Thứ Hai, 12 Tháng Mười, 2026

Maria Magdala, bà là ai ?

Bài 1 : Các sách Tin Mừng và người phụ nữ Mácđala

Maria Mácđala – một nhân vật thật đặc biệt! Hay là nhiều nhân vật? Thật sự bà là ai? Chúng ta chỉ có các sách Tin Mừng để trả lời câu hỏi này. Vậy hãy cùng hỏi bộ tứ Tin Mừng của chúng ta.

Một người tên “Maria Mácđala” được nêu đích danh trong số các phụ nữ đi theo Đức Giêsu, trước hết tại Galilê, rồi đến tận Giêrusalem: “Bà Maria gọi là Mácđala, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ” (Lc 8,2). Bà được gọi theo tên làng quê mình là Mácđala, một thị trấn chài lưới ở phía tây bắc hồ Tibêria, nơi cửa ra của hẻm núi Arbel, nằm khoảng giữa Tibêria và Capharnaum. Vì thế, trong tiếng Pháp, “Madeleine” thực chất là một tính từ, giống như “người Paris” hay “người vùng Landes”. Sau đó, ta gặp lại bà trong mọi bản văn về cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Kitô, như một nhân chứng hàng đầu: chứng kiến việc mai táng vào chiều thứ Sáu áp lễ Vượt Qua, để biết “người ta đã đặt Người ở đâu”, và đến ngày thứ ba, tại ngôi mộ, chính bà nhận thấy mộ trống. Điều này gây nên một sự bối rối lớn, nhất là trong Tin Mừng thứ tư.

Khoảng mười lần nhắc rõ ràng đến “Maria Mácđala” (xem khung) khiến ta nghĩ rằng nếu trong các bản văn còn có những “Maria” khác thì đó không phải là cùng một người; bằng không, người ta đã thêm cho họ cùng một tính từ chỉ nơi chốn. Hơn nữa, đối với một vài người, bản văn còn ghi một địa chỉ khác: làng Bêtania, rất gần Giêrusalem, cách Galilê rất xa. Tại thôn làng xứ Giuđê này, luôn có hai chị em là Maria và Mácta. Theo Luca, Maria ngồi nghe Đức Giêsu, trong khi chị mình mải lo chuẩn bị bữa ăn. Gioan còn cho biết thêm rằng hai chị em có một người em trai là Ladarô, người được Đức Giêsu cho sống lại sau khi bệnh và chết (Ga 11). Đoạn tường thuật dài này kèm theo một chi tiết mà phải đến chương sau mới được mô tả: “Bà Maria là người đã xức dầu thơm cho Chúa và lấy tóc lau chân Người”. Và như thể lặp lại mô-típ Luca đã nêu, Gioan cũng cho biết Mácta “lo hầu bàn”, còn Maria có thái độ tôn kính Đức Giêsu.

Trước khi đi xa hơn, hãy xem những phụ nữ khác mang tên “Maria” trong các sách Tin Mừng, ngoài thân mẫu Đức Giêsu, vốn cũng không thường được gọi tên. Có bà mẹ của Giacôbê, chỉ xuất hiện vào những ngày Thương Khó và Phục Sinh. Và có vợ ông Cơlôpát, mà chỉ Gioan nhắc đến, cùng với những phụ nữ khác tại đồi Gôngôtha.

Dầu thơm và nước mắt

Một sự nhầm lẫn len vào cuộc truy tìm danh tính của chúng ta qua giai thoại nổi tiếng về dầu thơm và nước mắt. Trước hết, trong bối cảnh Galilê, khá sớm trong trình thuật, Luca kể về một bữa ăn tại nhà một người Pharisêu: “Và kìa, có một người phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành. Khi biết Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, chị đem theo một bình dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, nước mắt ướt đẫm chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên… Người nói với người phụ nữ: ‘Tội chị đã được tha… Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an’” (Lc 7,36-50). Cần lưu ý ngay rằng tác giả Tin Mừng không cho biết tên chị. Nhưng dĩ nhiên người ta đã đồng hóa chị với bà Maria ở Bêtania, người cũng lấy dầu thơm, “một thứ dầu cam tùng nguyên chất đắt giá”, xức chân Đức Giêsu rồi lấy tóc mà lau. Trong cảnh ngắn này không có nước mắt, chỉ có dầu thơm và mái tóc xõa. Với Mátthêu cũng như Máccô, đây là một cảnh tương tự, nhưng diễn ra rất gần những tuần lễ cuối đời của Đức Kitô, tại nhà một chủ nhà được xác định rõ: Simôn người phong cùi – chắc chắn ông đã được chữa lành, dù điều này không được nói rõ, vì nếu còn bệnh thì ông không thể tiếp khách tại nhà – và ông cư ngụ tại Bêtania. Đức Giêsu có nhiều bạn hữu ở đó; ta hiểu rằng đây là một nơi quan trọng đối với Người. Ở đây ta lại thấy một bình bạch ngọc đựng dầu thơm quý giá, được một người phụ nữ, một lần nữa không được nêu tên, đổ lên đầu Đức Giêsu chứ không phải lên chân Người.

Có những chi tiết nhỏ và có những điều khác đáng lưu tâm. Dù bình dầu được mở ra (theo Mátthêu) hay bị đập vỡ (theo Máccô), dù dầu thơm chảy trên đầu (theo hai Tin Mừng Nhất Lãm đầu tiên) hay trên chân Đức Giêsu (theo Luca), điều đó không thay đổi bản chất của giai thoại về lòng sùng kính của một người phụ nữ. Nhưng vì người phụ nữ ấy không bao giờ được nêu tên trong ba cảnh tương tự này, chúng ta không thấy mình được phép gọi chị là Maria như những người khác, càng không được gọi là Mácđala. Thật vậy, khi các tác giả Tin Mừng muốn nêu tên, họ không ngần ngại; nếu họ im lặng, đó là vì họ không biết tên hoặc muốn giữ kín danh tính, như trường hợp người chủ nhà sẽ đón Đức Giêsu và Nhóm Mười Hai tại Giêrusalem cho bữa Tiệc Ly. Dù sao đi nữa, bà Maria này dường như không phải người Mácđala. Theo Luca, “người phụ nữ với dầu thơm” sống tại Galilê, và chính ông gọi chị là “người tội lỗi” (Lc 7,36.39). Nhưng phải đến chương sau, ta mới làm quen với bà Mácđala giữa những phụ nữ khác là Gioanna và Susanna (Lc 8,2-3). Bản văn nhắc lại rằng từ bà “bảy quỷ đã xuất ra”, và truyền thống Kitô giáo đã rất tự nhiên biến bà thành một tội nhân nặng nề. Tại sao lại phán xét vội vàng như thế? Khi nói về những quỷ hành hạ con người, các triệu chứng được mô tả đều thuộc về thể lý hay tâm lý – động kinh, mê sảng, những hành vi tự hủy hoại – nhưng không bao giờ liên kết với tội lỗi. Đối với Maria Mácđala hẳn cũng vậy: bà mắc một chứng bệnh mà ngày nay các bác sĩ có thể chẩn đoán, chứ không phải là vấn đề tội lỗi. Thật đáng tiếc khi một lối đọc mang tính luân lý hóa đã gom tất cả những yếu tố ấy vào cùng một người.

Chính Đức Giáo hoàng Grêgôriô Cả, vào năm 591, đã tuyên bố: “Người phụ nữ mà Luca gọi là ‘người tội lỗi’ (Lc 7,37) và Gioan gọi là ‘Maria’, chúng tôi tin rằng chính là bà Maria mà Luca chứng thực rằng bảy quỷ đã bị trục xuất khỏi bà”. Vị Giáo hoàng muốn liên kết ơn Cứu Độ do Đức Kitô ban với ý niệm tội đã phạm, nhưng tại sao chỉ người phụ nữ tên Maria mới liên quan? Thánh Phanxicô Salêsiô đã có một lời chú giải khác, trân trọng hơn: “Vị thánh nữ này thật đáng khâm phục ở chỗ, từ lúc hoán cải cho đến khi qua đời, bà không rời chân Thầy chí ái của mình”. Tuy vậy, vị Giám mục Genève không thể biết thời điểm và nơi chốn qua đời của “người phụ nữ ấy”, vì các sách Tin Mừng không hề nói gì về điều đó.

  1. Đọc Tin Mừng
  2. Một hình ảnh như thế không thể không quyến rũ các nghệ nhân điêu khắc, hội họa hay văn chương. Biết bao tượng, tranh và hình tượng đã được thêu dệt về Mađalêna này! Bà thường rất xinh đẹp, với mái tóc vàng óng buông xõa và dày, nhờ đó ta nhận ra bà ngay giữa các phụ nữ khác. Bà đứng dưới chân Thập Giá khi người ta hạ xác Đức Giêsu xuống, bà đến gần ngôi mộ, bà nói chuyện với một người làm vườn, hoặc để gợi lại cuối đời bà – điều hoàn toàn không có trong Kinh Thánh – bà sống trong một hang động, chỉ khoác mái tóc mình.
  3. Đừng bỏ lỡ việc cầu nguyện với bà, dù như nhiều vị thánh thời sơ khai của Giáo Hội, ta không biết phần lớn cuộc đời bà. Nếu hướng về người loan báo Tin Mừng đầu tiên, người mang tin vui Phục Sinh, ta thấy người phụ nữ giúp ta tin và cũng loan truyền Lời Sự Sống nơi mình đang sống, đôi khi trước cả những người không tin (Lc 24,12). Nếu khẩn cầu người đã chuẩn bị cho việc mai táng sắp đến của Chúa bằng một hương thơm nồng nàn và ngọt ngào, cùng sự tôn kính dành cho thân thể Người, ta tiến bước trên con đường chiêm niệm. Nếu muốn ngồi dưới chân Đức Giêsu để nghe lời Người, ta sẽ hướng về em gái của Mácta, và tha thiết ở lại với “phần tốt nhất”. Khi ý thức về tội lỗi mình, ta cũng sẽ xin một người phụ nữ khiêm hạ vô danh dâng lời cầu nguyện của ta lên. Có lẽ “nhân bản” một hình ảnh thì phong phú hơn là thu hẹp nó vào một người duy nhất.
  1.  Gặp gỡ các bà Maria trong bản văn
  2. • Maria được gọi là Mácđala: Mt 27,56.61; 28,1; Mc 15,40.47; 16,1; Lc 8,2; 24,10; Ga 19,25; 20,1-2.11-18.
  3. • Maria và chị là Mácta, “ở một làng kia”: Lc 10,38-42; hoặc “ở Bêtania”: Ga 11,1-2.19-20.28.32.45; 12,1-8.
  4. • Maria mẹ ông Giacôbê: Mt 27,56; Mc 15,40.47; 16,1; Lc 24,10.
  5. • “Bà Maria kia”, có lẽ là mẹ ông Giacôbê, cùng bối cảnh: Mt 27,61; 28,1.
  6. • Maria vợ ông Cơlôpát: Ga 19,25.
  7. • Những phụ nữ xức dầu thơm: Lc 7,36-50; Mt 26,6-13; Mc 14,3-9.
  8. • Maria thân mẫu Đức Giêsu: Mt 1,16.18.20; 2,11; Mc 6,3; Lc 1,27.30.34.38.39.41.46.56; 2,5.19.34. Bà thường được gọi là “mẹ Người” hay “bà”, hoặc khi nói về hai ông bà thì gọi là “song thân Người”, nhưng không nêu tên; chẳng hạn, Gioan chỉ nói “mẹ Người” (Ga 2,1-12; 19,25) mà không nêu tên bà.
  9. • Nhiều người nam bị quỷ ám: Mt 8,28-34; 9,32-34; 12,22; 17,14-20; Mc 1,23-28; 5,1-20; 9,14-29; Lc 4,33-37; 8,26-39; 9,37-43; 11,14; chưa kể những “cuộc chữa lành tập thể”, nơi thường có người bị quỷ ám lẫn trong số người bại liệt, phong cùi, câm, điếc và mù.

Claire Burkel, giảng viên Trường Cathédrale – Paris

(Terre Sainte Magazine, tháng 7–8/2023, tr. 32–35)

Bài 2 : Các bà Maria hợp nhất theo truyền thống Tây phương

Tiếp nối thánh Augustinô, thánh Grêgôriô Cả đã ảnh hưởng đến Giáo Hội Tây phương khi khẳng định: “Người phụ nữ mà Luca gọi là người tội lỗi và Gioan gọi là Maria Bêtania, chính là cùng một người phụ nữ (Maria Mađalêna) mà Máccô cho biết Chúa đã trừ khỏi bà bảy quỷ”. Vì thế, Giáo Hội Latinh chỉ mừng một lễ duy nhất kính Maria Mađalêna (ngày 22 tháng 7), dưới dung mạo của Maria Bêtania và người phụ nữ tội lỗi trong Tin Mừng Luca, trong khi Giáo Hội Hy Lạp mừng ba lễ riêng biệt. Dù chú giải hiện đại ưa chuộng luận điểm phân biệt, một số nhà chú giải gần đây cho rằng luận điểm ấy không phải là bắt buộc, và Truyền thống Tây phương dựa trên một cách giải thích các bản văn Tin Mừng. Chúng ta hãy dừng lại một chút với những bản văn có giá trị lịch sử vô song này: việc mô tả các cử chỉ của người phụ nữ ấy và một số từ ngữ được dùng vén mở một nhân cách phong phú, quảng đại và dễ mến, đồng thời ngầm dẫn ta đến hướng hợp nhất.

Việc xức dầu của người phụ nữ tội lỗi đã hoán cải

Một người phụ nữ tội lỗi công khai – không có gì cho thấy đó là một gái điếm (hamartôlos, chứ không phải pornè) – bước vào nhà ông Simôn (Lc 7,36-50). Chị mang theo dầu thơm với hy vọng được phép xức lên đầu Đức Giêsu để tỏ lòng kính trọng. Bỗng nhiên xúc động, chị khóc trên chân Đức Giêsu khi nhớ lại bao tội lỗi của mình. Vì không lường trước cảm xúc bất chợt này, chị không biết lau chân Người bằng gì, nên đã xõa mái tóc dài của mình để lau. Rồi trong niềm thôi thúc, chị hôn chân Đức Giêsu trước khi xức dầu thơm lên đó. Xức dầu lên chân là một cử chỉ phi thường, dấu chỉ của một tình yêu rất lớn, và Đức Giêsu sẽ tha mọi tội cho chị.

Việc xức dầu của Maria, em gái Mácta ở Bêtania

Trong bản văn của Gioan (12,1-9), việc xức dầu có vẻ đã được dự tính trước. Tại sao lại xức lên chân, trong khi thông thường người ta xức lên đầu? Tại sao lại lau bằng tóc chứ không bằng khăn, như thế hợp lý hơn? Việc xức dầu này chỉ trở nên dễ hiểu khi được đặt trong tương quan với một biến cố trước đó (việc xức dầu trong Tin Mừng Luca). Như thánh Augustinô nói, những điểm tương đồng giữa Luca và Gioan cung cấp phần nào chìa khóa cho điều bí ẩn. Quả thật đã có hai lần xức dầu khác nhau do cùng một người phụ nữ thực hiện; tại Bêtania, chị muốn lặp lại những cử chỉ gắn liền mật thiết với thời khắc quyết định của cuộc hoán cải: “Hai hành động khác nhau, nhưng chỉ một trái tim để nghĩ ra chúng” (Lacordaire). Tại Bêtania không có nước mắt sám hối, và nếu người phụ nữ lau chân Đức Giêsu sau khi vừa xức dầu, thì chỉ để làm lại cử chỉ riêng của mình, cử chỉ chị đã làm khi hoán cải. Dầu thơm trong Tin Mừng Gioan đắt giá vì trái tim người phụ nữ đang cháy bỏng tình yêu, rất quảng đại và tràn đầy lòng biết ơn. Trình thuật về việc Ladarô sống lại trong Ga 11 càng khiến ta xác tín. Gioan viết rằng Maria là “người đã xức dầu thơm cho Chúa và lấy tóc lau chân Người” (Ga 11,2). Phân từ thể aorist được danh từ hóa diễn tả tính đi trước so với động từ chính, nên phải dịch như thì quá khứ hoàn thành. Như vậy, động từ này không thể ám chỉ việc xức dầu sẽ xảy ra sau (Ga 12) mà là việc xức dầu đã hoàn tất (Lc 7).

Còn Maria Mácđala?

Việc đồng hóa Maria Mácđala với Maria Bêtania là điều tế nhị, vì thoạt nhìn không có gì gợi ý điều đó. Chúng tôi chỉ có thể đưa ra những dấu chỉ hội tụ về luận điểm đồng hóa: chứng minh bằng sự hội tụ các xác suất. Trong bảy dấu chỉ mà André Feuillet⁽¹⁾ trình bày, chúng tôi tóm tắt bốn.

Dấu chỉ thứ nhất: Sáng Phục Sinh, Maria Mácđala đến để xức dầu mai táng, nhưng bà không thể làm vì mộ trống! Tuy nhiên, việc xức dầu tại Bêtania là khúc dạo đầu cho việc xức dầu này: theo lời Đức Giêsu, việc xức dầu ấy như là đón trước việc mai táng Người. Xức dầu lên chân một người đang sống (Ga 12) là điều chưa từng có. Tự nó, cử chỉ này thật vô nghĩa, và chỉ thực sự dễ hiểu khi được xem như khởi đầu của một nghi thức tang lễ trên toàn thân thi hài. Đức Giêsu nói theo nghĩa đen: “Hãy để cô ấy giữ dầu thơm này cho ngày mai táng Thầy”.

Dấu chỉ thứ hai: Một sự song song văn chương đáng kinh ngạc giữa sách Diễm Ca (Dc 3,1-4), Ga 12 (Maria Bêtania) và Ga 20 (Maria Mácđala), nơi ta thấy người yêu đi tìm người mình yêu. Dầu thơm trong Ga 12,3 mở ra sự song song với Dc 1,12 khi gợi lại khung cảnh ngào ngạt hương thơm diễn tả tình yêu. Sự tiếp xúc văn chương giữa Ga 12,3 và sách Diễm Ca củng cố xác tín của chúng tôi rằng Ga 20 cũng quy chiếu về cùng bài thơ tình yêu ấy; và như thế, Maria Bêtania và Maria Mácđala có điểm chung là cả hai đều gợi lên hình ảnh Hiền Thê trong sách Diễm Ca.

Dấu chỉ thứ ba: Trong giáo huấn qua dụ ngôn hai con nợ (Lc 7,40-43), Đức Giêsu kết luận: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, vì chị đã yêu mến nhiều” (Lc 7,47). Hãy lưu ý, câu này không nói: “Vì chị đã yêu mến nhiều, nên hẳn trước đó những tội lỗi nhiều của chị đã được tha”. Bài học của Đức Giêsu về dụ ngôn là thế này: không phải tình yêu của người phụ nữ tội lỗi là nguyên nhân của sự tha thứ (vì nguyên nhân đầu tiên của sự tha thứ luôn là ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa), nhưng Luca cho thấy chính tình yêu của người phụ nữ, kèm theo lòng ăn năn sâu xa về các lỗi lầm, đã giúp chị đón nhận từ Thiên Chúa một sự tha thứ tương xứng với tình yêu ấy. Nếu chính Maria Mácđala, vừa được giải thoát khỏi bảy ác thần, là nhân vật trong cảnh này, thì mọi sự đều sáng tỏ! Đức Kitô đã giải thoát bà và bà đến để tạ ơn Người. Có lẽ trước hết là để tạ ơn Người vì ân huệ lớn lao ấy mà bà cảm thấy được thúc đẩy đến tìm Người tại nhà ông Simôn. Chỉ khi ở dưới chân Người, bà mới òa khóc nức nở vì cuộc đời tai tiếng còn quá gần, và bà nhận được ơn tha tội.

Dấu chỉ thứ tư: Tin Mừng Gioan tiết lộ danh tính những nhân vật mà các Tin Mừng Nhất Lãm muốn giữ im lặng. “Sự ẩn danh để bảo vệ” này xuất phát từ mối bận tâm không làm liên lụy đến các nhân vật chính trong thời kỳ bách hại đầu tiên của Giáo Hội. Ngược lại, Gioan, viết sau khi họ đã qua đời, có thể nêu tên những nhân vật ấy để các thế hệ Kitô hữu tương lai có thể nhận ra họ.

Để kết luận, những ai phản đối luận điểm đồng hóa sẽ luôn tự hỏi tại sao các bản văn Tin Mừng không gợi ý điều đó rõ ràng hơn. Các tác giả Tin Mừng không phải là nhà báo theo nghĩa hiện đại. Lập luận căn bản ủng hộ việc đồng hóa là trình thuật của Gioan về việc xức dầu tại Bêtania. Các hành động của Maria Bêtania (Ga 12) chỉ thực sự dễ hiểu nếu, trước hết, chúng chỉ là sự lặp lại những cử chỉ mà người phụ nữ tội lỗi đã làm trong Lc 7, và sau đó, nếu chúng thật sự là sự đón trước mang tính ngôn sứ của một việc xức dầu tang lễ mà sau này Maria Mađalêna (Ga 20) dự định thực hiện nhưng không thể làm được vì sự Phục Sinh.

Xin nói thêm rằng thánh Augustinô, với kinh nghiệm của một người hoán cải, đã đáp lại ý kiến phản bác cho rằng người phụ nữ tội lỗi không thể là Maria Bêtania… Trái lại, người tội lỗi lớn có thể trở thành vị thánh lớn! Đó chính là điều kỳ diệu của lòng thương xót!

Như vậy, chúng tôi đã làm nổi bật tầm quan trọng của chứng từ theo Gioan như phần bổ túc cho chứng từ của các Tin Mừng Nhất Lãm. Xin kết thúc với Lacordaire: thật là niềm vui và lợi ích biết bao khi chiêm ngắm “trong sự hợp nhất của cùng một vinh quang: người phụ nữ tội lỗi khóc dưới chân Đức Giêsu và lấy tóc lau chân Người, người em gái của Ladarô chứng kiến em mình sống lại, người bạn trung thành đứng bên cuộc Thương Khó và cái chết của người mình yêu, theo Người đến tận mồ và xứng đáng là người đầu tiên được thấy vinh quang Phục Sinh của Người! Mọi sự chia cắt vinh quang ấy đều là ảo tưởng”.

(1) André Feuillet, trong tạp chí Revue Thomiste, “Hai lần xức dầu trên Đức Giêsu và Maria Mađalêna”, 1975, tr. 358-394.

Florian Racine, quản nhiệm Vương cung thánh đường Thánh Maria Mađalêna tại Saint-Maximin

(Terre Sainte Magazine, tháng 7–8/2023, tr. 36–39)

Trích dẫn nổi bật

• Xức dầu lên chân là một cử chỉ phi thường, dấu chỉ của một tình yêu rất lớn, và Đức Giêsu sẽ tha mọi tội cho chị.

• Chỉ khi ở dưới chân Người, bà mới òa khóc nức nở vì cuộc đời tai tiếng còn quá gần, và bà nhận được ơn tha tội.

 

Bài 3 : Vị thánh tông đồ của miền Provence

Maria Mađalêna đã ra sao sau khi Đức Giêsu lên trời? Nếu truyền thống Đông phương đưa bà đến Êphêxô, thì người dân Provence tin chắc như đinh đóng cột rằng chính tại miền nam nước Pháp vị thánh nữ đã cập bến trước khi rao giảng Tin Mừng cho cả vùng. Câu chuyện, giải mã và giả thuyết cùng một người Provence say mê đề tài này!

Khác với thường lệ, Terre Sainte Magazine đổi sang bờ bên kia Địa Trung Hải và hướng về miền Provence. Bám rễ sâu trong vùng đất này, một truyền thống mang đậm chất Provence chẳng kém hoa oải hương, những phiên chợ hay ẩm thực, đã hình dung số phận của một Maria Mađalêna cập bến tại Saintes-Maries-de-la-Mer, sau khi vượt qua “biển giữa các vùng đất” trên một chiếc bè tạm bợ. Bà được cho là đã rao giảng Tin Mừng cho miền Provence, trước khi kết thúc cuộc đời như một ẩn sĩ trong một hang đá thuộc khối núi Sainte-Baume. Thánh tích thủ cấp của bà được trưng bày tại Vương cung thánh đường Thánh Maria Mađalêna ở Saint-Maximin, thuộc tỉnh Var. Đây là niềm tự hào của người Provence, những người đã biến nơi này thành ngôi mộ thứ ba của Kitô giáo, sau Giêrusalem và Rôma.

Daniel Sénéjoux đã nhiều năm thu thập những dấu chỉ hội tụ để giải thích cuộc hành trình sang Tây phương này. Ban biên tập Terre Sainte Magazine biết người con Provence này cùng niềm đam mê của ông dành cho Maria Mađalêna từ ít nhất 10 năm nay. Là thành viên ban điều hành của nhiều hiệp hội lấy vị thánh nữ làm biểu tượng, ông cũng là bạn của cha Florian Racine, quản nhiệm Vương cung thánh đường Thánh Maria Mađalêna ở Saint-Maximin, và thường xuyên đồng hành với các đoàn hành hương Đất Thánh. Vì thế, khi ý tưởng về một chuyên đề cho đề tài này thành hiện thực, chúng tôi đã nhờ đến kiến thức của ông. Chúng tôi nhận được những lá thư dài, đầy chi tiết và “xác minh”, kèm theo tái bút và đôi khi cả tái-tái bút. Một câu chuyện rời rạc, nhưng tư liệu phong phú như một cuốn sách lịch sử. Chúng tôi đã nối lại mạch câu chuyện.

Maria Mađalêna đã sống thế nào sau khi Đức Giêsu lên trời? Nhiều giả thuyết đối chọi nhau khi kể lại số phận của vị tông đồ của các tông đồ. Nếu truyền thống Đông phương đặt bà ở Êphêxô, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, nơi bà được cho là đã ẩn mình cùng Đức Trinh Nữ Maria trước khi qua đời, thì truyền thống Tây phương, nảy sinh giữa thế kỷ IX và X, lại đưa vị thánh nữ đến miền nam nước Pháp. Bản thảo Vita eremitica beatae Mariae Magdalenae (thế kỷ IX), trình thuật Cuộc đời thánh Maria Mađalêna và thánh Mácta, chị của bà của Raban Maur, Tổng Giám mục Mainz (847), và sau đó là Truyện các Thánh (Légende dorée) của tu sĩ Đa Minh người Ý Giacôbê Voragine (thế kỷ XIII), đã góp phần phổ biến “Truyền thống Provence” này. Truyền thống ấy xem Maria Mađalêna là một người phụ nữ duy nhất: “Một phụ nữ giàu có, thuộc tầng lớp khá giả, có nhà ở Mácđala và quê gốc ở Bêtania. Người Provence trung thành với giáo thuyết của Đức Giáo hoàng Grêgôriô Cả: một người phụ nữ đã sám hối (và được tha thứ), đã theo Đức Giêsu và nhóm tông đồ nhỏ bé đến tận đồi Canvê, và là người đầu tiên thấy Đức Kitô phục sinh vào sáng Phục Sinh”, Daniel Sénéjoux tóm tắt.

Những mối liên hệ với các binh lính Rôma

Theo truyền thống, Maria Mađalêna rời Đất Thánh cùng với chị là Mácta, em là Ladarô, bà Maria Giacôbê và bà Maria Salômê (mẹ của hai tông đồ Giacôbê) và Sidoine, người mù từ thuở mới sinh. Một đoàn thám hiểm nhỏ do Maximin dẫn đầu. Nhóm người quanh Ladarô sợ cơn giận dữ của người Do Thái ở Giêrusalem. Lên một chiếc thuyền mong manh, không buồm, không bánh lái, họ đã vượt Địa Trung Hải cách lạ lùng và cập bến tại vùng Camargue, ở Saintes-Maries-de-la-Mer, khoảng năm 43 sau Công nguyên.

Theo Daniel Sénéjoux, việc cập bến miền nam nước Pháp chẳng liên quan gì đến sự quan phòng. “Con thuyền đang đi đến Arles. Đó là một cảng quan trọng của Rôma vào thế kỷ I, và ngôi làng Saintes-Maries sau này là tiền cảng của nó. Những cuộc khảo cứu dưới nước gần đây đã phát hiện các đê chắn sóng bị nhấn chìm cùng xác của khoảng ba mươi con tàu đắm.”

Vùng này cũng nổi tiếng là căn cứ tuyển quân cho các quân đoàn Rôma đồn trú ở Syria và Palestine. Một thuộc địa Rôma đón tiếp các cựu binh khi họ trở về từ Đông phương. “Những người Rôma mà Đức Giêsu có thể đã biết thực ra là người Gaule. Tin Mừng đầy những giai thoại dường như cho thấy thiện cảm của một số binh lính Rôma đối với Đức Kitô”, người say mê đề tài này nhận xét, trước khi phỏng đoán: “Có thể đã hình thành những mối liên hệ với các tông đồ, và các ngài có thể đã tìm gặp lại họ trong những xáo trộn sau lễ Ngũ Tuần. Trong số các phụ nữ của nhóm, có những người từng lui tới triều đình Hêrôđê (bà Gioanna, vợ ông Khuda, quản lý của Hêrôđê, và có lẽ cả Maria Mađalêna, nghe nói từng là một kỹ nữ chốn cung đình). Có thể họ quen biết một số phụ nữ quý tộc trong giới thân cận của Philatô, thậm chí cả chính bà Claudia, người nổi tiếng có cảm tình với Đức Giêsu, theo lời các tín hữu Chính Thống. Khi đó, việc xin giấy thông hành để xuống thuyền sang Tây phương hẳn chỉ là chuyện dễ như trở bàn tay.”

Khi đến Provence, nhóm nhỏ chia tay nhau. Mácta được cho là đã đi rao giảng ở Avignon rồi Tarascon, trong khi Maximin định cư ở Aix và trở thành giám mục tiên khởi của thành phố này. Còn Ladarô và Maria Mađalêna thì hướng về Marseille. “Truyền thống kể rằng Maria Mađalêna đã rao giảng tại đó dưới hành lang đền thờ nữ thần Artemis, và em trai bà trở thành giám mục tiên khởi của thành phố Phocée này. Vì mọi người đều nói tiếng Hy Lạp, gia đình ấy có thể dễ dàng hòa nhập vào dân cư Marseille”, Daniel Sénéjoux giải thích.

“Lắng nghe truyền thống”

Sau một thời gian rao giảng ở Marseille, Maria Mađalêna được cho là đã ngược dòng sông Huveaune lên đến Sainte-Baume, nơi con sông bắt nguồn. “Một nơi kỳ diệu, một khu rừng thiêng mà người Marseille đã lui tới từ thuở xa xưa”, Daniel Sénéjoux nhấn mạnh. Bà được cho là đã sống 30 năm cuối đời làm ẩn sĩ trong một hang đá của khối núi Provence này. Người ta kể rằng mỗi ngày bảy lần các thiên thần nâng bà lên gần trời hơn. Nhà nguyện nhỏ Saint-Pilon đã được xây trên đỉnh núi để kỷ niệm phép lạ này.

Một ngày kia, cảm thấy mình sắp chết, Maria Mađalêna xuống đồng bằng gặp lại Maximin, người đã cho bà rước lễ trước khi an táng bà tại Villa-Latta, một thị trấn nhỏ thời Gaule-Rôma, về sau mang tên Saint-Maximin khi ngài qua đời. Vào khoảng những năm 710, các thánh tích được giấu đi để bảo vệ khỏi các cuộc tấn công của người Saracen. Bất chấp truyền thuyết, Maria Mađalêna chỉ thực sự được chú ý đặc biệt ở Provence từ khi người ta phát hiện thánh tích của bà, trong cuộc khai quật tầng hầm nhà thờ Saint-Maximin do bá tước Charles d’Anjou ra lệnh năm 1279. Một lăng mộ gia đình từ thế kỷ IV chứa bốn quan tài bằng đá cẩm thạch được đưa ra ánh sáng. Chúng lập tức được quy cho các thánh Maria Mađalêna, Maximin và Sidoine. Đức Giáo hoàng Bonifaciô VIII xác nhận tính xác thực của các thánh tích, cho xây một vương cung thánh đường, một tu viện, và giao cho các tu sĩ Đa Minh coi sóc. Các thánh tích của vị thánh nữ bị phân tán vào thời Cách mạng, nay chỉ còn lại hộp sọ, hiện được trưng bày trong hầm mộ của Vương cung thánh đường Saint-Maximin, và một xương đùi thuộc nhà thờ La Madeleine ở Paris. Năm 2017, theo yêu cầu của giáo phận Fréjus-Toulon, một nhà nhân chủng học và một họa sĩ phác họa chân dung tư pháp đã tái tạo khuôn mặt dựa trên mô hình 3D của hộp sọ. Kết quả? Một người phụ nữ mũi nhọn, gò má cao, tóc sẫm màu và đường nét Địa Trung Hải…

“Maria Mađalêna có thực sự đã đến Provence không? Không ai có thể chứng minh được. Người Provence tin chắc như đinh đóng cột”, Daniel Sénéjoux thừa nhận. “Về phần tôi, tôi tin rằng Tin Mừng đã đến bằng đường biển vào thế kỷ I, có lẽ thậm chí trước khi thánh Phêrô đến Rôma.” Xa hơn một chút, trong một tái-tái bút, người say mê đề tài này thêm: “Tôi dè chừng các sử gia và học giả, những người luôn đòi hỏi bằng chứng ‘thành văn’. Lịch sử thường bị chính trị chi phối. Ngược lại, Truyền thống là sự truyền lại những sự kiện quá khứ từ cha ông cho con cháu; đôi khi nó bị biến dạng hoặc tô điểm theo thời gian, nhưng nó không bao giờ tìm cách lừa dối. Người ta luôn nên đối chiếu Lịch sử với Truyền thống. Dù sao đi nữa, ta luôn phải lắng nghe Truyền thống.”

Cécile Lemoine

(Terre Sainte Magazine, tháng 7–8/2023, tr. 44–47)

  1. Hành hương – Theo bước chân Maria Mađalêna
  2. Giờ đây có thể đi bộ từ Saintes-Maries-de-la-Mer đến Saint-Maximin, qua Marseille và Hang Sainte-Baume. Con đường hành hương mới này, khánh thành vào mùa xuân 2022, dài 222 km, gồm 10 chặng, theo bước chân của “Mađalêna”. Hiệp hội khởi xướng con đường này – mà Daniel Sénéjoux là thành viên ban điều hành – đang nỗ lực đưa lộ trình vào mạng lưới “Đường Thánh Giacôbê”.
  3. Mọi thông tin có trên mạng: provence-alpes-cotedazur.com/que-faire/activites-nature/itineraire-marie-madeleine/

 

Chú thích

Đời sống ẩn tu – Phong cảnh Sainte-Baume mời gọi sự cô tịch của một đời sống khắc khổ. Người ta có thể hình dung các ẩn sĩ, tu sĩ hay không, sống ở đây.

Đường hành hương – Nhờ những người đi bộ ở Provence, một lộ trình dọc bờ Địa Trung Hải được đề xuất, theo dấu chân những người đã rao giảng Tin Mừng cho vùng đất này.

Hòm thánh tích – Hộp sọ của Maria Mađalêna được đặt trong một hòm thánh tích bằng vàng ấn tượng, trong hầm mộ của Vương cung thánh đường Saint-Maximin-la-Sainte-Baume, phía trên ngôi mộ của bà.

 

Bài 4 : Ghé qua Mácđala và Bêtania

Hai địa danh quen thuộc trong các sách Tin Mừng, có điểm chung là từng là nơi cư ngụ của một bà Maria. Các công trường khai quật ở miền bắc cũng như miền nam đất nước đã cung cấp nhiều hiểu biết về tình trạng của chúng vào thời Đức Kitô. Hành trình qua Galilê và Giuđê.

Làng Mácđala ở Galilê đã cho bà Maria Mácđala cái tên gọi của mình, trong tiếng Pháp là Madeleine. Vào thời ấy, Mácđala là một thị trấn chài lưới nhỏ trên bờ tây bắc hồ Tibêria. Tên tiếng Híp-ri Migdal cho biết nơi đây có một ngọn tháp hay một đồn lũy nhỏ, và trong sách Talmud ta thấy tên đầy đủ là Migdal Nunaya, nghĩa là “tháp cá”. Flavius Giôxép gọi nơi này bằng tên Hy Lạp là Tarichea, nghĩa là “nghề ướp muối”, cách thông dụng nhất để bảo quản pho mát, thịt và các loại thực phẩm tươi khác. Ta biết rằng con đường Via Maris chạy ngang gần đó, sau chỗ rẽ nhánh từ Mơghitđô về phía Golan và Đamát. Trục giao thông lớn này cho phép buôn bán cá Phêrô, cá rô phi, cá chép râu và các loại cá dồi dào ở khu vực này của hồ, dưới dạng tươi hoặc đã ướp muối. Các nhà khảo cổ dòng Phanxicô Virgilio Corbo và Stanislao Loffreda đã khai quật khu đất mà Hạt Dòng Thánh Địa mua từ năm 1889, trong khoảng từ 1970 đến 1980. Họ đã làm lộ ra ngọn tháp đặt tên cho địa danh, một hội đường, những ngôi nhà có sàn khảm, một quảng trường và các nhà tắm công cộng. Sau đó, Stefano di Luca đã nối được trục cardo, con đường chính bắc–nam của thành, với Via Maris. Hiện nay, các tu sĩ Dòng Đạo binh Chúa Kitô đang tiếp tục công việc khảo cổ. Tất cả các công trình được khai quật đều bằng đá bazan đen, giống như ở Capharnaum. Một hội đường thế kỷ I, nghĩa là cùng thời với Đức Giêsu, đã được phát hiện dưới bãi biển hiện nay. Thật vậy, ta biết rằng mực nước hồ đã thường xuyên thay đổi.

Maria

Chúng ta hãy hướng về nhân vật nổi tiếng nhất của Mácđala, một bà Maria – cái tên cực kỳ phổ biến – người mà theo cả bốn sách Tin Mừng là quê ở đây.

Mt 27,61: “Còn bà Maria Mácđala và một bà Maria khác thì ở lại đó, ngồi đối diện với mộ”; 28,1: “Sau ngày sabát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mácđala và một bà Maria khác đi viếng mộ”. Hai câu này gần như được lặp lại y hệt trong Mc 15,40.47: “Bà Maria Mácđala và bà Maria mẹ ông Giôxết để ý xem người ta đặt Người ở đâu”; 16,1: “Qua ngày sabát, bà Maria Mácđala, bà Maria mẹ ông Giacôbê và bà Salômê mua dầu thơm để đi ướp xác Đức Giêsu, và các bà ra mộ khi mặt trời đã mọc.”

Lc 8,2: “Bà Maria gọi là Mácđala, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ” được Luca nhắc đến lần đầu trong giai đoạn sứ vụ của Đức Kitô tại Galilê, trong số các phụ nữ đi theo Đức Giêsu và lấy của cải mình giúp đỡ Người và Nhóm Mười Hai, để nuôi sống cộng đoàn nhỏ bé lưu động này; Lc 24,10 cũng nhắc đến bà Maria Mácđala khi trở về từ mộ.

Tin Mừng Gioan thêm: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala” (Ga 19,25). Và trong chương cuối, chính bà là người đầu tiên đến mộ (20,1-2), và sau khi buồn khổ vì không tìm thấy thi thể Chúa mình trong mộ, bà đã trò chuyện với một người mà bà tưởng là người làm vườn ở đó… nơi mà Gioan đã cẩn thận mô tả là một khu vườn (20,11-18).

Ta không thể biết người phụ nữ này đã gia nhập nhóm môn đệ của Đức Giêsu từ khi nào, có lẽ là từ thời Người rao giảng lưu động khắp miền bắc. Điều mà dù sao đi nữa mọi người đều khẳng định là bà là tông đồ đầu tiên, một người loan báo Tin Mừng thực thụ, vì là người đầu tiên đến ngôi mộ và thấy mộ trống, bà đã đi báo tin ấy, khiến nhóm Mười Một sửng sốt.

Bêtania

Tại Giuđê, trên sườn phía đông của núi Ô-liu, Đức Giêsu đã lập một nơi trú chân để vừa ở gần vừa giữ khoảng cách với Giêrusalem. Từ ngôi làng này, đặc biệt dễ dàng đi về phía đông, hướng Giêrikhô và các ngọn đồi của sa mạc Giuđa, để lánh riêng hoặc thậm chí biến mất. Sau khi cho Ladarô sống lại, Người sẽ đến ở một thời gian trong vùng Épraim (Ga 11,53-54). Nếu Đức Giêsu có bạn hữu ở đó, ấy là vì Người đã đến nhiều lần: ông Simôn Cùi (Mc 14,3), Ladarô và hai chị em của anh, đó là những người được nêu tên. Họ là những người đáng tin cậy, và Người cần họ để nghỉ ngơi khỏi sự sôi sục nguy hiểm của Thành Thánh. Tại nhà ông Simôn, Người đang dùng bữa thì một người phụ nữ vô danh đổ lên đầu Người cả bình dầu thơm quý giá. Chuyện tiền bạc được đặt ra: dầu cam tùng nguyên chất được ước tính đến 300 quan tiền. Giuđa sẽ bán thầy mình với giá thấp hơn mười lần.

Maria, nhưng cũng còn Ladarô

Tại nhà Ladarô, Maria và Mácta, đã diễn ra một vài sự kiện, đặc biệt là việc Ladarô được cho chỗi dậy sau bốn ngày nằm trong cõi chết (Ga 11,1-44) và cuộc trò chuyện với hai chị em (Lc 10,38-42). Tuy nhiên, nếu theo trình tự thời gian, thì thời điểm này nên được đặt ở vùng Hạ Galilê hoặc Samari, nơi Đức Giêsu đi ngang qua khi Người “nhất quyết” lên đường đi Giêrusalem (Lc 9,51). Ngôi làng Bêtania mở rộng ở đây một phần đã mang tên El Azariyeh, tên tiếng Ả Rập của chữ “Lazarion” trong tiếng Hy Lạp, vì con người Ladarô đã in đậm trong tâm trí các Kitô hữu cũng như người Hồi giáo.

Cũng có thể dụ ngôn duy nhất trong toàn bộ Tân Ước có tên riêng của một người là một cách ám chỉ kín đáo chính Ladarô này. Thật vậy, sau một loạt dụ ngôn, gồm các dụ ngôn về lòng thương xót (Lc 15) và những dụ ngôn khác liên quan đến tương quan với tiền bạc (Lc 16,1-13), là dụ ngôn “người giàu có và anh Ladarô nghèo khó” (Lc 16,19-30). Anh Ladarô nằm đói khát bên cổng, còn người giàu “mặc vải gai mịn” thì yến tiệc trong nhà; ông ta có năm anh em. Trong gia tộc tư tế nắm quyền những năm đầu thế kỷ, ông Khanan, thượng tế từ năm 6 đến năm 15, có năm người con trai: Êlêazar, thượng tế năm 16 và 17; Giônathan năm 37; Thêôphilô năm 38; Mátthia từ năm 41 đến 44; Khanan năm 62; và một người con rể là Caipha, nổi tiếng nhất, giữ chức vụ từ năm 18 đến năm 37, nghĩa là suốt cuộc đời trưởng thành của Đức Giêsu. Sự thâu tóm quyền lực trong gia tộc này có thể cho ta một chìa khóa để đọc dụ ngôn của Luca, vì vải gai là loại sợi dành riêng cho các tư tế. Người nghèo “nằm ở cổng” giống như làng Bêtania đối diện Giêrusalem. Có những người được về “trong lòng ông Ápraham”, và có những người không tin vào sự Phục Sinh, như được nhắc đến (Mt 22,23 và Lc 16,30) về trường hợp phái Xađốc, giai cấp tư tế.

Và một ngôi mộ

Khu vực này nay đã được xây dựng kín đặc, nên phải đi qua những con hẻm nhỏ để đến khu đất của dòng Phanxicô tại El Azariyeh, nơi truyền thống về ngôi mộ Ladarô được duy trì từ thế kỷ IV. Các nhà khảo cổ đã xác định bốn tầng nhà thờ gần như chồng lên nhau, hai thời Byzantine và hai thời Thập Tự Chinh. Nữ khách hành hương Egeria ghi nhận vào năm 384 rằng nhà thờ quá nhỏ để chứa đám đông tín hữu. Năm 390, thánh Giêrônimô nhắc đến một nhà thờ lớn hơn, mà tám thế kỷ sau, quân Thập Tự Chinh đã gia cố bằng các trụ đỡ cuốn. Năm 1138, nữ hoàng Melisende lập một tu viện gần các ngôi mộ được đục trong đá – loại mộ như ta thấy ở Giêrusalem và những nơi khác trong xứ – và xây tại đó một nhà nguyện. Mãi đến năm 1954, các tu sĩ Phanxicô, chủ sở hữu nơi này, mới cho xây ngôi nhà thờ mà ngày nay người ta có thể đến cầu nguyện.

Một phần bức tường đầu tiên, từ thế kỷ IV, vẫn còn thấy được trong sân. Một số mảng sàn khảm hiện ra, đã chịu đựng được các trận động đất và nhiều lần thay đổi kiến trúc. Bởi lẽ, ngoài những lần mở rộng do người Latinh rồi người Hy Lạp thực hiện, còn có thêm một đền thờ Hồi giáo cho người Hồi giáo, những người cũng rất tôn kính Ladarô. Toàn bộ khu vực này, ban đầu là nơi cư ngụ của một thị tộc thuộc chi tộc Benjamin (Nkm 11,32), rồi được dùng làm mỏ đá vì chất lượng đá tốt, nên rất phức tạp để giải đọc về mặt khảo cổ. Nhưng không phức tạp đối với khách tham quan: người ta bước vào một nhà thờ hiện đại có bình đồ đơn giản: một gian giữa với cung thánh hình bán nguyệt, hai gian bên có đầu hồi phẳng. Nhà thờ quay về hướng đông, và ngôi mộ, nơi Đức Giêsu đã cho bạn mình ra khỏi, nằm ở phía đối diện, về phía tây, nơi mặt trời lặn.

Mácđala và Bêtania chỉ được nối kết với nhau bởi sự hiện diện thân tình của Đức Giêsu. Bên bờ hồ Ghennêxarét, Người đã kêu gọi những người nam và nữ đi theo Người. Từ những người thân cận nhất trong số những người đã theo Người lâu dài, Người lập nhóm các tông đồ, và tất cả những vị ấy đã hiến mạng sống vì Người. Tại Giuđê, Người đã biết tạo nên một mạng lưới nhỏ những người trung tín, những người sẽ trở thành thành viên của cộng đoàn Giêrusalem tiên khởi: các bạn hữu ở Bêtania, một chủ nhà kín đáo ở Giêrusalem và một vài gia đình. Đó là hai nơi giúp ta hiểu cách Đức Giêsu vun đắp các mối tương quan, và cách chúng ta ngày nay có thể bước vào tình bạn ấy.

Claire Burkel, giảng viên Trường Cathédrale – Paris

(Terre Sainte Magazine, mục “Hãy đến mà xem”, tháng 7–8/2023, tr. 6–9)

Bài viết khác