CHƯƠNG VI
PHÚC ÂM CHO MỘT THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG (năm 65-90 sau Đức Kitô)
Các thánh thư hay các bài giảng thuyết được viết vào cuối thế kỷ thứ nhất cho phép trình bày giáo thuyết kitô giáo, và khuyến dụ các kitô hữu sống phù hợp với giáo lý đó. Nhưng nếu Đức Giêsu sống hôm nay, Ngài sẽ làm gì? Ngài sẽ nói gì? Nhờ các hạnh tích, nhờ các tuyển tập lời của Ngài lưu truyền từ lâu đời, người ta được biết Ngài đã làm gì, và xưa Ngài đã nói gì. Nhưng ngày nay, làm thế nào Ngài giúp các môn đệ Ngài chế ngự được hoàn cảnh đau đớn đang làm cho họ xao xuyến đến thế?
Phức âm của Đức Giêsu Kitô
Chính lúc đó, một tác giả - không còn biết tên là ai - có một ý tưởng kỳ tài đặt bút viết ra, lần đầu tiên, sứ điệp ông gọi là Phúc âm Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa (Máccô 1,1). Danh từ Phúc âm thật phù hợp với ý nghĩa tiếng Hy lạp, tin mừng về ơn cứu độ Thiên Chúa đã quyết định ban tặng cho con người trong khi phái Đức Giêsu Kitô đến giữa họ, và rao giảng tin mừng này qua các Thánh tông đồ (xem thư gửi giáo đoàn Rôma 1,1.16). Nhưng cho tới bấy giờ, người ta đã chú ý rút ra những kết quả từ việc Đức Chúa Giêsu đến nhiều hơn là để cho chính Ngài nói. Đối với Thánh Phaolô, thì điều đó đúng. Thánh Phaolô có thể nói không bao giờ kể ra những lời của Chúa Giêsu.
Nếu người ta thử làm, thì sao? Chính vì vậy mà tác giả chúng ta cố gắng thu thập tất cả tài liệu có sẵn, bắt đầu viết truyện sử của Đức Giêsu kể từ Gioan Tẩy Giả cho đến ngày Phục sinh. Và sau ông, còn có nhiều tác giả khác.
Rao giảng tin mừng đích thực
Nhưng phải coi chừng! Rao giảng tin mừng thực ra không phải chỉ kể lại những gì Chúa Giêsu đã làm và đã nói. Trong khi bận tâm loan báo tin mừng Đức Giêsu Kitô cho những phần tử cộng đoàn của họ, lo giáo huấn họ và trả lời những câu hỏi của họ, các tác giả đều thâm tín không gì tốt hơn là để cho Đức Giêsu Kitô nói lời của Ngài.
Điều họ chú ý nhất, không phải những gì Chúa Giêsu đã làm và đã nối theo tính cách lịch sừ, nhưng giá trị hiện đại của những hành động và lời nói của Ngài. Do đó, điểm hoàn toàn độc đáo của những sách này (từ trung tuần thế kỷ thứ II được gọi bằng danh từ "Phúc âm") là để chính Chúa Giêsu - Đức Giêsu phục sinh - là Chúa ) giảng cho người Kitô hữu sống vào cuối thế kỷ thứ nhất này.
Vì thế, mỗi một tác giả phúc âm, khi viết cuốn sách của mình, dùng trọn vẹn những dử kiện cổ truyền, nhưng đồng thời, bằng cách xếp đặt riêng, diễn tả với niềm thâm tín, những điều Chúa Giêsu muốn nói ngày hôm nay. Sự dị biệt người ta nhận thấy giữa các Phúc âm không phải một chuyện tinh cờ, nhưng bởi vì chính những sự dị biệt đó, diễn tả tư tưỏng sâu xa của tác giả. Không một cuốn sách Phúc âm nào đã được tác giả ký tên. Mátthêu, Danh hiệu Mátthêu, Máccô, Luca, Gioan từ thế kỷ thứ 2 mới được thêm vào, phù hợp với cách cổ truyền dành những cuốn sách đó cho những người có thế giá mọi người đều công nhận.
Máccô, đức tin luôn gặp khó khăn
Cuốn Phúc âm đầu tiên, mở đường cho loại tác phẩm mới và độc đáo này chính là Phúc âm Thánh Máccô. Ông đã soạn thảo có lẽ tại Rôma sau cuộc bách hại của Nêron vào năm 64, và được tái bản ngay sau khi Đền Thánh Giêrusalem bị phá vào năm 70, trong đó nói dịu đi tất cả những gì có thể ám chỉ chống lại Rôma. Máccô đã dùng những bản văn khác nhau từ những người xung quanh Phêrô và dường như một số những bản văn đó, đã được thành hình và lưu hành rồi.
Máccô đại khái mong ước làm sao cho độc giả được tham dự vào khởi đâu Phúc âm (Máccô 1,1). Nói một cách khác, đối với một độc giả, tuy có đức tin, và tuy là thành phần cộng đoàn kitô hữu, nhưng người ta nhận thấy độc giả đó vẫn còn do dự, sợ sệt, thì tác giả muốn nhắc lại Phúc âm cũng đã có những bước không tươi sáng gì hơn. Bởi vì đức tin không phải một xác tín tuyệt đối mà là một tìm kiếm kiên nhẫn về Đức Kitô, trải qua hàng ngàn khó khăn của cuộc đời. Chỉ trong chân lý trước thập giá, người ta mới có thể nhận biết Đức Giêsu chính là Con thật của Thiên Chúa giống như vị đội trưởng La Mã (Máccô 15,39), khi những hiểu lầm về Đấng Thiên sai đã thường cho các môn đệ xa với Thầy mình (Máccô 8,27-33): « Đức Giê-su và các môn đệ của Người đi tới các làng xã vùng Xê-da-rê Phi-líp-phê. Dọc đường, Người hỏi các môn đệ : “Người ta nói Thầy là ai ?” Các ông đáp : “Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó.” Người lại hỏi các ông : “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” Ông Phê-rô trả lời : “Thầy là Đấng Ki-tô.” Đức Giê-su liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người. Đức Giê-su loan báo lần thứ nhất cuộc Thương Khó và Phục Sinh. Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết : Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại. Người nói rõ điều đó, không úp mở. Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người. Nhưng khi Đức Giê-su quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người trách ông Phê-rô : “Xa-tan ! Lui lại đằng sau Thầy ! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”
Trong một thể văn khúc mắc, nhưng trực tiếp, độc giả luôn luôn được mời gọi tham dự, Máccô đã làm cho anh em minh được nghe lời của Đức Kitô trong cơn thứ thách. Phúc âm của ông là một rao giảng, rao giảng về thánh giá - người ta vẫn nói, Phúc âm của ông thực là một câu chuyện dài về cuộc khổ nạn. Khi đọc Phúc âqi của ông, người ta có cảm tưỏng đang nghe chính Đức Kitô nói, đang khám phá chính Ngài, và đang theo Ngài.
Mátthêu, hay là đức tin tác động
Thế hệ sau đó, khoảng năm 80-85, một vài nơi tại Xy-ri, có lẽ tại Antioche hoặc về phía nam một chút, đến phiên Mát-thêu viết ra một cuốn Phúc âm khác. Ông đã có trước mắt Phúc âm của Mác-cô và một số tài liệu khác. Trong đó có một tập tài liệu về các lời của Chúa Giêsu mà người ta thường gọi bằng danh từ Hy lạp là Logia "Tuyển tập Lời Chúa”: những lời này đã ảnh hưởng trên Phúc âm của ông một cách sâu xa.
Thực vậy, viễn tượng và sắc thái Phúc âm của ông khá khác biệt với Phúc âm Máccô. Con người của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa không còn là một bí mật chỉ được biểu lộ ờ trên thánh giá. Nhưng cách chung, Đức Kitô là Chúa tuyệt đinh, ngay cả gió và biển vẫn vâng lời (Mátthêu 8,27).
Nghĩa là gì? Trước hết, Chúa Giêsu là Con người, sau này sẽ đưa nhân loại ra trước tòa Thiên Chúa và đoán xét con người không phải theo lòng đạo đức của họ, mà theo sự công chính (Mátthêu 5,6.20), nghĩa là theo cách mà họ thực hành thánh ý Thiên Chúa (Mátthêu 7,21-23), chú ý tđi những người nhô bé, hèn yếu (Mátthêu 18,1-14; 25,31-46), và ngay cả tha thứ cho người thù địch của mình (Mátthêu 5,43-48): “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao ? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao y ? Vậy anh em ohãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện".
Và rồi, Chúa Giêsu đã nhận lãnh mọi quyền bính trên trời dưới đất, giao cho các môn đệ của Ngài sứ mệnh bên cạnh tất cả mọi người, dầu là người nào đi nữa (Mátthêu 28,16-20): « Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giê-su đến gần, nói với các ông : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế »
Thực vậy, để cho các cộng đoàn được lãnh nhận bổn phận giáo huấn của mình, Mátthêu đã làm cho Phúc âm của mình trở nên một thủ bản có tính cách sư phạm Kitô giáo hoàn toàn. Nếu Phúc âm Máccô, là một lời kêu gọi mọi người tin một đức tin khó khăn nhưng có thể, thì cũng vậy, Mátthêu có mục đích huấn luyện những người tín hữu thực hành đức tin của mình trong đời sống cá nhân cũng như trong xã hội.
Luca, hay là đức tin cho mọi dân tộc
Phúc âm Thánh Luca được viết ít lâu sau Phúc âm Thánh Mátthêu, vào khoảng năm 85-90, do một tín hữu thuộc văn hóa Hy lạp, có lẽ một thừa tác vụ lưu động, dựa vào một số tài liệu chính ông đã nêu ra ở trong phần nói đầu (Luca 1,1-4): như Phúc âm Thánh Máccô, tuyển tập Lời Chúa, và một số chi tiết chính ông đã tìm hiểu cẩn thận.
Đức Giêsu, đối với cặp mắt của ông, là Đấng đã được Thiên Chúa ủy quyền sai xuống để hoàn thành những lời hứa về ơn cứu độ đối với dân Ngài, như những lời tiên tri chính Ngài đã đọc trong hội đường Nazareth: (Luca 4,18-19 = Tiên Tri Isaia 61,1-2): « Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa ». Khi mọi thính giả đều im lặng, Đức Chúa Giêsu Kitô bình giảng về đoạn văn đó. Phúc âm đã kể lại một câu đầy ý nghĩa (Luca 4,21): Hôm nay, lời thánh kinh ấy được ứng nghiệm đối vối anh chị em là những người đang nghe tôi. Mọi người phản đối la ó; họ muốn giết Ngài: điềm báo trước một sứ mệnh đau đớn đang chờ đợi Đấng Thiên Sai. Sau cuộc thất bại đầu tiên đó, Đức Giêsu bắt đầu rảo qua xứ Galilê, làm chứng ơn cứu độ cho tất cả những ai trở nên môn đệ của Ngài. Ngài quyết định lên đường đi Giêrusalem, ở đó Ngài thí mạng sống mình đúng như lời Thánh kinh.
Tuy nhiên đối với Luca, lịch sử ơn cứu độ vừa được hoàn thành do sứ vụ trần thế của Chúa Giêsu, không kết thúc trọn vẹn ở thập tự giá. Việc Chúa sống lại bây giờ có nghĩa Ngài vẫn tiếp tục hoạt động trong anh em của Ngài. Bời vì mỗi khi danh Ngài được tuyên xưng và lời Ngài được công bố, thì chính Ngài đang hoạt động và đang dẫn đưa tất cả những người được ơn cứu độ, đến với cộng đoàn (Tông đồ Công vụ 2,47).
Vì thế, Luca thêm vào Phúc âm của Ngài cuốn thứ hai, cuốn sách không thể tách rời Phúc âm được, đó là sách Tông Đồ Công Vụ. Và như thế, Phúc âm trở nên bản hiến chương sứ mệnh truyền giáo phổ quát, kể từ nay, được giao phó cho những bạn đồng hành cũ của Đức Giêsu và là chứng nhân cuộc phục sinh của Ngài, chính là các thánh tông đồ (TĐCV 1,8; xem thêm Luca 24,48 tiếp theo): "Anh em sẽ nhận lấy quyền lực Thánh Thần đến trên Anh em. Và anh em sẽ là chứng tá của Ta ở Giêrusalem, trong toàn cõi Giu-đê và Xa-ma-ri, và cho đến mút cùng cõi đất".
Và như thế, việc công bố ơn cứu độ, làm chứng ơn tha thứ tội khiên, cộng đoàn tụ họp cử hành việc phụng thờ Thiên Chúa, có thể diễn ra bởi vì một ngày nào đó, sau nhiều thế kỷ, Thiên Chúa đã quyết định viếng thăm dân Ngài. Đối với Luca, sứ vụ của Đức Kitô thiết lập sứ vụ của Giáo hội. Mỗi một nét phúc âm, ngay cả định mệnh của Đức Giêsu, cuộc hành trinh tiến về Giêrusalem là gương mẫu sứ mệnh tín hữu, bắt đầu từ Giêrusalem đề nghị cho tất cả mọi ngưòi, dầu là người nào đi nữa, ơn cứu độ đó Thiên Chúa và mời gọi họ tiến vào niềm vui của Ngài.
Khi các cộng đoàn sẽ được thiết lập khắp nơi, nhất là ở trong các thành phố lớn, như kết quả của Lời Chúa được công bố đến tận cùng cõi đất, thì lúc đó cần thiết phải trang bị lại cộng đoàn những thừa tác viên có khả năng làm sống động và bảo vệ họ chống lại các tiên tri giả như Phaolô đã nói với các bậc Trưởng lão của thành Ê-phê-xô (TĐCV 20,28-32): “Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình. “Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đàn chiên. Ngay từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng. Vì vậy anh em phải canh thức, và nhớ rằng, suốt ba năm, ngày đêm tôi đã không ngừng khuyên bảo mỗi người trong anh em, lắm khi phải rơi lệ. “Giờ đây, tôi xin phó thác anh em cho Thiên Chúa và cho lời ân sủng của Người, là lời có sức xây dựng và ban cho anh em được hưởng phần gia tài cùng với tất cả những người đã được thánh hiến".
Ba phúc âm không thể thay thế nhau được
Máccô, Mátthêu và Luca, đều bận tâm đến hoàn cảnh cộng đoàn chính họ có trách nhiệm, và mỗi một người quyết định viết ra phúc âm của mình. Vậy đâu là ý hướng của họ? Họ đã làm cho đức tin của anh em mình được vững mạnh qua thử thách của giòng thời gian, bị thử thách bởi những bách hại của Do Thái và của La Mã, bởi những hành động bỉ ổi của các tiên tri giả, vì không còn là thời đại hoàng kim nửa,
Máccô tự cho mình toại nguyện khi kể lại các sự kiện và cừ chỉ của Chúa Giêsu đã làm. Nếu các độc giả của ông nhờ những nhân vật trung gian để theo Đức Giêsu trong suốt cuộc khổ nạn của Ngài, để rồi nhận biết Ngài là Con của Thiên Chúa dưới những đường nét của Đấng chịu đóng đanh mà tin vào Ngài, thì đã đủ lắm rồi. Mátthêu lo kể nhiều bài giảng của Đức Giêsu để làm cho các tín hữu hiểu biết được thánh ý Thiên Chúa. Ông thâm tín Đức Giêsu là Đấng phán xét vào thời thế mạt, chính Ngài là Đấng rao giảng đã được Thiên Chúa sai đến cho dân Ngài hầu mạc khải cho dân Ngài ý nghĩa cuối cùng của luật thánh và kêu gọi dân Ngài thực thi.
Sau cùng, Luca đã kể lại trong phúc âm của ông nhiều cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, và nhiều lần ông ngừng lại trong sách Tông Đồ Công Vụ nói về đời sống hằng ngày của những cộng đoàn đầu tiên. Ông thâm tín Chúa phục sinh sẽ tiếp tục hoạt động giữa những tín hữu của Ngài, mặc dầu có chịu thử thách bên ngoài và những cuộc khủng hoảng nội tâm. Với một nghệ thuật kể chuyện không ai sánh bằng, ông đã làm cho các lời mình kể có một quyền năng bất khả kháng Lời Thiên Chúa. Lời này không ngừng công bố cho những người tin, còn ban cho họ một quyền năng đổi mới đời sống theo gương của Đức Giêsu. Máccô, Mátthêu và Luca. Ba niềm thâm tín khác nhau, ba phương pháp, ba cách thế bổ túc cho nhau trong việc đảm nhận sứ vụ của mình là làm tôi tớ Lời Thiên Chúa (Luca 1,2) để phục vụ cộng đoàn của họ. Phúc âm của họ viết ra là chứng từ có giá trị vô song về cuộc chiến đấu đặc biệt họ đã cam nhận vì Phúc âm Đức Kitô. Mỗi một Phúc âm vẫn mãi mãi có giá trị bậc nhất không thể thay thế được, cũng như Phúc âm Thánh Gioan chúng ta sẽ bàn đến sau đây.



