Thứ Bảy, 06 Tháng Sáu, 2026

CHƯƠNG V HOẠT ĐỘNG THƯ TÍN (Khoảng năm 50 -100 sau Chúa Giêsu)

CHƯƠNG V

HOẠT ĐỘNG THƯ TÍN (Khoảng năm 50 -100 sau Chúa Giêsu)

Trong các vị hữu trách cộng đoàn Do thái giáo tại Antiôkhia có ông Saolê thành Tarsê, biệt danh Phaolô. Ông sinh vào đầu kỷ nguyên tại Cilicie (miền Tiểu Á) trong một gia đình Do thái có địa vị và khá đạo đức, thuộc phái Pharisêu tại Giêrusalem, một vài năm trước khi Chúa Giêsu rao giảng - ông không bao giờ gặp Người - ông theo học với Gamaliel, một danh sư thời danh nhất của thời đại.

1) Phaolô, Tông đồ dân ngoại (khoảng năm 35 - 65)

Vào dịp cuộc bách hại được tung ra chống lại nhóm người Hy lạp của cộng đoàn kitô giáo tại Giêrusalem, khoảng năm 35/36, Phaolô ý thức mối nguy hại cho Do thái giáo do việc kitô giáo ngày càng lan rộng đối với người ngoại giáo. Năm đầy quyền hành trong tay, để bảo vệ đức tin của dân tộc mình, ông quyết định chiến đấu chống lại những người Kitô hữu thuộc khuynh hướng này, và, một hôm, Thiên Chúa gọi ông trở nên Tông đồ dân ngoại. Trong vòng ít năm, ông được coi như một trong những thành phần có ảnh hưởng nhất của cộng đoàn Kitô hữu tại Antiôkhia, và được phái về Giêrusalem, với Bác-na-bê, để bàn cãi với các Tông đồ về vấn đề nan giải là việc thâu nhận những người ngoài Do thái giáo vào trong Giáo hội. Cuộc bàn luận không đi đến đâu, mỗi phía đều giữ lập trường của mình. Trở về Antiôkhia, được Giáo hội ủy quyền, Phaolô thực hành những chuyến đi truyền giáo trong các vùng khác nhau của đế quốc La-mã, và thiết lập một số cộng đoàn.

Chọn lựa chủ trương việc người ngoại giáo được tự do tin vào Đức Giêsu Kitô, không bao lâu ông trở thành đối tượng một cuộc chống đối dữ dội từ những môi trường nhặt nhiệm tại Giêrusalem, trong đó có những thành phần Do thái giáo của cộng đoàn Kitô hữu. Một hôm, đám đông muốn thủ tiêu ông; Phaolô thoát chết, với giá bị bắt giữ bởi cảnh sát La-mã. Hai năm tù cách vô lý tại Cêsarê, ông nại đến tòa án Rô-ma, ông được chuyển sang đó. Ông mất hẳn dấu vết vào khoảng năm 65, ít lâu sau cuộc bách hại của Nêron.

Hoàn toàn hoạt động theo sứ vụ lưu động, Phaolô không lâu trong các cộng đoàn ông đã sáng lập. Nhờ các bạn hữu du hành của ông, thường là những nhà thương mãi, ông luôn được tin tức các cộng đoàn đó. Tin tức ông nhận được không luôn tốt. Những cuộc tranh chấp nội bộ, hỗn loạn, vô số vấn đề về đời sống hằng ngày trong một thế giới thờ ngẫu thần của các dân ngoại, hoặc những hoạt động thù nghịch của những người Do thái, và còn nhiều phạm vi khác Phaolô không thể ngồi yên.

Những bức thư tâm tình và phấn đấu.

Để trả lời những câu hỏi gởi đến ông bằng thư từ hay, thường xuyên hơn, để dàn xếp các cuộc tranh chấp nội bộ ngay cả đến việc bảo vệ sứ vụ của ông, Phaolô thường viết những bức thư đầy tâm tình, nhưng do lòng say mê phục vụ Đức Kitô. Rất nhiều bức thư, chỉ còn một vài trang, được viết vào cuối thời sứ vụ của Ngài, khoảng năm 51 và 57/58.

Thư Thứ Nhất gởi giáo đoàn Thêxalônica là bức thư xưa nhất của Phaolô, và đồng thời cũng là tài liệu cổ nhất trong Tân ước. Phaolô thiết lập cộng đoàn này vào năm 50, nhưng ông phải vội vàng bỏ ra đi vì mối thù địch của người Do thái. Khi nhận được nhiều tin tốt hơn về cộng đoàn, vào đầu năm sau ông viết một bức thư để trả lời một số vấn đề, đặc biệt là vấn đề "Chúa lại đến". Theo phong tục cổ, ông bắt đầu bằng ghi địa chỉ và lời tạ ơn (Thơ thứ nhất gởi giáo đoàn Thêxalônica 1,1-5): "Chúng tôi là Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê, kính gửi Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca ở trong Thiên Chúa là Cha chúng ta, và trong Chúa Giê-su Ki-tô. Xin Thiên Chúa là Cha và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và bình an. Thưa anh em, chúng tôi phải luôn luôn tạ ơn Thiên Chúa về anh em : đó là điều phải lẽ, vì lòng tin của anh em đang phát triển mạnh, và nơi tất cả anh em, lòng yêu thương của mỗi người đối với người khác cũng gia tăng. Bởi thế, chúng tôi ohãnh diện về anh em trước mặt các Hội Thánh của Thiên Chúa, vì anh em kiên nhẫn và có lòng tin mỗi khi bị bắt bớ hay gặp cảnh gian truân. Đó là dấu cho thấy Thiên Chúa xét xử công minh : anh em sẽ được coi là xứng đáng tham dự Nước Thiên Chúa, chính vì Nước Thiên Chúa mà anh em chịu đau khổ".

Từ đó, mối tương quan giữa Phaolô và người Côrintô giảm đi cách nhanh chóng, đến nỗi những người rao giảng Do thái giáo không ngần ngại, trong hoàn cảnh lộn xộn này, đưa ra những biện chứng đối lập. Phaolô lại viết nhiều bức thư khác, giao phó cho Timôtê và Titô; ngày nay những bức thư ấy được thu thập lại trong Thư Thứ Hai gởi giáo đoàn Côrintô. Bị tấn công bởi những thù địch nghi ngờ về quyền bính tông đồ của ông, Phaolô cho thấy ông có thể kể ra những thị kiến và mạc khải Chúa đã ban. Tuy nhiên, để ông không tự kiêu, Chúa bắt ông phải chịu khổ hình thân xác, một thử thách không ngừng đến với ông. Lúc đó ông viết (Thư Thứ Hai gởi giáo đoàn Côrintô 12, 8-9 : « Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để osức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi ».

Phục vụ Phúc âm Chúa Kitô

Chẳng bao lâu, trên miền cao nguyên Ga-lát (Tiểu á), một cơn khủng hoảng lại xuất hiện do những người Do thái, ít lâu sau khi Phaolô ra đi, đã tìm cách lôi kéo cộng đoàn mới trở về việc giữ luật cách nhặt nhiệm, chịu phép cắt bì và giữ luật lệ về vấn đề ăn uống. Khi nghe biết điều đó, Phaolô lập tức trả lời và viết Bức thư gỏi người Ga-lát, cách hùng mạnh và hăng say như đoạn đầu sau đây (Ga 1, 6-8): « Tôi lấy làm ngạc nhiên, khi thấy anh em trở mặt omau lẹ như thế với Đấng đã kêu gọi anh em nhờ ân sủng của Đức Ki-tô, để theo một Tin Mừng khác. Không có Tin Mừng nào khác đâu, mà chỉ có một vài kẻ phá rối anh em, và muốn làm xáo trộn Tin Mừng của Đức Ki-tô đó thôi. Nhưng nếu có ai, kể cả chúng tôi, hoặc một thiên thần nào từ trời xuống, loan báo cho anh em Tin Mừng khác với Tin Mừng chúng tôi đã loan báo cho anh em m, thì xin Thiên Chúa loại trừ n kẻ ấy đi ».

Rồi Thư gởi giáo đoàn Philíphê. Chính tại Philíphê, lần đầu tiên Phaolô đã giảng Phúc âm ở Âu châu vào năm 49/50. Vào lúc ông viết bức thư này, hoặc nhiều lần rồi được thu thập thành một số bài nhỏ. Sau đó, ông còn bị tù, có lẽ là tại Êphêxô, khoảng năm 56/57. Nhưng ông biết việc tù đày của ông là để phụng sự Phúc âm. Vì thế, ông mời gọi các bạn hữu hãy bền đỗ với Thiên Chúa cho dầu các thù nghịch vẫn gây xáo trộn trong cộng đoàn. Ông từng ra lời kêu gọi khẩn thiết như sau Philíphê 1,27-29 « Chỉ có một điều là anh em phải oăn ở d làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Ki-tô. Như thế, dù tôi có đến thăm anh em hay vắng mặt đi nữa, tôi vẫn muốn được nghe người ta nói về anh em là anh em luôn đứng vững, cùng chung một tinh thần, một lòng một dạ cùng nhau chiến đấu vì đức tin mà Tin Mừng mang lại cho anh em. Về bất cứ điều gì, đừng sợ những kẻ chống đối anh em : đó là dấu cho thấy họ sẽ bị hư vong, còn đối với anh em, thì lại là dấu chỉ ơn cứu độ. Điều ấy là ân huệ Thiên Chúa ban. Quả thế, nhờ Đức Ki-tô, anh em đã được phúc chẳng những là tin vào Người, mà còn được chịu đau khổ vì Người ».

Vào năm 56, hoặc trể hơn vào năm 59, Phaolô kết thúc cuộc truyền giáo phía đông Địa Trung hải bị mang về Giêrusalem kết quả cuộc lạc quyên tổ chức giúp các cộng đoàn ờ Giuđêa rồi tại Rôma và Tây Ban Nha. Tại Rôma đã có một cộng đoàn quan trọng, Phaolô hăng mong ước viếng thăm. Ông chưa được biết cộng đoàn đó, nhưng ông biết cộng đoàn đang chia rẽ vì một số vấn đề. Đặc biệt những anh em gốc Do Thái giáo và Tin Mừng của Thiên Chúa (Rôma 1,1), Phaolô đã trình bày niềm xác tín sâu xa của mình (Rôma 1,16-17): « Vâng, tôi không hổ thẹn vì Tin Mừng t. Quả thế, Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp. Vì trong Tin Mừng, sự công chính của Thiên Chúa được mặc khải, nhờ đức tin để đưa đến đức tin, như có lời chép : Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống ». Một bản văn kết thúc danh sách những bức thư mà Phaolôđã viết và được truyền đạt tđi chúng ta, đó là Thư gửi Philêmon : Ônêdimô, người nô lệ của ông, trốn và tìm trú ẩn bên cạnh Phaolôvà có lẽ tại Rôma, ông đã trở nên người Ki-ô hữu,-và Phaolô đã gửi ông trở về chủ của ông, kèm theo bức thư do chính tay Phaolô viết vào khoảng năm 63-64, yêu cầu chủ tiếp nhận bằng những lời như sau : « Vậy, nếu anh coi tôi là bạn đồng đạo, thì xin anh hãy ođón nhận nó như đón nhận chính tôi. Nếu nó đã làm thiệt hại anh hoặc mắc nợ anh điều gì, thì xin để tôi nhận cả... » (Philêmon 17-18).

2) Giáo hội trong cơn khốn khổ » (khoảng năm 65-100)

Vào cuối thời đại toàng đồ, phần lớn các thành thị đông phương đã được biết đến Kirô giáo : Giêrusalem, Césarée, Antiôkhia, Êphêxô, và miền phụ cận Philípphê, Thêxalônica, Côrintô, có lẽ cả Ai-cập và một số miền phía đông sông Giođan. Nhưng chúng ta vẫn còn thiếu những tài liệu hùng biện chính xác để nói rõ hơn. Bên Tây phương, nếu không kể Rôma và có thể cả Tây ban nha thì ít có những cộng đoàn trong thung lũng sông Rhône. Tại Bắc Phi, Kitô-giáo chi được nói đến vào đầu thế kỷ thứ hai. Cách chung chung, cho đến cuối thế kỷ thứ nhất, Kitô giáo vẫn còn kể là một hiện tượng hầu như có tính cách thị thành hoặc ở miền Duyên Hải, liên quan nhiều đến các trục văn hóa và thương mại thời bấy giờ.

Kitô giáo có tương quan gì với Đế quốc? Lẫn lộn với những người Do Thái, người Kitô hữu đối với họ chỉ là một trong những tà phái. Ki-tô hữu đã có được bốn mươi năm hưổng chế độ luật pháp như một tôn giáo được phép và được nhìn nhận. Những cuộc nổi loạn của người Do Thái tại Giêrusalem chống lại người La Mã và việc Đền Thánh bị phá hoại tiếp theo vào năm 70, đã đưa đến hai hậu quả :

Một đàng, cuộc đoạn giao giữa Do Thái giáo và Kitô giáo, mở đầu một cuộc tranh chấp kéo dài hàng thế kỷ. Đàng khác, mất hẳn qui chế đặc ân, làm cho người Kitô hữu sống trong tinh trạng bất hợp pháp. Từ triều đại Domitien (81-96), nhiều cuộc bách hại nối đuôi nhau cho tđi khi sắc luật nhân nhượng tại Mi-lan, vào năm 313, dưới thời hoàng đế Constantin.

Bên trong các cộng đoàn, vào cuối thế kỷ thứ nhất, tình trạng không sáng sủa gì. Giáo hội vẫn sống nhưng không còn là giai đoạn khải hoàn như lúc đầu. Vào những năm 70, hội đường Do Thái thù ghét chính quyền La Mã, bách hại từng đợt kịch liệt đã làm cho các Kitô hữu phải chịu nhiều thử thách về đức tính bền đỗ cùa mình. Hoạch định của Thiên Chúa không hiện rõ, việc Chúa tái lâm như trì hoãn, (Thánh Phaolô nghĩ việc tái lâm có thể xảy ra lúc ông còn sống), làm cho các tín hữu tường chừng Lời Chúa hứa là hảo huyền.

Cũng như mỗi thời đại, trong những hoàn cảnh như thế, các tiên tri giả cả đến những vị thiên sai giả nổi lên ngay trong các cộng đoàn hoặc chống lại nhau gây ra những cuộc tranh chấp đau đớn. Làm thế nào để bảo vệ các Kitô hữu cho khỏi cám dỗ bỏ đạo, đối lại những cuộc bách hại như vậy, hoặc sự bất trung đối với những người ly giáo? Một cách đại quát hơn, làm thế nào để củng cố đức tin của họ, củng cố tình yêu và củng cố niềm cậy trông của họ ?

Để đối phó với hoàn cảnh, có hai giải pháp : một là thiết lập các vị lãnh đạo hàng giáo phẩm, và đầu thế kỷ thứ hai đưa đến việc thành lập hàng giám mục. Hai là phải xác định rõ ràng những tiêu chuẩn của đức tin chân chính và giáo lỷ đích thực.

Khảo luận về đức tin Kitô giáo

Các vị chủ chăn lúc bấy giờ cầm bút và thảo ra những bức thư để huấn dụ anh em của mình. Thực ra không còn những bức thư đích thực như dưới thời Phaolô, nhưng những luận thuyết về lý thuyết Kitô giáo.

Cứ như thế vào năm 70/80 xuất hiện những tác phẩm quan trọng, đặc biệt Sách Giáo huấn 12 Tông đồ (La Doctrine des 12 Apôtres), thường được biết dưới danh hiệu Didachè, sách giáo huấn này được bổ túc vào cuối thế kỷ bằng nhiều đoạn thêm vào. Sách giáo huấn mô tả con đường sống và con đường chết, xác định phải cử hành bí tích rửa tội, giữ chay và bữa tiệc thánh như thế nào. Bản văn rất quí giá cho biết về đởi sống của những cộng đoàn đầu tiên, nhưng bản văn này không được liệt kê vào cuốn Tân ước:

Thư gửi người Do Thái xuất hiện cùng một thời đại. Tính cách độc đáo của lá thư trình bày Đức Kitô dưới khía cạnh vừa là linh mục vừa là hy tế, bởi vì Ngài vừa là Thượng tế dâng của lễ một lần, của lễ đền tội (Thư gửi Do Thái 8,1; 9,11 tiếp theo; 10,21; v.v..), vừa là của lễ đền tội phá hủy tội lỗi (Thư gửi Do Thái 9,26) và ban cho chúng ta, ngay từ bây giờ bằng đức tin, được đi tới Thiên Chúa (Thư gửi Do Thái 11,1 tiếp theo). Vào những năm 80, xuất hiện Thư Thánh Giacôbê, bởi vì thư này hàm chứa hai chỗ nhắc xa xa đến Đức Giêsu (Giacôbê 1,1; 2,1), thư này được coi như tác phẩm của một người Do Thái. Thực ra, đây là một bức thư gứi cho các tín hữu có văn hóa Hy lạp và còn sống liên hệ với hội đường mà trước đây họ đã trực thuộc, đồng thời cũng gửi cho những người Do Thái, và Hy lạp để hy vọng đưa họ về với Kitô giáo. Bức thư đặc biệt đặt vấn đề chống lại truyền thuyết, căn cứ vào tư tưởng Phaolô, chủ trương chỉ chú trọng đến đức tin trên việc làm. "Anh em thân mến, ích gì khi chì nói đến đức tin mà không có việc lầm ? Đức tin có thể cứu được sao? (Gia-cô-bê 2,14). Ít lâu sau, Thư Thứ Nhất của Thánh Phêrô tại vùng Tiểu Á, có một số cộng đoàn kitô giáo mà các thành phần đang bị làm mồi cho môi trường xung quanh chống đối mạnh mẽ và bị đe dọa nhượng bộ. Đàng khác, cuộc bách hại của Đomitien áp đặt nặng nề đến nỗi sẽ làm cho đức tin phải bị thiệt thòi. Lúc đó, một tác giả lấy danh hiệu Phêrô - đó cũng là thói quen xuất bản một bản văn dưới uy quyền của một vị có danh tiếng - viết bức thư này, trong đó liên tiếp bàn đến những vấn đề dân tộc mới được Thiên Chúa chọn trong Đức Giêsu Kitô (Thư Thứ Nhất Phêrô 1,3-2,10), sự hiện diện của người kitô giáo trong cuộc đời (Thư Thứ Nhất Phêrô 2,11-3,12), sự đau khổ, đặc biệt đau khổ trong các cuộc bách hại như những giòng sau đây (Thư Thứ Nhất Phêrô 3,13-17): « Ai làm hại được anh em, nếu anh em nhiệt thành làm điều thiện ? Mà nếu anh em ochịu khổ vì sống công chính, thì anh em thật có phúc ! Đừng sợ những kẻ làm hại anh em và đừng xao xuyến. Đức Ki-tô là Đấng Thánh, hãy otôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em q. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng. Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng anh em vì anh em ăn ở ngay thẳng trong Đức Ki-tô, thì chính họ phải xấu hổ vì những điều họ vu khống, bởi lẽ thà chịu khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý của Thiên Chúa, còn hơn là vì làm điều ác ».

Thư Thứ Hai của Thánh Phêrô được viết vào đầu thế kỷ thứ 2 hoặc 30 năm trước đó, không có tương quan gì tới Thư Thứ Nhất. Bức thư tố cáo giáo thuyết sai lạc và đời sống luân lý lệch lạc của những người bất nhân, nghĩa là của những người ly giáo thấm nhập vào trong Giáo hội (Thư Thứ Hai Phêrô 2,1...), thư cũng bàn đến việc "Chúa tái lâm" đến chậm : Chúa kiên nhẫn nhưng Ngài sẽ đến (Thư Thứ Hai Phêrô 3,3-13); từ đó có lời huấn dụ sau cùng là hãy lớn lên trong ơn nghĩa và sự nhận biết Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu Độ chúng ta ( Thư Thứ Hai Phêrô 3,18). Như vậy, bức Thư Thứ Hai này là tài liệu mới nhất trong Bộ Tân Ước (vào khoảng năm 125). Có điều đáng để ý là bức thư kể rõ các Thánh Thư của Phaolô (Thư Thứ Hai Phêrô 3,15...) mà các tuyển tập đã lưu hành trong các cộng đoàn.

Nhân danh Phaolô

Những nhóm phát xuất từ Phaolô quả thực có sức hoạt động mạnh mẽ, dầu có sự chống đối của nhiều cộng đoàn kitô giáo khác, như chúng ta vừa thấy Thánh Thư của Thánh Giacôbê và Thư Thứ Hai của Thánh Phêrô đã nêu rõ. Vì thế, bên cạnh những tập lục cho lưu hành những đoạn có ý nghĩa nhất của các bức thư của Ngài, từ năm 80/85, họ còn cho lưu hành nhiều thư khác và theo phong tục cùa thời đại, họ không ngần ngại đặt dưới danh hiệu của Thánh Phaolô.

Trước hết, Thư Thứ Hai gửi giáo đoàn Thêxalônica. Mục đích : huấn dụ và cải tiến những người kitô hữu cho Chúa Kitô sắp đến, họ dựa vào giáo huấn của Thánh Phaolô mà không hiểu rõ (Thư Thứ Hai Thêxalônica 2,1-2), sống một cách hỗn độn, đặc biệt là từ chối làm việc, dường như ngày của Chúa đã gần tđi (Thư Thứ Hai Thêxalônica 3,6...). Thư Thứ Nhất và Thư Thứ Hai gửi Timôthê và Thư gửi Titô. Đức tin được coi như gắn bó không còn với Đức Kitô  mà với giáo huấn rõ ràng, giờ đây trờ thành bộ luật các việc lành; tình yêu muốn trờ thành như một nhân đức. Ngoài ra, các tông đồ không còn nữa, cần củng cố vai trò người điều khiển các cộng đoàn địa phương, đặc biệt trong vấn đề đấu tranh chống lại những giáo thuyết sai lầm. Đâu đâu cũng nói đến việc tỉnh thức đi đôi với việc thờ lạy Đấng mà lòng đạo đức phải bám rễ, như bản văn sau đây (1 Timôtê 6,11-16): « Phần anh, hỡi người của Thiên Chúa, hãy tránh xa những điều đó ; hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hoà. Anh hãy thi đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp vì đức tin, giành cho được sự sống đời đời ; chính vì sự sống ấy, anh đã được Thiên Chúa kêu gọi, và anh đã nói lên lời tuyên xưng cao đẹp trước mặt nhiều nhân chứng. Trước mặt Thiên Chúa là Đấng oban sức sống cho mọi loài, và trước mặt Đức Ki-tô Giê-su là Đấng đã làm chứng trước toà tổng trấn Phong-xi-ô Phi-la-tô bằng một lời tuyên xưng cao đẹp, tôi truyền cho anh : hãy tuân giữ điều răn của Chúa mà sống cho tinh tuyền, không chi đáng trách, cho đến ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, xuất hiện . Đấng sẽ cho Đức Ki-tô tỏ hiện vào đúng thời đúng buổi,

là Chúa Tể vạn phúc vô song,

là Vua các vua, oChúa các chúa.

Chỉ mình Người là Đấng trường sinh bất tử,

ngự trong ánh sáng siêu phàm,

Đấng không một người nào

đã thấy hay có thể thấy.

Kính dâng Người danh dự và uy quyền đến muôn đời. A-men

Vào cuối thế kỷ, Thánh Thư gửi giáo đoàn Côlôxê, có lẽ đã được sáng tác từ một bản văn của Thánh Phaolô, và Thánh Thư gửi người Êphêxô là bài trả lời, hai thư này không có tính cách thơ tín cho bằng những bài thuyết trinh có hệ thống về đức tin so sánh với những giáo huấn các Thánh Tông đồ. Trước đây hai bức thư này chú giải và xét lại gia tài Phaolô về những điểm chính yếu. Như vậy, Đức Kitô được cử hành như vị hòa giải, chúa tể mọi quyền năng (Côlôsê 1,15-20; 2,14-15; Êphêxô 3,10-11). Giáo hội không còn hiện diện như thực tại địa phương, nhưng trong chiều hướng phổ quát; Giáo hội là huyền thể Chúa Kitô là đầu (Côlôsê 1,18; Êphêxô 1,21 tiếp theo). Người kitô hữu không những đã được cứu mà còn được sống lại với Đức Kitô (Côlôsê 2,12; Êphêxô 2,6), điều người kitô-hữu được mời gọi rút ra trong đời sống những hậu quả (Côlôsê 3,1-4.16-17; xem thêm Êphêxô 5,18-20): « Chớ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới truỵ lạc, nhưng hãy thấm nhuần Thần Khí. Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng ; hãy đem cả tâm hồn mà oca hát chúc tụng Chúa. Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha ».

Bài viết khác