Gioan Tẩy Giả

Gioan Tẩy Giả được nhắc đến 90 lần trong Tân Ước, một con số đáng kể, chỉ có Phêrô và Phaolô được nhắc đến thường xuyên hơn cho thấy tầm quan trọng các Kitô hữu đầu tiên dành cho "vị thánh Cựu Ước" này cho dù chỉ thấy nói đến ông trong Tân Ước. Ông được xếp vào hàng ngôn sứ Cựu ước cuối cùng, vì ông ra đời và chết trước Đức Kitô.
Chính ông tiếp nối dòng dõi các tiên tri chuẩn bị và loan báo về Chúa Giêsu. Cả bốn Tin Mừng đều mở đầu câu chuyện về đời sống công khai Chúa Giêsu bằng việc kể về việc Người chịu phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả (xem thêm Công vụ Tông đồ 1,21-22).
I. Các nguồn gốc.
Gioan Tẩy Giả được biết chủ yếu qua bốn Tin Mừng và sách Công vụ Tông đồ[1], nhưng cũng có những văn bản khác nói về ông, quan trọng nhất trong số đó văn bản từ nhà sử học Do Thái Flavius Josephus, sống vào thế kỷ thứ nhất.
Flavius Josephus viết trong tác phẩm "Do Thái thời cổ đại" (XVIII, 116-119): "Hêrôđê đã giết Gioan Tẩy Giả, mặc dù ông là một người tốt và khuyến khích người Do Thái thực hành đức hạnh, công bằng với nhau và đạo đức đối với Thiên Chúa để cùng nhau đến chịu phép rửa (...) Mọi người tụ tập quanh ông, vì họ rất phấn khích khi nghe ông nói".
Theo Josephus, Hêrôđê sợ ảnh hưởng Gioan Tẩy Giả có đối với đám đông, và đã cho giết Gioan vì lý do này.
1. Những giai đoạn chính trong sứ mệnh Gioan Tẩy Giả.
Theo chứng từ chính Chúa Giêsu, Gioan Tẩy Giả "một tiên tri, và hơn cả một tiên tri, vị tiên tri vĩ đại nhất", Êlia được tiên báo bởi Malakhi (3,23-24).
Ông đi ngay trước Chúa Giêsu đến (Lc 7,24-28 và Mt 11,7-15).
Chính trong viễn cảnh vị tiền hô và liên quan đến Chúa Giêsu các Tin Mừng trình bày về con người Gioan Tẩy Giả.
Ông là ai?
a. Luca người duy nhất nói về sự sinh ra và thời niên thiếu Gioan, và chính qua Luca biết ông xuất thân từ gia đình tư tế và qua bà mẹ, và có quan hệ họ hàng với Đức Maria và do đó với Chúa Giêsu (Lc 1,5 và 36).
Việc thiên thần Gápbrien loan báo ông sinh ra chứa đầy những ám chỉ đến các tiên tri cổ xưa, những người cũng loan báo, nhưng xa hơn, về việc Chúa đến (Lc 1,5-17) và so sánh đoạn văn với Samuen (1Sm 1,20, và Samson (Thủ lãnh 13, 2-5) ; việc thiết lập lời khấn Nazir (Dân số 6,1-4) ; Giêrêmia thánh hiến ngay từ trong lòng mẹ (Gr 1,5; và Êlia, được đề cập rõ ràng, và đặc biệt "sự trở lại" của ông được tiên tri Malakhi loan báo (Mal 3,24; xem thêm Huấn ca 48,10-11).
b. Cả bốn Tin Mừng đều trình bày Gioan Tẩy Giả, khi ông đã trưởng thành, như "tiếng kêu trong hoang địa: hãy dọn đường cho Chúa", được trích dẫn từ Đệ nhị Isaia (Is 40,1-11 ; Mt 3,1-4 và Lc 3,1-6). Trong hai đoạn văn cuối cùng, có thể nhận ra nhiều ám chỉ đến lịch sử tiên tri Ítraen trích dẫn từ Isaia, lời kêu gọi sám hối và thanh tẩy, mô tả về trang phục Gioan Tẩy Giả, gợi nhớ đến trang phục của Êlia (2V 1,8) và các tiên tri khác (xem Dcr 13,4); và phần mở đầu Luca, gợi nhớ đến các đoạn văn giới thiệu Giêrêmia (Gr 1,1-3) và Hôsê (Hs 1,1).
c. Chính Gioan Tẩy Giả, qua mặc khải thiêng liêng, loan báo cho đám đông về sự hiện diện Đấng ông chỉ là người tiền hô khiêm nhường, và chính ông chỉ ra Chúa Giêsu "Chiên Thiên Chúa" và "Đấng Mêsia"; và thúc đẩy hai môn đệ theo mình đến với Chúa Giêsu, trở thành hai môn đệ Chúa Giêsu (Ga 1,19-39).
d. Sau khi đã chỉ ra Chúa Giêsu cho đám đông chú ý, Gioan Tẩy Giả tự nguyện lùi bước trước Người (Ga 3,22-30).
e/ Gioan Tẩy Giả không lâu sau đó bị Hêrôđê Antipas bỏ tù và bị chém đầu (Mc 6,17-29 và Mt 17,9-13).
Ngay cả bằng cái chết, Gioan Tẩy Giả vẫn nằm trong dòng dõi các tiên tri (xem Mt 6,11-12 và Cv 7,51-53), và ông báo trước cái chết của Chúa Giêsu.
2. Gioan Tẩy Giả và người Do thái thời ông.
Để hiểu rõ hơn về Gioan Tẩy Giả, cần thiết phải so sánh những gì các tác giả Tin Mừng nói về ông với những gì biết từ các nguồn khác về Palestine thế kỷ thứ nhất.
Theo các tác giả Tin Mừng (Mt và Ga), Gioan Tẩy Giả sống trong sa mạc gần Giêrusalem, rất gần sông Giođan và không xa nơi con sông nhỏ này đổ vào Biển Chết, cho dù vẫn khó xác định chính xác vị trí này.
A. Gioan Tẩy Giả và Qumran
Như vậy, Gioan Tẩy Giả không sống xa cộng đồng Étxênô nổi tiếng ở Qumran (tây bắc Biển Chết). Việc phát hiện ra những "cuộn sách Biển Chết" nổi tiếng vào năm 1947 giúp biết về lối sống và giáo lý cộng đồng này. Lúc đầu, người ta đưa ra giả thuyết Gioan Tẩy Giả có thể đã thuộc về cộng đồng Qumran, hoặc ít nhất, ông có mối liên hệ rất chặt chẽ với họ.
Ngày nay, giả thuyết bị bác bỏ; đây là ba lý do trong số những lý do khác:
1. Gioan chắc chắn đã biết về cộng đồng Qumran, vì ông chỉ cách đó vài giờ đi bộ, nhưng khó có thể nghĩ ông thuộc thành viên nhóm họ, vì người Do Thái ở Qumran tự cho mình những tư tế chân chính và mạnh mẽ phản đối các tư tế nơi Đền Thờ Giêrusalem.
Trừ khi Gioan Tẩy Giả hoàn toàn cắt đứt với gia đình mình, khó có thể hiểu được làm thế nào người con trai một tư tế (Lc 1,5tt) Giêrusalem có thể một thành viên Qumran.
2. Lối Gioan Tẩy Giả sống không thể so sánh với lối sống người Qumran. Ở Qumran, người ta sống trong một cộng đồng khép kín. Gioan Tẩy Giả sống trong sa mạc và mặc dù có môn đệ, ông dường như không giam mình trong một cộng đồng kiểu đó. Hơn nữa, một trong những nghi lễ thiết yếu Qumran nơi bữa ăn cộng đồng, được cử hành với một nghi thức cho tầm quan trọng thiêng liêng. Gioan Tẩy Giả nuôi sống mình bằng các sản phẩm tự nhiên từ sa mạc, không có gì phức tạp hơn (Mt 3,4).
3. Các thành viên Qumran cư xử rất bè phái, phán xét nghiêm khắc các tư tế Giêrusalem và những người vâng phục. Họ không cởi mở đối với người ngoại quốc. Ngược lại, Gioan Tẩy Giả dường như thuộc về một dòng rất cởi mở; mặc dù ông có môn đệ, ông không cư xử theo cách hẹp hòi với phần còn lại thế giới. Đám đông đến tìm ông, thậm chí cả người ngoại (những người lính được đề cập trong Lc 3,14 thuộc người La Mã), và đưa ra thông điệp hoán cải cho tất cả mọi người.
B. Phép rửa Gioan Tẩy Giả
Mặc dù không phải môn đệ Qumran, Gioan Tẩy Giả thuộc về Do Thái giáo (có nhiều nhóm vào thời điểm đó), một nhóm ngoại vi ("ngoại vi" để phân biệt với Do Thái giáo chính thống được đại diện bởi các tư tế, Đền Thờ và người Pharisêu).
Bằng cách sống trong sa mạc, ông tạo khoảng cách với tôn giáo chính thống. Ông tìm lại truyền thống các tiên tri, những người không bao giờ mệt mỏi kêu gọi hoán cải tâm hồn.
Trong Do Thái giáo ngoại vi quan tâm đến một đời sống tôn giáo đích thực, có những nhóm dành vị trí quan trọng cho nghi thức rửa tội. Nếu Gioan Tẩy Giả nổi tiếng nhất trong số những người "làm phép rửa" thời đó, ông chắc chắn không phải người duy nhất[2].
Hơn nữa, dường như vào thời Chúa Kitô có một nghi thức được gọi "phép rửa cho người sám hối" (những người ngoại giáo gia nhập sang Do Thái giáo). Nghi thức thể hiện việc gia nhập dân Giao Ước là phép cắt bì; trong Do Thái giáo muộn, người ta thêm vào cho những người cải đạo một nghi thức tắm nghi lễ, được áp đặt sau phép cắt bì.
Nhưng tất cả không cho phép nói chính xác và chắc chắn phép rửa do Gioan Tẩy Giả thực hiện xuất phát từ đâu. Dù sao đi nữa có tầm quan trọng rất lớn đối với Gioan Tẩy Giả. Những đặc điểm chính gồm Phép rửa bằng nước, chính Gioan Tẩy Giả đối lập với phép rửa bằng Thần Khí, phép rửa thánh hóa và lửa phán xét (Mt 3,11 và Cv 1,5). Trong phép rửa này, Gioan Tẩy Giả đóng một vai trò quan trọng; chính ông làm phép rửa (Mt 3,14); điều cần lưu ý, vì trong giáo phái Qumran, mỗi thành viên tự mình thực hiện việc tắm thanh tẩy; điều tương tự cũng áp dụng cho những người cải đạo, người làm phép rửa không can thiệp. Vì vậy, chính Gioan Tẩy Giả thực hiện nghi thức, và cũng chính ông lên tiếng. Ngoài ra còn có lời kêu gọi hoán cải, cần phải hoán cải, chuẩn bị cho Đấng Mêsia đang gần đến; thời kỳ cuối cùng và việc hậu duệ Abraham không đủ trước phán xét sắp xảy ra, vì thế cần có sự hoán cải của tâm hồn.
Theo văn bản Flavius Josephus đã được đề cập trước đó, người Do Thái được mời gọi "cùng nhau đến chịu phép rửa". Họ cùng nhau xuống nước sông Giođan, dù đàn ông, phụ nữ, người thu thuế, chủ cửa hàng, v.v...) Tuy nhiên, cần nhớ xã hội Do Thái dựa trên một hệ thống thanh sạch phân cách. Một người Pharisêu không đến gần một người thu thuế vì do nghề nghiệp và việc tiếp xúc với người ngoại được coi thuộc cấp độ thanh sạch tiềm năng thấp hơn người Pharisêu.
Và nếu một người Pharisêu tiếp xúc với một người thu thuế hoặc một người ngoại, thực hiện những việc tắm rửa nghi lễ cho phép họ lấy lại cấp độ thanh sạch nghi lễ (Mc 7,1-4). Hệ thống Gioan Tẩy Giả đã thách thức tất cả điều này, khiến tất cả các loại người ở các trạng thái thanh sạch nghi lễ khác nhau đứng cạnh nhau. Gioan Tẩy Giả yêu cầu tất cả cùng xuống nước sông Giođan để thanh tẩy tội lỗi.
Trong Do Thái giáo, việc tắm rửa nghi lễ dùng để đặt cá nhân vào trạng thái thanh sạch nghi lễ, nhưng không xóa bỏ tội lỗi. Một vai trò các lễ vật dâng trong Đền Thờ để xóa bỏ tội lỗi. Ngược lại, dường như phép rửa Gioan Tẩy Giả được đặt trong mối liên hệ với việc xóa bỏ tội lỗi. Vì vậy, Gioan Tẩy Giả thực hiện một phản đối nhất định đối với vai trò Đền Thờ và các lễ vật được dâng trong đó.
C. Thông điệp Gioan Tẩy Giả.
Gioan Tẩy Giả sống khổ hạnh, thậm chí gây ra chỉ trích từ một số người (Mt 11,18). Trong thái độ một tiên tri, ông thể hiện, mặc dù sắp xảy ra, Nước Thiên Chúa vẫn chưa đến. Và chỉ trong Nước Thiên Chúa mới có "bữa tiệc". Lưu ý Chúa Giêsu sẽ đến "ăn uống" (Mt 11,19), cho thấy Nước Thiên Chúa đã đến.
Như các tiên tri, Gioan Tẩy Giả loan báo "Sự Phán Xét" và loan báo như sắp xảy ra. Ông sử dụng những hình ảnh rất mạnh mẽ để mô tả Thiên Chúa đến. Ông nói về "cơn thịnh nộ sắp đến" và "lửa". Cơn Thiên Chúa thịnh nộ đối với tội lỗi, như các tiên tri đã mô tả (Lc 3, 7-9 và so sánh đoạn văn này với Malakhi 2,17 - 3,5 và Isaia 30, 27-30).
Sa mạc nơi Gioan Tẩy Giả sống (từ thời niên thiếu Lc 1,80) có hai ý nghĩa. Đây là nơi thử thách, nơi dân sẽ bị phán xét (xem Êd 20,35) nhưng cũng là nơi dân sẽ được thanh tẩy, phục hồi và cứu rỗi (xem Hs 2,16). Chính việc vượt qua sa mạc nên dân Ítraen đã có thể đến Đất Hứa. Con đường Chúa đi cũng qua sa mạc.
Hoán cải Gioan Tẩy Giả mời gọi cũng nằm trong đường thông điệp các tiên tri. Con người cần phải ăn năn để được tha thứ tội lỗi. Những lời Gioan Tẩy Giả khuyên cụ thể đưa ra cho những người đến gặp ông (Lc 3, 10-13).
Điều gây ấn tượng nữa trong nhân cách Gioan Tẩy Giả nơi sự cởi mở của ông, có một khía cạnh phổ quát. Ông tiếp đón những người rất khác nhau, người Pharisêu và Sađuxê (Mt 3,7), binh lính La Mã (Lc 3,14), người thu thuế (Lc 3,12), và thậm chí cả gái điếm (Mt 21,31b-32).
Nhưng cốt lõi trong thông điệp Gioan Tẩy Giả nơi việc loan báo Đấng Mêsia đến và hiện diện. Theo nghĩa này, ông "rao giảng Tin Mừng", loan báo "Tin Mừng" (Lc 1,18). Hai cách trình bày điều này trong các Tin Mừng. Một mặt trong các Tin Mừng Nhất Lãm (Mt, Mc và Lc), và mặt khác qua Tin Mừng Gioan.
A. Theo các Tin Mừng Nhất Lãm.
1. Mt 3,11-13 (các đoạn song song Mc 1,7 và Lc 3,15-18)
Trong đoạn văn, Gioan loan báo một "Đấng mạnh hơn ông" đến, và ông đối lập phép rửa bằng nước nhằm sám hối với phép rửa "Đấng mạnh hơn" sẽ ban trong Thần Khí và Lửa.
Danh hiệu "Đấng mạnh hơn", hiếm khi được dùng để nói về Đấng Mêsia, có lẽ ám chỉ đến Isaia 11,2, nơi nói Thần Khí mạnh mẽ sẽ ngự trên chồi non Giêsê, tức là trên một hậu duệ dòng dõi vua Đavít.
Như vậy, Gioan Tẩy Giả sẽ loan báo một Đấng Mêsia đến xuất thân từ dòng dõi Đavít, dòng dõi hoàng gia, và Đấng Mêsia mang đến phép rửa trong Thần Khí thánh hóa và trong Lửa phán xét.
2. Mt 11,2-6 (các đoạn song song Lc 7,18,22)
"Đấng phải đến" chắc chắn nhắc lại cách diễn đạt trong Sáng thế 49,10; và Gioan Tẩy Giả cho thấy qua đó ông gắn liền với sự mong đợi một Đấng Mêsia từ dòng dõi Đavít (thuộc chi tộc Giuđa). Nhưng câu hỏi có thể làm ngạc nhiên, dường như cho thấy Gioan Tẩy Giả do dự về Chúa Giêsu.
Điều này có thể được giải thích bởi thực tế là hành vi Chúa Giêsu dường như không hoàn toàn phù hợp với hành vi khá bạo lực (xem Mt 3, 11-12: "lửa" và "quạt lúa" có thể nhắc nhở Gr 15, 6-7) Gioan Tẩy Giả đã tiên đoán. Vì vậy Gioan ngạc nhiên, nhưng Chúa Giêsu trả lời ông bằng cách cho thấy hành vi của Người "thực sự mở đầu kỷ nguyên Mêsia, nhưng bằng cách ban phát ân huệ và cứu độ, không phải bằng bạo lực và trừng phạt"; và để làm điều đó, Người nhắc đến các đoạn văn Isaia 35,5 (người mù, người què, người điếc), 26,19 (sự sống lại), 61,1 (rao giảng Tin Mừng cho người nghèo).
Và cảnh này kết thúc bằng một lời ca ngợi lớn Chúa Giêsu dành cho Gioan Tẩy Giả.
B. Theo Tin Mừng thứ tư.
Tin Mừng thứ tư trình bày một cách nhấn mạnh, và có thể nói độc quyền, Gioan Tẩy Giả như vị tiền hô và nhân chứng Chúa Giêsu; và ngay từ lời mở đầu Ga 1,7-8 và 15. Gioan Tẩy Giả làm chứng ông đã thấy Thần Khí ngự xuống trên Chúa Giêsu và đã nhận được mặc khải từ Thiên Chúa về bản chất Chúa Giêsu; ông xác nhận Người là Con (hoặc Đấng Được Chọn) Thiên Chúa (Ga 1, 19-34).
Chính khi nghe ông làm chứng về Chúa Giêsu như vậy, gọi Người là Chiên Thiên Chúa, nên hai môn đệ theo ông trở thành hai môn đệ Chúa Giêsu (Ga 3, 22-30).
Cuối cùng, Chúa Giêsu nhắc nhở người Do Thái Gioan Tẩy Giả đã làm chứng cho Người, trong khi chỉ rõ lời chứng quan trọng là lời chứng Chúa Cha dành cho Người (Ga 5, 31-37).
Như vậy, cả trong các Tin Mừng Nhất Lãm lẫn trong Tin Mừng thứ tư, Chúa Giêsu ca ngợi người tiền hô và người cuối cùng phát ngôn Thiên Chúa trong Cựu Ước. Chúa Giêsu khai mạc Nước Trời Gioan Tẩy Giả đã loan báo sự đến sắp xảy ra (Ga 5,35 cần được so sánh với Huấn ca 48,1).
Vì vậy, những lời Chúa Giêsu trong Mt 11, 7-14 một mặt và trong Ga 5,35 mặt khác, chỉ ra Gioan Tẩy Giả là "Êlia" phải đến theo lời tiên tri cuối cùng nơi vị tiên tri cuối cùng trong Cựu Ước : "Này đây Ta sai ngôn sứ Êlia đến với các ngươi, trước khi ngày của Đức Chúa đến, ngày trọng đại và kinh hoàng. Người sẽ đưa tâm hồn cha ông về với con cháu, và tâm hồn con cháu về với cha ông, kẻo khi Ta đến, Ta sẽ đánh phạt xứ sở và tru diệt" (Malakhi 3, 23-24).
|
Gioan Tẩy Giả, ngôn sứ Cựu ước cuối cùng Gioan Tẩy Giả đóng vai trò đặc biệt trong lịch sử cứu độ như vị ngôn sứ Cựu Ước cuối cùng và người mở đường cho Tân Ước. Ông sinh ra cách lạ lùng từ cha mẹ già cỗi Dacaria và Êlisabeth, Gioan được Thiên Chúa chọn từ trong lòng mẹ để chuẩn bị con đường cho Đấng Mêsia. Cuộc đời và sứ mạng Gioan phản ánh nhiều đặc điểm các ngôn sứ Cựu Ước: lối sống khổ hạnh trong hoang địa, ăn châu chấu và mật ong rừng, mặc áo lông lạc đà, gợi nhớ đến hình ảnh ngôn sứ Êlia và truyền thống khổ hạnh các ngôn sứ xưa. Sứ điệp Gioan kêu gọi dân chúng hoán cải, chuẩn bị tâm hồn đón Đấng Mêsia, phản ánh lời các ngôn sứ như Isaia, Giêrêmia và Êdêkien. Việc Gioan làm phép rửa tại sông Giođan nhằm thanh tẩy tội lỗi mang ý nghĩa biểu tượng về đổi mới tâm linh, tương tự như các nghi thức thanh tẩy trong Cựu Ước. Tinh thần ngôn sứ Gioan thể hiện qua việc ông can đảm chỉ trích tội lỗi các nhà cầm quyền, kể cả vua Hêrôđê, cho thấy sự không khoan nhượng trước bất công. Điều dẫn đến cái chết tử đạo của ông, tương tự số phận nhiều ngôn sứ Cựu Ước. Đặc biệt, Gioan không chỉ rao giảng về Đấng sẽ đến, còn trực tiếp nhận ra và chỉ ra Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, Chiên Thiên Chúa đến để xóa tội trần gian. Hành động đánh dấu chuyển tiếp từ Cựu Ước sang Tân Ước. Gioan xuất hiện hoàn thành lời tiên tri trong sách Malakhi về sứ giả sẽ dọn đường cho Chúa. Chúa Giêsu đã xác nhận Gioan có vai trò đặc biệt khi gọi ông là "nhiều hơn một ngôn sứ", khẳng định ông là "người lớn nhất sinh ra bởi phụ nữ", và nhận định ông là Êlia phải đến. Tuy nhiên, Chúa Giêsu cũng nói "người nhỏ nhất trong Nước Trời còn lớn hơn ông", cho thấy khác biệt giữa hai giai đoạn trong lịch sử cứu độ tức là thời đại lời hứa (Cựu Ước) và thời đại hoàn thành (Tân Ước). Vai trò Gioan như cầu nối giữa hai giao ước được thể hiện qua việc ông là người cuối cùng loan báo về Đấng Mêsia sắp đến, đồng thời là người đầu tiên chỉ ra Đấng Mêsia đã hiện diện. Phép rửa của ông là bước chuyển tiếp từ các nghi thức thanh tẩy Cựu Ước đến bí tích Rửa tội trong Tân Ước. Gioan Tẩy Giả, với tư cách ngôn sứ Cựu ước cuối cùng, đã kết hợp trong mình truyền thống ngôn sứ quá khứ và sứ mạng dẫn nhập cho tương lai. Ông đóng vai trò then chốt trong việc chuẩn bị dân Chúa đón nhận Đấng Cứu Thế, đánh dấu sự kết thúc kỷ nguyên Cựu Ước và mở ra thời đại mới ơn cứu độ trong Chúa Giêsu Kitô. Sứ mạng độc đáo này khẳng định vị trí đặc biệt của Gioan trong lịch sử cứu độ, như một nhân vật chuyển tiếp quan trọng giữa hai giai đoạn mặc khải thần linh. |
Bài đọc thêm
1. So sánh loan báo cho Dacaria, Môsê, Isaia và Giêrêmia.
Khi so sánh việc loan báo cho Dacaria và Môsê, cũng như đối chiếu với việc loan báo cho Isaia và Giêrêmia, có thể nhận thấy những điểm tương đồng và khác biệt đáng chú ý. Các câu chuyện được kể trong Luca 1,5-25 loan báo cho Dacaria, loan báo cho Môsê Xuất Hành 3,1-12, loan báo cho Isaia 6,1-13, và và loan báo cho Giêrêmia 1,4-10.
Dacaria, một tư tế già không con, nhận được lời loan báo trong Đền Thờ khi đang thi hành nhiệm vụ. Ngược lại, Môsê, một người chăn cừu trung niên, gặp Thiên Chúa nơi bụi gai cháy trong hoang địa. Tương phản nhắc về khác biệt giữa Isaia, người nhận lời gọi trong một thị kiến tại Đền Thờ, và Giêrêmia, người được Chúa nói chuyện trực tiếp không có bối cảnh cụ thể nào được đề cập.
Phản ứng các nhân vật cũng khác nhau đáng kể. Dacaria bày tỏ nghi ngờ và đòi hỏi một dấu hiệu, trong khi Môsê cảm thấy không xứng đáng và đưa ra nhiều lý do để từ chối. Điều tương tự với khác biệt giữa Isaia, người cảm thấy không xứng đáng vì tội lỗi, và Giêrêmia, người lo lắng về tuổi trẻ và khả năng.
Nhiệm vụ được giao cho mỗi người cũng rất khác nhau. Dacaria được giao nhiệm vụ sinh con và nuôi dạy người tiền hô, trong khi Môsê được lệnh dẫn dắt dân Ítraen ra khỏi Ai Cập. Tương tự, Isaia được kêu gọi rao giảng cho dân Ítraen, còn Giêrêmia được giao nhiệm vụ làm tiên tri cho các dân tộc.
Về dấu hiệu được ban, Dacaria bị câm cho đến khi đứa trẻ sinh ra, còn Môsê được cho thấy phép lạ cây gậy biến thành rắn. Isaia được thanh tẩy bằng than hồng, trong khi Giêrêmia được Thiên Chúa chạm vào miệng.
Những khác biệt phản ánh cách Thiên Chúa tương tác với mỗi cá nhân dựa trên hoàn cảnh, tính cách và vai trò cụ thể trong kế hoạch của Ngài. Tuy nhiên, cũng thấy những điểm chung, tất cả đều trải qua một khoảnh khắc gặp gỡ thiêng liêng, đều cảm thấy không xứng đáng hoặc không đủ khả năng ban đầu, và đều nhận được sự đảm bảo và hỗ trợ từ Thiên Chúa.
Những câu chuyện cho thấy Thiên Chúa có thể gọi và sử dụng bất kỳ ai, bất kể tuổi tác, địa vị xã hội hay khả năng cảm nhận, để thực hiện kế hoạch của Ngài. Mỗi lời kêu gọi đều độc đáo, nhưng tất cả đều phục vụ mục đích lớn hơn của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ.
2. Những chủ đề chính trong lời Gioan Tẩy Giả rao giảng.
Lời Gioan Tẩy Giả rao giảng chứa đựng một số chủ đề chính, phản ánh vai trò quan trọng như người tiền hô Đấng Mêsia. Trước hết, chủ đề nổi bật nhất trong thông điệp kêu gọi ăn năn. Gioan kêu gọi mọi người "Hãy ăn năn, vì Nước Trời đã đến gần!" (Mt 3,2). Ông nhấn mạnh cần thiết việc thay đổi tâm trí và hành vi, quay lưng lại với tội lỗi và hướng về Thiên Chúa.
Thứ hai, Gioan nhấn mạnh sứ điệp cấp bách, cảnh báo phán xét sắp đến, sử dụng hình ảnh mạnh mẽ như "Cái rìu đã đặt sát gốc cây" (Luca 3,9) để truyền đạt khẩn cấp việc ăn năn. Ông kêu gọi mọi người hành động ngay lập tức không trì hoãn.
Chủ đề thứ ba chuẩn bị cho Đấng Mêsia sắp đến. Gioan tự nhận mình "tiếng kêu trong hoang địa" (Ga 1,23), người đến để dọn đường cho Chúa. Ông loan báo một Đấng sẽ đến sau ông, mạnh mẽ hơn ông nhiều (Mc 1,7).
Thứ tư, Gioan nhấn mạnh cần thiết việc sinh hoa kết quả xứng đáng với ăn năn (Mt 3,8). Ông kêu gọi những thay đổi cụ thể trong hành vi, như chia sẻ với người nghèo, không lạm dụng quyền lực, và sống công bằng (Lc 3,10-14).
Một chủ đề quan trọng khác trong lời rao giảng Gioan phê phán mạnh mẽ đối với thói đạo đức giả và tự mãn tôn giáo. Ông cảnh báo những người tự hào về nguồn gốc Do Thái nhưng không sống xứng đáng (Mt 3,9).
Cuối cùng, Gioan nói về phép rửa, thực hiện phép rửa bằng nước để ăn năn, nhưng cũng loan báo về một phép rửa mạnh mẽ hơn sẽ đến bằng Chúa Thánh Thần và lửa (Mt 3,11).
Tất cả những chủ đề đan xen vào nhau để tạo nên một thông điệp mạnh mẽ về chuẩn bị tâm linh, đạo đức cá nhân, và mong đợi Đấng Mêsia. Lời Gioan rao giảng đã tạo nên một nền tảng quan trọng cho sứ vụ Chúa Giêsu, chuẩn bị tâm hồn dân chúng đón nhận Tin Mừng.
Nhiều chủ đề chính trong lời rao giảng Gioan Tẩy Giả đã được Chúa Giêsu lặp lại và phát triển thêm trong sứ vụ. Điều này rõ ràng trong các đoạn Kinh Thánh được đề cập (Mt 4,17 và Mc 1,15) cũng như trong toàn bộ sứ điệp Chúa Giêsu.
Trong Mátthêu 4,17: "Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần." Tương tự, trong Máccô 1,5, Chúa Giêsu nói: "Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng."
Những lời Chúa Giêsu phản ánh trực tiếp các chủ đề chính trong lời Gioan Tẩy Giả rao giảng.
Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu có nhiều điểm tương đồng trong sứ điệp, thể hiện sự liên tục và nhất quán trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Trước hết, cả hai đều nhấn mạnh sự cần thiết việc kêu gọi sám hối, thúc giục mọi người ăn năn và thay đổi cuộc sống. Đây là nền tảng cho chuyển đổi tâm linh cả Gioan và Chúa Giêsu đều mong muốn nơi dân chúng.
Tiếp đến, họ cùng loan báo Nước Trời đã đến gần, tạo ra một cảm giác khẩn cấp trong thông điệp. Điều này không chỉ là lời tiên tri về tương lai, còn là lời mời gọi tham gia vào thực tại mới Thiên Chúa đang thiết lập. Mặc dù Chúa Giêsu không cần chuẩn bị cho ai khác như Gioan, nhưng Người vẫn kêu gọi mọi người chuẩn bị tâm hồn để đón nhận Nước Trời, cho thấy sự liên tục trong sứ mạng, với Gioan là người dọn đường và Chúa Giêsu là Đấng hoàn thành.
Gioan và Chúa Giêsu đều nhấn mạnh tính cấp bách thời điểm quyết định, đòi hỏi hành động ngay lập tức từ những người nghe. Họ không chỉ rao giảng về một tương lai xa xôi, còn kêu gọi sự đáp trả tức thì từ dân chúng, thể hiện sự khẩn thiết sứ điệp cứu độ.
Ngoài ra, mặc dù không được đề cập trực tiếp trong hai câu này, nhưng trong toàn bộ sứ điệp, Chúa Giêsu cũng nhấn mạnh việc sống đạo đức và công bằng, phản ánh lời kêu gọi Gioan về việc sinh hoa kết quả xứng đáng với ăn năn. Điều này cho thấy cải cách đạo đức không chỉ một phần sứ điệp, còn là kết quả tất yếu của việc đón nhận Nước Trời.
Những điểm tương đồng không chỉ cho thấy sự liên tục và nhất quán trong sứ điệp từ Gioan Tẩy Giả đến Chúa Giêsu, còn nêu bật vai trò Gioan như người dọn đường cho sứ mạng Đấng Cứu Thế. Gioan đã chuẩn bị dân chúng về mặt tâm linh và đạo đức cho Chúa Giêsu xuất hiện, và Chúa Giêsu đã tiếp nối và mở rộng sứ điệp, đưa đến sự hoàn thành trong cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Người. Sự tương đồng trong sứ điệp không chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng là bằng chứng kế hoạch cứu độ thống nhất của Thiên Chúa, được thực hiện qua hai nhân vật quan trọng trong lịch sử cứu độ.
Tuy nhiên, có một số điểm khác biệt và phát triển trong sứ điệp Chúa Giêsu. Chúa Giêsu thêm vào yếu tố "tin vào Tin Mừng", mở rộng lời kêu gọi từ chỉ ăn năn đến việc đặt niềm tin vào thông điệp cứu độ. Và trong khi Gioan nói về Nước Trời sắp đến, Chúa Giêsu tuyên bố Nước Trời đã thực sự hiện diện trong Người. Cho dù Chúa Giêsu cũng cảnh báo về phán xét, nhưng thông điệp Người nhấn mạnh nhiều hơn vào ân sủng và tình yêu Thiên Chúa.
Tóm lại, Chúa Giêsu đã tiếp nối và phát triển lời Gioan Tẩy Giả rao giảng, giữ lại nhiều chủ đề chính nhưng cũng mở rộng và làm sâu sắc thêm thông điệp, đặc biệt thông qua chính cuộc đời và sứ vụ.
3. Phép rửa Gioan Tẩy Giả và phép rửa Kitô giáo.
3.1. Người thực hiện. Phép rửa Gioan Tẩy Giả được chính Gioan thực hiện độc quyền, người được Thiên Chúa kêu gọi đặc biệt cho sứ vụ, và không ủy quyền cho bất kỳ ai khác thực hiện phép rửa. Ngược lại, phép rửa Kitô giáo ban đầu được các Tông đồ thực hiện theo lệnh Chúa Giêsu. Sau đó, được trao cho các mục tử Giáo hội như giám mục, linh mục và phó tế. Trong trường hợp khẩn cấp, bất kỳ ai cũng có thể thực hiện phép rửa Kitô giáo, miễn họ có ý định đúng đắn.
3.2. Mục đích. Hai phép rửa cũng khác nhau đáng kể. Phép rửa Gioan Tẩy Giả nhằm kêu gọi sám hối và chuẩn bị cho Đấng Mêsia đến, biểu tượng thanh tẩy khỏi tội lỗi và dấu hiệu bên ngoài ăn năn nội tâm. Phép rửa Kitô giáo, mặt khác, có mục đích sâu xa hơn, tháp nhập người tin vào thân thể Chúa Kitô, tức là Giáo hội xóa bỏ tội nguyên tổ và mọi tội cá nhân, tái sinh người tin trong Chúa Thánh Thần, và khởi đầu đời sống mới trong Chúa Kitô.
3.3. Hiệu quả. Hiệu quả hai phép rửa cũng khác nhau. Phép rửa Gioan không có hiệu quả bí tích, không xóa bỏ tội lỗi chỉ biểu tượng ăn năn và chuẩn bị tâm hồn để đón nhận Đấng Mêsia. Ngược lại, phép rửa Kitô giáo có hiệu quả bí tích thực sự, xóa bỏ mọi tội lỗi, kể cả tội nguyên tổ, ban ơn thánh hóa và ơn công chính hóa. Và đánh dấu linh hồn bằng một dấu ấn thiêng liêng không thể xóa nhòa, và làm cho người tin trở thành con cái Thiên Chúa và thừa kế Nước Trời.
3.4. Công thức và nghi thức. Phép rửa Gioan không có công thức cụ thể nào được ghi lại, được thực hiện bằng cách dìm người nhận phép rửa xuống sông Giođan. Phép rửa Kitô giáo, ngược lại, sử dụng công thức công đồng Trente "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần", có thể được thực hiện bằng cách dìm, đổ hoặc rảy nước, tùy theo truyền thống từng Giáo hội. Ngoài ra, phép rửa Kitô giáo còn kèm theo nhiều nghi thức phụ như xức dầu, trao áo trắng, trao nến cháy sáng.
3.5. Vai trò trong lịch sử cứu độ. Trong lịch sử cứu độ, phép rửa Gioan đóng vai trò chuyển tiếp quan trọng giữa Cựu Ước và Tân Ước, giai đoạn cuối cùng chuẩn bị cho Đấng Mêsia. Phép rửa Kitô giáo, mặt khác, cửa ngõ vào đời sống Kitô hữu và các bí tích khác đánh dấu khởi đầu Giao Ước Mới trong Chúa Kitô.
3.6. Ý nghĩa thần học. Về mặt thần học, phép rửa Gioan nhấn mạnh cần thiết ăn năn cá nhân và phản ánh quan niệm về thanh tẩy trong Cựu Ước, và hướng về tương lai, chỉ về Đấng sẽ đến. Phép rửa Kitô giáo thể hiện tham gia vào mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, biểu tượng cho sự chết đối với tội lỗi và sự sống lại trong đời sống mới. Quan trọng hơn, kết hợp người tin với Chúa Kitô và Giáo hội.
Tóm lại, mặc dù có một số điểm tương đồng bề ngoài, phép rửa Gioan Tẩy Giả và phép rửa Kitô giáo có những khác biệt căn bản về bản chất, mục đích và hiệu quả. Phép rửa Gioan là một bước chuẩn bị quan trọng, trong khi phép rửa Kitô giáo mang lại biến đổi tâm linh sâu sắc và toàn diện, đánh dấu gia nhập vào đời sống mới trong Chúa Kitô và Giáo hội.
|
Ý nghĩa và cái chết của Gioan Chức năng khác của câu chuyện về cái chết Gioan Tẩy Giả mang tính văn học hơn: một ví dụ tuyệt vời về sự khác biệt giữa thời gian được kể, thời gian diễn ra trong câu chuyện, và thời gian kể, thời gian của chính việc kể chuyện. Mác-cô cần một sự chuyển tiếp giữa hai phần của văn bản: phần trước (3,7 - 6,12) kết thúc bằng việc nhắc đến sứ mệnh các môn đệ, được sai đi rao giảng và chữa lành, và phần tiếp theo, thường được gọi phần bánh (6,30 - 8,26), mở đầu với việc những môn đệ trở về và kết thúc bằng lời Phê-rô tuyên xưng trong 8,27-30, diễn ra nhân dịp thắc mắc về danh tính Chúa Giêsu; Mác-cô có ý tưởng hay đặt motif câu hỏi vào đầu phần này, trong 6,14-16, cho phép giới thiệu ý kiến của Hê-rô-đê về vấn đề, người nghĩ rằng Chúa Giêsuhực hiện những hành động quyền năng,thực ra là Gioan Tẩy Giả sống lại. Đó là cách câu chuyện về cái chết của ông được khéo léo giới thiệu; nhưng câu chuyện dài đến nỗi, đầy những chi tiết, đến khi kết thúc và các môn đệ trở về từ sứ vụ, độc giả có ảo tưởng, gây ra bởi câu chuyện dài này, rằng nhiều thời gian đã trôi qua trong chính câu chuyện, kể từ khi các môn đệ ra đi. Nếu Mác-cô sử dụng thủ thuật này, vì ông không có bất kỳ truyền thống nào về sứ mệnh các môn đệ, không có chi tiết nào về những gì họ đã nói và làm, cũng như các tác giả Phúc Âm khác, do đó ông sử dụng hình thức tóm tắt trong 6,12-13: có thể vào thời điểm đó, kết quả sứ vụ không ai thấy đáng để nhớ. Thông báo của Josephus, kết hợp với câu chuyện Mác-cô, làm nổi bật một điểm quan trọng để hiểu rõ Gioan là ai và bản chất dự án: nguyên nhân và hoàn cảnh cái chết xác nhận khía cạnh chính trị của phong trào đổi mới của ông. Ý định của ông chắc chắn không phải biến đổi đất nước bằng các phương tiện chính trị, nhưng hành động nhất thiết có những hệ quả chính trị, và Hê-rô-đê đã không nhầm về điều này. Hoạt động như một nhà thuyết giáo, một nhà tiên tri, bởi bản chất đòi hỏi thẩm quyền cao nhất có thể, nhất thiết phải cạnh tranh với quyền lực chính trị, và xung đột nếu quyền lực đó thực sự rơi vào sự chỉ trích của ông. Bằng cách đứng ngoài và ở trên chính trị, Gioan tự cho mình quyền phán xét một cách triệt để và nghiêm ngặt nhất có thể. Chế giễu chính trị đã là làm chính trị rồi. Cuối cùng, chúng ta thấy ở đây xung đột kinh điển trong Kinh Thánh giữa vua và nhà tiên tri. Các dữ liệu khác cho thấy đối mặt với xung đột giữa thầy tư tế và nhà tiên tri. Không có thể chế nào thoát khỏi tính Gioan chỉ trích triệt để, theo truyền thống tiên tri tốt đẹp của Cựu Ước. Phong trào đổi mới của ông thực sự nhắm đến một đoạn tuyệt hoàn toàn với xã hội tồn tại, vì sự đoạn tuyệt là hệ quả sự xuất hiện của chính vương quốc Thiên Chúa, đặt dấu chấm hết cho trật tự đã thiết lập và thế giới chúng ta biết. Sự biến đổi với sự kiện cánh chung phải gây ra ngay bây giờ là sự biến đổi triệt để nhất trong tất cả, vì nó là bên trong mỗi người. Chính Gioan hiện thực hóa trong cuộc sống sự thay đổi ông kêu gọi: tách biệt khỏi các thành phố, tách biệt khỏi đền thờ, sống như một nhà khổ hạnh; lựa chọn cuộc sống này củng cố tính chính đáng của ông không chỉ như người mang thông điệp từ Thiên Chúa, còn là sự tha thứ hiệu quả của Ngài, được ban cho những người Do Thái sùng đạo nhưng cũng cho tất cả những ai lắng nghe ông và cam kết thay đổi một cách triệt để bằng cách chấp nhận tuân theo nghi thức nước mà ông đề xuất cho họ. Jean Beauboeuf, Jean le Baptiste, plus qu’un prophète Cahiers Evangile numéro 207, 2024, trang 16-18. |
[1] Các câu trong sách Công vụ Tông đồ nhắc đến Gioan Tẩy Giả: 1,5 và 22; 10,37; 11,16; 13,24-25; 18,25; 19,3-4.
[2] Flavius Josephus đã từng biết cá nhân "một người tên Bannus sống trong sa mạc, lấy những gì cây cối cung cấp làm quần áo, và những gì đất tự nhiên sản sinh để làm thức ăn, và thường xuyên tắm bằng nước lạnh, cả ngày lẫn đêm, vì lý do thanh sạch" (Tự truyện 2,10-11). Nhưng Bannus không phải "người làm phép rửa" theo nghĩa việc tắm rửa nên không phải là một "phép rửa".



