique des Évangiles (Địa chính trị của các sách Tin Mừng), Olivier Kempf, NXB Desclée de Brouwer, 21,90 euro.



