Chương VII
NHỮNG CUỘC TRANH LUẬN TRONG GIA ĐÌNH
(khoảng năm 85-100 sau Đức Kỉtô)
Phúc âm thứ tư, ba thánh thư của Thánh Gioan và Sách Khải Huyền, mặc dầu có những điểm khác nhau, nhưng vẫn có quá nhiều điểm chung đến nỗi người ta không thể không nói rằng cả ba đều do cùng một nhóm cộng đoàn. Những cộng đoàn này coi nhau như thừa tự tinh thần thánh Gioan tông đồ. Người ta thường định vị trí vào miền Tiểu Á, có lẽ tại Êphêxô, vào những năm cuối cùng của vương quốc Domitien (81-96), ít lâu sau những cuộc bách hại dữ dội tàn phá trên Giáo hội. Ngoài ra, cuộc ly dị trọn vẹn giữa kitô giáo và do thái giáo - những kitô hữu, có nguồn gốc là do thái giáo đã bị loại ra khỏi các hội đường (Gioan 9,22; 12,42; 16,2) - và có lẽ cũng chưa đủ, còn phải kể đến tiên tri giả, họ chối không nhận Đức Giêsu là một người thật: những tiên tri giả này và cuộc ly dị trên đang gây xáo trộn giữa các tín hữu trong thời gian này.
1) Phúc âm Thánh Gioan
Trong thời gian này, các cộng đoàn Thánh Gioan bị lấy làm mồi cho những cuộc bách hại La Mã và Do Thái, thêm vào đó còn bị những bè phái ly giáo phản tuyên truyền. Các cộng đoàn Gioan hầu như bị nghẹt thở. Nhưng họ vẫn sống tin tưởng và đó chính là niềm tin mà tác giả phúc âm có ý viết ra trong phúc âm của người.
Một cuốn sách về dấu hiệu
Từ nhiều năm nay, người ta thường gọi tác phẩm của Thánh Gioan là cuốn sách về dấu hiệu (Gioan 2,11; 4,54; 20,30). Đức Giêsu đã được trình bày theo những đường nét của một con người huyền diệu, một cá nhân siêu phàm từ trời xuống ỏ trần gian, phép lạ của Người đã tỏ vinh quang Người (Gioan 2,11) và cho phép loài người nhận ra vinh quang đó (Gioan l,14b). Bài tựa của phúc âm dưới đề tài "Khỏi nguyên'' đã phản chiếu một quan niệm như thế (Gioan 1,1-16; xem thêm Côlôxê 1,15 tiếp theo):
Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.
Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,
và Ngôi Lời là Thiên Chúa.
Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.
Nhờ Ngôi Lời,vạn vật được tạo thành,
và không có Người,
thì chẳng có gì được tạo thành.
Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống,
và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.
Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối,
và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.
Có một người được Thiên Chúa sai đến,
tên là Gio-an.
Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng,
để mọi người nhờ ông mà tin.
Ông không phải là ánh sáng,
nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.
Ngôi Lời là ánh sáng thật,
ánh sáng đến thế gian
và chiếu soi mọi người.
Người ở giữa thế gian,
và thế gian đã nhờ Người mà có,
nhưng lại không nhận biết Người.
Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.
Họ được sinh ra, không phải do khí huyết,
cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
hoặc do ước muốn của người đàn ông,
nhưng do bởi Thiên Chúa.
Ngôi Lời đã trở nên người phàm
và cư ngụ giữa chúng ta.
Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người,
vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người,
là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.
Ông Gio-an làm chứng về Người, ông tuyên bố :
“Đây là Đấng mà tôi đã nói :
Người đến sau tôi,
nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.”
Từ nguồn sung mãn của Người,
tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.
Tác giả
Gio-an đã dùng lại cuốn sách dấu hiệu ấy, nhưng ông đã phải thay đổi viễn tượng một cách sâu xa. Các phép lạ và những cử chỉ có ý nghĩa của Đức Giêsu, theo ông, không đủ để đưa người ta đến đức tin (Gioan 2,23-25). Bời vì đức tin không gì khác là tác động, qua đó, một người đem hết cả con người mình gắn bó vào Chúa Giêsu, nhận biết Ngài là Chúa Con bởi Chúa Cha sai đến. Chỉ một mình Thánh Gioan dùng động từ" Tin kính" một cách độc đáo.
Để diễn tả rõ yêu sách Đức Tin, Gioan đã tổ chức lại những câu chuyện về dấu hiệu theo một màn ảnh cố định. Đó là câu chuyện kể về cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu và đối thoại căng thẳng thường xảy ra giữa Ngài với những người Ngài tiếp xúc và cuối cùng kết luận là Đức Giêsu kêu gọi người đối thoại nhận biết Ngài là ai và tin vào Ngài, cũng như Phúc âm nhấn mạnh cuộc bàn cãi lâu dài và đối kháng kịch liệt những người Pharisêu đã bị kích động bởi những hành động của Chúa Giêsu, nhân việc Ngài chũa lành một người mù từ thuở mới sinh (Gioan 9,35-41 ; 5,39tt ; 6,26tt…) Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?” Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !
Chưa hết! Để chống cự lại ngọn lửa hồng bách hại các Kitô hữu, việc nhìn thấy Con Thiên Chúa, ngay cả khi tin vào Ngài, vẫn không đủ, bời vì Ngài không còn hiện diện như xưa giữa các môn đệ của Ngài. Bây giờ, cần phải ỏ lại trong Ngài, đặt căn bản đời sống của minh một cách hoàn toàn ờ trên mạc khải mà Ngài đã ban từ Chúa Cha trong sứ vụ trần thế của Ngài, và không ngừng lắng nghe tiếng nói của Ngài là Phúc Âm, để tin vào Thiên Chúa và nhận nơi Ngài sự sống (Gioan 15,1-4; xem đoạn 8,31). “Thầy là cây nho thật , và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi ; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người ocắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn. Anh em được othanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em. Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy.
Và đối với những ai ở lại trong Người, tuân giữ giới răn của Người, đối với những ai yêu mến Người và yêu mến nhau như Người đã yêu mến họ đến cùng (Gioan 13,1tt; 15,12-17), Đức Giêsu hứa sẽ giữ gìn họ khỏi nghi nan, bảo vệ họ khỏi ghen ghét của loài người: Ngài sẽ khẩn cầu Chúa Cha ban cho họ Thánh Thần. Thánh Thần đối với Thánh Gioan là không ai ngoai chính Đức Kitô phục sinh, mãi mãi hiện diện bên cạnh các môn đệ Ngài; Đấng An ủi như Ngài đã gọi, Đấng Bảo Trợ, Đấng Bênh Vực vì Ngài bệnh vực họ trước những lời tố cáo mà họ là nạn nhân (Gioan 14,16.26; 16,7).
Duyệt lại lần cuối
Trong việc soạn thảo Phúc âm, chặng đường cuối cùng là thêm chương 21. Mục đích để biện minh quyền bính của Phêrô và quyền bính của môn đệ dấu yêu.
Đó là một dịp duyệt xét lại toàn bộ cuốn sách. Người viết mới này dẫn nhập vào đó một số yếu tố mà chính tác giả Gioan trước đây đã làm dịu bớt . Chẳng hạn bàn đến việc sống lại cuối cùng (Gioan 5,28-30) - trong khi Gioan đã nhấn mạnh việc gặp gỡ với Đức Giêsu là Sự Sống Lại và là Sự Sống, chính là yếu tố quyết định để nhận lãnh nơi Thiên Chúa ngay từ bây giờ một cuộc sống đời đời (Gioan 11,21 tiếp theo). Hoặc là bài diễn từ về bữa tiệc ly mà Thánh Gioan đã không nói một tí nào (xem Gioan 136 tt), và bài diễn từ mà chính ông đã chú giải theo một lí nghĩa "bí tích" (Gioan 6,53-58): Đức Giê-su nói với họ : “Thật, tôi bảo thật các ông : nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”
2) Những thánh thư của Thánh Gioan
Ba thánh thư của Thánh Gioan đặc biệt là thư thứ nhất, đều là tác phẩm của người viết phúc âm cuốn thứ tư này. Mối bận tâm của ông là làm sao cho anh em trong cộng đoàn chú ý đề phòng những tiên tri giả đang tàn phá cộng đoàn và đã gây ra cả việc ly giáo (IGioan 2,19).
Phấn đấu chống lại ly giáo
Những người ly giáo này gây ra chia rẽ vì họ từ chối không nhận Đức Kitô là người, hoặc không nhận Đức Giêsu là Đấng Ki tô (1Gioan 4,1-4):
Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin,
nhưng hãy cân nhắc các thần khí
xem có phải bởi Thiên Chúa hay không,
vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian.
Căn cứ vào điều này,
anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa :
thần khí nào tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô
là Đấng đã đến và trở nên người phàm,
thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa ;
còn thần khí nào không tuyên xưng Đức Giê-su,
thì không bởi Thiên Chúa ;
đó là thần khí của tên phản Ki-tô.
Anh em đã nghe nói là nó đang tới,
và hiện nay nó ở trong thế gian rồi.
Hỡi anh em là những người con bé nhỏ,
anh em thuộc về Thiên Chúa,
và anh em đã thắng được các ngôn sứ giả đó,
vì Đấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian
Những lời đó cho chúng ta thấy rằng những người thuộc phái ly giáo này đã là những thành phần của cộng đoàn, mà vì từ chối nên họ vẫn còn lệ thuộc vào cách thức mà Sách các dấu hiệu đã trình bày về Đức Giêsu như một vị Thần đã sống ờ thế gian. Sau khi họ làm inh ỏi từ bỏ cộng đoàn, họ lại hoạt động để lôi kéo theo phe phái của họ những anh chị em khác. Chính vì muốn chống lại việc tuyên truyền nguy hiểm của họ mà ba thánh thư này đã được viết ra. Chúng ta không được biết màn thảm kịch ấy đã phát xuất như thế nào.
Chúng ta chỉ biết rằng Thánh Gioan hết sức khuyến dụ các thành phần cộng đoàn không nên để mình bị lôi cuốn theo, mà phải chế ngự cuộc tranh chấp đó bằng chính tình yêu thương. Theo như đoạn văn sau đây (IGioan 2,3- 10):
Căn cứ vào điều này,
chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa :
đó là chúng ta tuân giữ các điều răn của Người.
Ai nói rằng mình biết Người
mà khôngtuân giữ các điều răn của Người,
đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở nơi người ấy.
Còn hễ ai giữ lời Người dạy,
nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thật sự nên hoàn hảo .
Căn cứ vào đó, chúng ta biết được mình đang ở trong Thiên Chúa.
Ai nói rằng mình ở lại trong Người,
thì phải đi trên con đường Đức Giê-su đã đi.
Anh em thân mến, đây không phải là một điều răn mới
tôi viết cho anh em, nhưng là một điều răn cũ
mà anh em đã có ngay từ lúc khởi đầu.
Điều răn cũ ấy là lời mà anh em đã nghe.
Nhưng đó cũng là một điều răn mới
tôi viết cho anh em, –điều ấy thật là thế
nơi Đức Giê-su và nơi anh em–,
bởi vì bóng tối đang qua đi và ánh sáng thật đã tỏ rạng.
Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng
mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối.
Ai yêu thương anh em mình thì ở lại trong ánh sáng,
và nơi người ấy không có gì nên cớ vấp phạm.
3) Sách Khải Huyền
Cuộc tranh luận lại càng nặng nề thêm, vì hoàn cảnh bi đát gây ra do các cuộc bách hại thời Do-mi-xiên kéo các tín hữu đi theo, đức tin khủng hoảng, niềm hy vọng khủng hoảng . Lúc đó, Đế quốc lại hăng say chống lại Giáo hội thậm chí muốn triệt tiêu cả Giáo hội, tại sao Chúa lại không can thiệp ?
Các cuộc bách hại của An-ti-ô-kus E-pi-phan chống lại đạo do thái, vào thế kỷ thứ 2 trƯớc Ki-tô đã làm phục sinh tất cả một nền văn chương khải huyền (mạc khải về những điềm lạ trong tương lai)nghĩa là mạc khải vđi mục đích củng cố niềm tin các tín hữu bằng cách nhắc lại cho họ thấy quyền năng và sự khải hoàn của Thiên Chúa., bằng các diện kiến và những hĩnh ảnh tượng trưng. Trong những thời rối loạn theo sau đó, các sách khải huyền chẳng những đã tiếp tục nỏ hoa giữa người Do thái mà còn giữa người kitô hữu nữa; các thánh thư (ICôrintô 15,22 tiếp theo; 1Timôthê 4,13-5,5; 3Timôthê ) và các phúc âm nhất lãm (Mátthêu 24; Máccô 13; Luca 21) đã cho chúng ta một vài thí dụ.
Được huấn luyện trong biến cố khải hoàn của Đức Kitô
Các môi trường của Thánh Gioan cũng không thoát khỏi làn sóng văn chương khải huyền. Cũng như đa số các sách Tân Ước , Sách Khải Huyền của Thánh Gioan chắc chắn đã không chi do một tác giả biên soạn. Người ta phân biệt trong đó có bài nói đầu (Khải huyền 1,1-8) và bài kết luận (Khải huyền 22,6-21), hai phân chính không bằng nhau: một phần là khải huyền chính thức gồm một phần lớn tác phẩm (Khải huyền 4,1-22,5), và bảy Thư gửi cho các Giáo hội, trong đó vang lên tiếng kêu gọi hãy phó thác vào Đức Ki-tô và hãy trung thành với Ngài (Khải huyền 1,9-3,22). Như đoạn văn sau đây (Khải huyền 3,10-11): Vì ngươi đã giữ lời Ta dạy phải kiên nhẫn chịu đựng, nên Ta cũng giữ gìn ngươi cho khỏi giờ othử thách sắp xảy đến trên toàn cõi địa cầu, để thử thách những người sống trên mặt đất. Chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến ; cái gì ngươi đang có, hãy nắm chắc, đừng để ai lấy mất triều thiên dành cho ngươi.
Lúc này, những cuộc bách hại dã man do hoàng đế ban ra đang hoành hành dữ dội. Dầu vậy, Đức Kitô vẫn chiến thắng, Vương quốc Ngài đã được đăng quang. Trong khi một số người, bị những quyền lực tôn thờ ngẫu tượng mê hoặc sẽ cùng với ma quĩ đi đến chỗ diệt vong, còn các tín hữu, chính họ sẽ được liên kết với cuộc khải hoàn của Đức Kitô, và làm thành một dân mới của Thiên Chúa.
Vì không bao lâu nữa, Roma, kinh thành đã bán thân mình cho thần ngoại, sẽ bị chiến bại, và tiệc cưới Con Chiên ngự trên ngai, Đức Kitô, cùng với hiền thê của Ngài là Giáo hội mà các thành phần vẫn trung thành trong cuộc lầm than đau khổ (Khải huyền 19,1-9) sẽ được cử hành long trọng :
Sau đó, tôi nghe như có tiếng hô lớn của đoàn người đông đảo ở trên trời vang lên :
“Ha-lê-lui-a !
Thiên Chúa ta thờ là Đấng Cứu Độ,
Đấng vinh hiển uy quyền x !
Những lời Người phán quyết
đều chân thật công minh !
Vì Người đã xét xử Con Điếm khét tiếng
từng dùng chuyện gian dâm
mà làm cho mặt đất ra hư hỏng,
và Người đã bắt nó
phải đền nợ máu các tôi tớ của Người
mà chính tay nó đã giết.”
Lần thứ hai họ lại hô : “Ha-lê-lui-a ! Khói lửa thiêu nó cứ bốc lên đời đời kiếp kiếp !” Bấy giờ, hai mươi bốn vị Kỳ Mục và bốn Con Vật phủ phục xuống thờ lạy Thiên Chúa, Đấng ngự trên ngai, mà tung hô : “A-men ! Ha-lê-lui-a !”
Rồi từ ngai có tiếng phát ra :
“Nào ca ngợi Thiên Chúa chúng ta,
hỡi tất cả tôi trung của Chúa,
hỡi những ai lớn nhỏ
hằng kính sợ Người !”
Tôi lại nghe như có tiếng hô của đoàn người đông đảo, nghe như tiếng nước lũ, như tiếng sấm vang dữ dội :
“Ha-lê-lui-a !
Đức Chúa là Thiên Chúa Toàn Năng
đã lên ngôi hiển trị.
Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ
dâng Chúa lời tôn vinh,
vì nay đã tới ngày
cử hành hôn lễ Con Chiên,
và Hiền Thê của Người
đã trang điểm sẵn sàng,
nàng đã được mặc áo vải gai
sáng chói và tinh tuyền.”
Vải gai đây chỉ những việc lành của dân thánh.Thiên thần bảo tôi : “Hãy viết : Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên !” Người lại bảo tôi : “Đó là những lời chân thật của chính Thiên Chúa.”
Mỗi Phúc âm phục vụ khác nhau
Tất cả đều cho biết, cả 5 tác phẩm đều phát xuất từ một môi trường nhưng đã ra đời cách nhau một vài năm. Phúc âm Thánh Gioan, ba thánh thư và sách Khải huyền, từ giọng văn đến tư tường cũng rất khác nhau. Điều đó phản ảnh nhiều chiến tuyến khác nhau Giáo hội phải đương đầu chiến đấu, và đồng thời phản ảnh sự phong phú về các phương tiện mà Giáo hội đã dùng.
Thực vậy, đó là một diệu kỳ, tất cả những gì chứa đựng trong sách thánh. Sự khác biệt lđn lao giữa nhau, nói lên thiên tài riêng biệt của từng tác giả, và hoàn cảnh khác nhau mà các sách ấy được phát sinh. Hơn thế nữa, sự dị biệt còn là hậu quả của việc Thiên Chúa đã chọn để can thiệp vào trong những hoàn cảnh sống khác nhau nhất của con người.
Chương VIII
Kinh thánh
Cứ như thế, các tác phẩm tuần tự nhau theo giòng lịch sử, tùy theo từng hoàn cảnh mà xuất hiện. Một số tác phẩm có thể văn, giọng điệu và ý nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, những tác phẩm ấy vẫn chưa thành Kinh Thánh.
Làm sao các sách ấy lại được thu thập thành một tác phẩm duy nhất dưới cùng một đề tựa là Thánh kinh ? Làm thế nào có thể gom góp các tác phẩm khác nhau ấy thành một tác phẩm kết cấu mạch lạc với nhau ? nhất là khi công trình sáng tác trải qua nhiều thế hệ và kéo dài cả ngàn năm? Nói cách khác, làm thế nào và tại sao các sách ấy lại làm thành một bộ Thánh kinh?
Danh từ Kinh, trong tiếng Do thái, có nghĩa là mực thước để đo lường, áp dụng vào Thánh kinh, kinh có ý nhĩa như là một quy luật Đức tin, được công nhận có giá trị. Tuy nhiên phải một thời gian lâu Thánh kinh mơi đạt ý nghĩa đó. Ngoài ra, còn phải phân biệt lịch sứ thành hình Cựu Ước và Tân Ứớc.
Kinh bộ Cựu ước
Vào năm 398 trước Đức Kitô, Ét-ra xác định sách Torah gồm 5 cuốn đầu tiên, gọi là Ngủ Thư.
Cùng thời đại, bân văn của các Tiên Tri và của môn đệ các Ngài, dần dần thu thập lại thành từng tuyển tập khác nhau, không theo thứ tự thời gian sáng tác, nhưng theo các đề tài giống nhau, ba đại tiên tri Isaia, Giêrêmia, Êdêkien, đã được đặt lên hàng đầu
Phần thứ ba, các sách viết khác, thu thập từ các sách thuộc Do thái giáo. Những sách viết này đôi khi được gọi bằng danh từ Thánh Vịnh (xem Luca 24,44)
Danh sách Cựu Ước được xác định chính thức khoảng năm 90-100 sau Đức Giêsu, sau khi Thành thánh Giêrusalem vừa bị phá vào năm 70, khi các ngôn sứ thuộc về phái pha-ri-siêu tị nạn tại Giam-nia gần Giáp-pha, quyết định canh tân Do thái giáo. Danh sách ấy chỉ gồm những cuốn được viết bằng tiếng do thái và đối với phái Do-thái- giáo khắc nghiệt, chi những sách ấy mới đáng tin cậy.
Những sách viết về sau và ngày nay, chỉ còn một số bản rời rạc và chỉ hiện diện trong bản dịch bằng tiếng hy lạp bản Thánh kinh Bảy mươi, đối với họ, chỉ được gọi là những sách đệ nhị kinh bộ, nghĩa là được thành kinh bộ vào đợt hai, trở thành kinh thứ yếu và không có thể giá bằng.
Đối với những người Do Thái Á Châu, bản kinh thánh Bảy Mươi, mất tầm mức quan trọng từ thế kỷ thứ hai. Trước hết, bởi vì những người kitô hữu, dùng bản kinh thánh này để tự biện hộ và người ta không muốn lệ thuộc vào những người Ki-tô hữu đó, sau nữa là bời vì kinh bộ Giam-ni-a chê bỏ, sau hết là vì khoa chú giải của các luật sĩ Do thái dựa theo từng chữ của văn bản do thái mà họ cho là bản duy nhất được linh ứng, họ không tin tường vào bản dịch.
Đối với các cộng đoàn ki-tô-hữu vẫn tiếp xúc với những người Do Thái tại xứ Palestine mà trung tâm là Antioche. thì đương nhiên chọn kinh bộ do thái và gọi là kinh bộ thành An-ti-ôc. Ngược lại, những cộng đoàn sống trong thế giới Hy lạp đặc biệt là tại A-léc-xan-ri, họ dùng bản dịch Hy lạp của bản Kinh Thánh Bảy Mươi thì dĩ nhiên họ nhìn nhận bản kinh thánh này như luật lệ đức tin, đó là Kinh Bộ của Thành A-lec-xan-ri. Các Giáo hội Tây phương, từ năm 382, lấy lại kinh bộ đã được Thánh Giêrônimô thừa nhận cho sách Cựu Ước trong bản dịch bằng La ngữ của Ngài, gọi là bản Phổ thông (Vulgate), là bản dùng cho dân chúng, gồm đa số các sách đệ nhị luật của bản Thánh kinh Hy lạp. Kinh bộ này được Công đồng Firenze xác nhận năm 1422, và sau đó được Công đồng Tri-den-ti-nô (Trente) chính thức công nhận vào năm 1546.
Thế kỷ thứ 16, các sách tin lành cũng thừa nhận thứ tự các sách theo Bản Phổ thông gồm cả sách đệ nhị Kinh bộ. Vào thế kỷ thứ 19, người ta bãi bỏ các sách đệ nhị Kinh bộ, nhưng vẫn duy trì thứ tự của Bản Phổ thông, như chúng ta vẫn thấy trong Thánh Kinh Segond và Synodale. Gần đây, Bản dịch Đại kết (TOB) và bản dịch bằng tiếng Pháp phổ thông lấy lại thứ tự của Thánh kinh do thái và đặt các sách đệ nhị Kinh bộ sau phần Cựu ước.
Những tuyển tập đầu tiên các văn bản ki-tô-giáo
Các thánh thư Phaolô cống hiến những tuyển tập đầu tiên các tác phẩm kitô giáo. Thật vậy, từ thuờ rất sớm, người ta đã bắt đầu sao chép những đoạn có ý nghĩa nhất, với dụng ý là những đoạn văn ấy có thể giúp ích cho nhiều cộng đoàn, những đoạn ấy sau đó được thu thập lại làm thành những bản văn dài hơn, và cứ như thế, công việc sao chép dần dần đưa đến việc thành hình bức Thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô và Thư gừi giáo đoàn Philiphê.
Công việc đã không ngừng lại đó. Năm 125, Thư thứ hai của Thánh Phêrô nói rõ về một tuyển tập các thư Thánh Phaolô được thông dụng trong cộng đoàn của Ngài (2Phêrô 3,15 tiếp theo), và Ngài còn nói có những đoạn khó hiểu, khiến dân quê không được huấn luyện dễ làm sai ý nghĩa như họ đã làm về các đoạn thánh kinh khác. "
Về các đoạn thánh kinh khác" chúng ta phải hiểu là không chỉ riêng các sách Cựu Ước mà thôi, nhưng còn có ý nói tới những bản văn khác của các Thánh Tông đồ cùng trên một bình diện giá trị như nhau. Tác giả bức thư này, hình như đã dùng một cuốn "Tân Ước " gồm có tối thiểu - một xác nhận quan trọng trong lịch sử hình thành Kinh thánh - tuyển tập các Thánh thư Phaolô (2Phêrô 3,16), Thư thứ nhất Thánh Phêrô (2Phêrô 3,1), Thánh thư Giuđa (2Phêrô 2), và một số đoạn phúc âm nhất lãm (2Phêrô 1,16-18).
Từ đầu thế kỷ thứ hai cho đến thế kỷ thứ tư, sách Tân Ước được hình thành dần dần. Hình thành bằng chân lý đối lập và chân lý thần học. Chân lý đối lập là bởi vì trên đà phát triển, Giáo hội phải xác định những qui luật đức tin chống lại các phái ly khai. Hình thành khía cạnh thần học, vì Giáo hội, dần dần đã tự nhìn nhận mình có một uy quyền đối thoại.
Còn việc tuyển tập 27 cuốn sách làm thành Tân Ước ? Chúng ta tìm hiểu một vài khía cạnh như sau.
Kinh bộ Tân Ước
Một ít lâu sau, khi đã có những thông tin gián tiếp về bức Thư thứ hai của Thánh Phêrô, như đã nói trên, Papias, giám mục Hiérapolis (Syrie), vào nửa thế kỷ thứ hai, đã tuyên bố ông thích lời sống, chứng từ đối thoại hơn là chứng từ viết. Tuy nhiên, vào thời đại ông, không những Thánh Thư mà còn có các phúc âm càng ngày càng được nhìn nhận thư Thánh kinh. Thánh Justin (Giu-ti-nô), tử đạo năm 165, đã nhấn mạnh đến uy quyền của các phúc âm, vì phúc âm được viết bởi các bạn đồng hành của Chúa Giêsu. Lần đầu tiên, một tiêu chuẩn được đem ra, tiêu chuẩn có tầm quan trọng đặc biệt, đó là tính cách tông đồ, hoặc tông đồ tính của một tác phẩm.
Bốn yếu tố quyết định vào thế kỷ thứ hai, cho việc hình thành dần dần vấn đề kinh bộ Tân Ước .
1. Trước hết là thời gian. Vì các tông đồ dần dần biến mất, Giáo hội phải xác định những gì khẩu truyền liều mình đi vào những ý nghĩa mờ tối nguy hiểm.
2. Sau đó là sự kiện các khẩu truyền địa phương phát triển và dần dần cạnh tranh nhau kịch liệt.Thêm vào đó, một kitô giáo thời đó đã tạo ra một nền văn chương mạo thư thành công, trong đó có một số phúc âm thích những điều kỳ diệu.
3. Rồi những người dân ngoại tự đặt câu hỏi về các tín hữu. Một số người xấu miệng tố cáo họ là những người ăn thịt người hoặc là phạm tội loạn luân, những người trí thức hơn thì coi họ như những người vô thần. Không có cách nào để trả lời chống lại họ tốt hơn là những điều đã viết sao ?
4. Sau cùng, các giáo phái ly khai càng ngày càng đông, và đe dọa trầm trọng : như Marcion (Mac-xi-ôn) coi Cựu Ước như đã hết thời, Ông soạn một tập lục gồm các thánh thư Phaolô và phúc âm Thánh Luca duyệt lại tất cả. Như Tatien (Ta-xiên) soạn một phúc âm tổng hợp, hoà 4 phúc âm thành một.
Để đương đầu với những lập trường đó : chống lại Mac-xi-ôn (bị khai trừ ra khỏi Giáo hội vào năm 145), người ta bảo tồn thánh kinh Cựu Ước và từ chối lối tuyển chọn quá độc đoán; chống lại Ta-xiên (cuối thế kỷ thứ hai) thì người ta từ chối việc tổng hợp 4 phúc âm với nhau, mục đích là để tôn trọng sự dị biệt về sứ điệp phúc âm và người ta chọn cả 4 phúc âm chắc chắn có nguồn gốc tông đồ : Mát-thêu và Gio-an là tông đồ, Máccô và Luca có tương quan bản thân với các thánh tông đồ, một với Phê-rô và một với Phao-lô.
Chính vì theo tiêu chuẩn tông đồ tính mà một tài liệu Rôma, có lẽ là đã có từ cuối thế kỳ thứ 2, gọi là Canon de Mu-ra-to-ri (kinh bộ của Muratori) biện minh danh sách 4 phúc âm và sách Tông đồ Công vụ của Thánh Luca.
Cũng một tiêu chuẩn ấy đem áp dụng vào việc duy trì các Thánh thư Phaolô, trong đó gồm cả những Thánh thư, được viết sau này và cùng được đặt dưới danh hiệu Thánh nhân như sách Khải huyền Thánh Gioan, nhưng đồng thời cũng để loại các Thánh thư gửi giáo đoàn Lao-di-xiên và giáo đoàn A-lec-xan-ri; theo kinh bộ Muratori, những thư ấy mạo nhận danh xưng Phaolô để ủng hộ giáo thuyết ly khai của Mac-xi-ôn. Cũng tài liệu đó thêm rằng cần phải loại bỏ tất cả những tài liệu khác không thể được nhìn nhận trong Giáo hội công giáo, bời vì không nên để vàng thau lẫn lộn.
Đầu thế kỷ thứ 3, tinh hình ổn định. Các phúc âm, các thánh thư đã có tính cách Kinh bộ. Thánh thư gửi cho người Do thái còn đặt ra một vài vấn đề: các Giáo hội Tây phương, xem tài liệu này không phải của Thánh Phaolô, và có khuynh hưđng muốn loại bỏ ra khỏi kinh bộ.
Vào thế kỷ thứ 4, sách Khải huyền bị thất sủng do các cuộc khủng hoảng người ly khai tạo nên, vì thế các nhà thần học và các giám mục đã hết sức cố gắng cho đến thế kỳ thứ 6, đưa sách này vào kinh bộ đông phương. Các thánh thư được gọi là thánh thư công giáo hoặc là phổ quát (Giacôbê, l-2Phêrô, l-2-3 Gioan, Giuđa), vẫn còn phải chờ đợi một thòi gian khá lâu dài mới được nhận làm kinh bộ.
Tại Tây phương, vấn đề kinh bộ hoàn toàn thành sự vào cuối thế kỷ thứ 4 với việc thừa nhận bản dịch Phổ thông (Vulgate) và được Công đồng Tridentinô chính thức hoá vào năm 1546.
Bên Đông phương, từ lâu vẫn có hai bản kinh bộ : một kinh bộ ngắn (không có sách Khải huyền và đôi khi chỉ có hai thánh thư công giáo là Thư thứ nhất của Thánh Phêrô và Thư thứ nhất của Thánh Gioan), và một kinh bộ dài. Việc kết thúc kinh bộ này không hề xong trước thế kỷ thứ 8 và cũng không bao giờ được xác định rõ ràng dứt khoát; mãi đến năm 1672, Thượng hội đồng Chính thống giáo tại Giêrusalem mới đưa ra một bản danh sách quyết định.
KẾT LUẬN
Thánh Kinh do lịch sử hình thành
Thánh kinh không nhưng không do từ trời mà đến, nhưng do lịch sử mà hình thành. Cũng từ trong lịch sử, Thiên Chúa kiên nhẫn chịu đựng, đã chọn Israel, kêu gọi Israel trở thành dân của Ngài, để giải phóng họ khỏi ách nô lệ, khuyến dụ họ tôn trọng luật Giao Ước . Từ lịch sử đó, vào cuối thời đại, Thiên Chúa đã chọn Đức Giêsu Kitô để kêu gọi dân của Ngài trở về với Ngài, và tất cả mọi dân tộc nhìn nhận Ngài là Chúa tể vũ trụ.
Do đó, tất cả những sách làm thành bộ Thánh kinh, đã bắt đầu bằng những bản văn của từng hoàn cảnh đặc biệt. Vào lúc mà những bản văn ấy được sáng tác, ai đã dám tường tượng rằng một ngày kia nó sẽ trờ thành Sách Thánh ?
Vi vậy, ngày nay, người ta chỉ có thể mỏ và đọc được Thánh kinh khi chú ý đến từng cuốn sách một của bộ Thánh kinh đó. Không gì tai hại và nguy hiểm cho bằng một lối đọc đại khái, một lối độc xa vời với thực tế. Mỗi một tác giả là một đứa con đẻ của thời đại ông, của quê hương và đất tổ của ông, của truyền thống ông. Dầu ông tự sáng tác một tác phẩm độc đáo riêng, hoặc ông đă làm việc trên các tài liệu do những người trước ông để lại, ông vẫn
đã diễn tả theo những xác tín, sắc thái và tính tình riêng của ông, và nhất là theo đức tin của ông, kể cả những hoài nghi của ông, theo sự ông miệt mài tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa vào một lúc và tại một địa phương nào đó.
Một căn bản chung
Tuy nhiên, người ta sẽ nói rằng việc kết thúc kinh bộ do người Pha-ri-siêu tại Giam-ni-a đối với Cựu Ước và do các công đồng giáo sĩ đối với Tân Ước , đã chẳng làm thay đổi gì bao nhiêu trong vấn đề coi Thánh kinh như một cuốn sách có thẩm quyền xác định luật lệ cuộc sống.
Đúng vậy. Nhưng chúng ta hãy nhớ lại từng hoàn cảnh khác nhau, trường hợp này cũng như trường hợp khác, nghĩa là đối với cộng đoàn do thái giáo hoặc là cộng đoàn kitô giáo, vấn đề là bảo vệ những cộng đoàn đó khỏi những sai lạc đức tin, chống lại những ô nhiễm nguy hại do các giáo thuyết sai lầm : đối với kitô giáo cũng như đối với do thái giáo, vấn đề nguy hiểm đã đến từ thế giới Hy lạp làm cho Đức Tin không còn bám rễ vào lịch sử và đẩy đưa Đức Tin vào binh diện những tư tưởng tách khỏi cuộc sống. Thiên Chúa lúc đó không là gì khác ngoài một nguyên lý phổ quát và con người chỉ cồn là một trí tuệ bị kềm toả trong vật chất mà con người chỉ mong được giải thoát.
Vấn đề Kinh bộ lúc đó là một việc làm khẩn cấp. Trong khi cản lối không cho ảnh hưởng ngoại giáo mon men vào các sách, Kinh bộ nhắm bảo toàn tính cách toàn vẹn của khẩu truyền chung. Ngoài ra, người ta còn lấy làm lạ khi các cơ quan chính thức quyết định cách xác tín như vậy. Việc một số sách bị phản đối trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước càng làm cho chúng ta ca ngợi hơn nữa việc lựa chọn dứt khoát mà các ngài đã làm với nhau.
Qua sáu mươi sáu cuốn được chọn vào hàng kinh bộ sách thánh, ta nhận thấy một duy nhất tính đặc biệt. Những cách diễn tả về Thiên Chúa, về con người, về lịch sử, về sự tuyển chọn, về Giao Ước , về dân Israel, về Giáo hội, về ơn cứu độ, về niềm hy vọng, bao nhiêu đề tài khác nhau như vậy mà vẫn đồng quy với nhau. Vì thế, từ sách này đến sách khác, mặc dầu nhiều thế kỷ cách xa nhau, mà người ta vẫn không hề có một cảm tưởng là đi từ vũ trụ này sang vũ trụ khác.
Với một trực cảm diệu kỳ, Kinh bộ đã làm cho cả cộng đoàn kitô giáo và do thái giáo có được một căn bản chung. Ngày nay, với những phương tiện khảo sát lịch sử sẵn có, ta có thể bàn cãi về những tiêu chuẩn mà cha ông chúng ta xưa đã dùng để quy định giá trị cho sách Torah - bởi vì như người ta đã nói, những sách đó đã được Môsê viết ra - quy giá trị cho các sách phúc âm, các thánh thư vì những tác phẩm ấy được các thánh tông đồ viết ra. Việc đó cũng không ăn thua gì với quyết định đã được ban bố, bỏi vì đó không phải là vấn đề. Vì không có cộng đoàn nhân loại nào, huống nữa là cộng đoàn tôn giáo, lại có thể sống được mà lại không có một căn bản được mọi người công nhận.
Trở về nguồn
Trở về nguồn là bàn đến vấn đề vừa bảo tồn một cách nào đó những mạc khải của Thiên Chúa trong thời đại sáng lập, mà vừa có thể tiếp nhận những hình thức mới của mạc khải bằng cách quy chiếu về những mạc khải cũ. Chính đó là cách thế các Truyền thống luật sĩ do thái giáo (tradition rabbinique) về sau này đã phát triển đến vô tận nhửng đề tài tiềm tàng trong thánh kinh nhằm mục đích hiện đại hoá thánh kinh. Cũng vậy, Truyền thống ki-tô giáo dựa trên những dữ kiện Thánh kinh để xây dựng các hệ thống thần học ngoạn mục và không ngừng loại trừ những phong trào thiêng liêng chi xây dựng trên một kinh nghiệm nhất thời.
Vào thế kỷ thứ 16, cuộc Cải Cách tin lành cũng dùng lại thái độ đó, khi đề ra "nguyên tắc Thánh kinh". Tin lành đã dùng nguyên tắc này như một khí giới bén nhạy để chống lại những truyền thống thời thượng và trung cổ : những gì chân chính với Đức Tin là chi những gì phù hợp với Thánh kinh. Nguyên tắc Chỉ có Thánh kỉnh (Sola Scriptura). Mọi bàn cãi tranh luận chỉ có thể dứt điểm được khi quy chiếu về Thánh kinh.
Cũng vậy, đối với mỗi kinh nghiệm và mỗi xác tín, không thể có tính cách kitô hữu được, không thể phù hợp với Thiên Chúa, càng không thể nói được là do Thiên Chúa nếu không thể minh nhiên quy chiếu về với Thánh kinh. Thời đại chúng ta, yếu tố tôn giáo phát triển thêm nhiều, càng khó khăn để xác định đâu là phải đâu là quấy, thì nguyên tắc thánh kinh lại càng trở nên một yếu tố quyết định.
Lắng nghe Lời Chúa
Chúng ta hãy trở về vấn đề Kinh bộ. Rõ ràng bổn phận của Kinh bộ là nhấn mạnh tính cách duy nhất và mạch lạc nơi chương trình của Thiên Chúa. Nhưng Kinh bộ cũng có thể nguy hiểm là làm cho Thánh kinh bị coi như là một mạc khải tách rời khỏi lịch sử là điểm mà Kinh bộ phải kịch liệt đối phó.
Khốn thay việc đó đã xảy ra nhiều lần. Mỗi một khi người ta tự cho phép lấy một câu nào đó trong Thánh kinh để biện minh cho lập trường của mình, chống lại những kẻ thù của mình theo như có lời chép trong Thánh kinh, thì người ta đã dùng Thánh kinh như một bản thống kê các chân lý trường cửu và tuyệt đối.
Sách Thánh là một toàn thể gồm những chứng từ về hành động của Thiên Chúa chứ không phải là chính Thiên Chúa. Cuộc Cải Cách Tin lành đã nhấn mạnh đến việc phân biệt đó khi họ xác nhận hai điểm: về tầm quan trọng của nguyên tác Thánh kinh. Thứ nhất, phong trào Cải Cách nói Thánh kinh không phải là Lời của Thiên Chúa, nhưng Thánh kinh làm cho chúng ta nghe Lời của Thiên Chúa như chính Đức Giêsu Kitô đã công bố. Thứ hai, để chúng ta có thể nghe được Lời đó trong Thánh kinh, thì không gì cần thiết hơn là chính chứng từ của Thánh Thân nơi nội tâm chúng ta. Giáo hội công giáo còn thêm yếu tố Thánh truyền là tiêu chuẩn xác định ý nghĩa của Thánh kinh vì Quyền Giáo huấn của Giáo hội là nơi tàng trữ sống động Lời Thiên Chúa và là Đức Tin của dân Thiên Chúa.
Vì thế, không gì nguy hại hơn đối với uy quyền của Thánh kinh là coi Thánh kinh như một cuốn sách thánh mà chân lý đã được chứa đựng trong từng chữ và từng câu. ơn linh ứng nơi từng cuốn sách Thánh kinh, thật ra là chính ơn Thiên Chúa đã kêu gọi từng tác giả khác nhau trở thành những phát ngôn viên của Ngài vào từng lúc quyết định của lịch sử. Nhưng chắc chắn là không bao giờ Lời của Thiên Chúa được tỏ bày một cách máy móc như việc sắp đặt những gì họ phải nói nhân Danh Ngài. Bằng không chúng ta phải nói gì về những bản văn - và thường là đa số - chỉ nhận được hình thức quyết định sau khi đã được dùng đi dùng lại nhiều lần, hoặc đã được sửa đổi thêm bớt , viết lại hoặc gọt dũa do công dụng trong phụng vụ, đó là chưa nói đến những giai đoạn kế tiếp nhau do các biến cố phụ thuộc khấc của khẩu truyền ?
Tính cách hiện đại của Thánh kinh
Trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau của lịch sử, người ta thử hỏi Thánh kinh là gì và nói cho cùng đâu là giá trị thực sự của Thánh kinh ? Thánh kinh, trong mọi cuốn sách và trong mọi trang, đều không ngừng nói về một Thiên Chúa duy nhất, Đấng đã mặc khải, biểu lộ minh cho Israel để làm cho Israel trở nên nhân chứng của Ngài ờ giữa các dân tộc. Và bây giờ, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho một quí tứ của dân này, đó là Đức Giê-su Na-gia-rét để mời gọi nhân loại đón nhận ơn cứu độ của Ngài.
Thánh kinh đã được nhào nặn như thế, cho đến tận cả chiều sâu, về lượng vô biên của Thiên Chúa. Vì thế, thánh kinh phong phú lạ thường. Do đó, Thánh kinh cống hiến cho mỗi một độc giả sự tự do cảm thấy mình gần gũi với một bản văn, một tác giả hoặc một phúc âm nào đó. Lịch sử cho thấy đầy dẫy những lựa chọn có tính cách chủ quan như vậy. Điều đó không có gì nguy hại, bời vì Thánh kinh thì giàu có vô biên.
Tuy nhiên, bổi vì Thánh Kinh rất giàu, Thánh kinh không để chúng ta bị đóng kín nơi những sờ thích riêng biệt, hoặc đi vào một nhu cầu tín lý độc đoán.
Sự kiện Thánh kinh phong phú luôn luôn nhắc nhỏ chúng ta hai đòi hỏi: một đàng nhận biết ngời anh em của ta có quyền suy nghĩ và sống đức tin một cách khác chúng ta, và điều đó đối với tất cả mọi Giáo hội đều đúng; đàne khác, cần đối chiếu những kinh nghiệm, những xác tín, những vấn đề của chúng ta với của họ, nói một cách đúng đắn hơn, cần có sự kiểm chứng huynh đệ giữa nhau.
Khi cuốn sách Thánh mđ sẵn trên bàn giấy, chúng ta không thể thu hẹp môi trường đức tin và càng không thể thu hẹp vấn đề vâng phục Thánh kinh. Đối với những ai tường rằng mình đã nghe hết hoặc đã hiểu hết, thì Thánh kinh sẽ làm cho họ khám phá ngay những chân trời mới lạ và nghe được tiếng mời gọi mở ra niềm hy vọng mới . Bởi vì nếu Thánh kinh không nhưng không bởi trời mà đến, - vì Thánh kinh chi được thành hình trong lịch sử, để Lời của Thiên Chúa được đến và thấu tai con người - thì giờ đây, nhờ Thánh kinh và chi nhờ Thánh kinh thôi, mà chúng ta còn có thể gặp gỡ nhau, liên hệ với nhau. Ldi Thiên Chúa luôn luôn hiện đại và không ngừng làm cho ta sửng sốt.



